Đền dựng trên một gò đất thấp ngay bên cửa Cờn, chỗ dòng Mai đổ ra biển. Đứng ở sân trước, quý vị nghe được cả hai thứ tiếng cùng lúc: tiếng sóng ngoài lạch và tiếng máy thuyền vào bến. Nghi môn hai tầng tám mái che lấy lối vào; qua nghi môn là toà ca vũ, rồi ba lớp điện nối nhau, mái thấp và cột chắc, kiểu làm của công trình gỗ phải đứng suốt đời trước gió mặn.
Trong câu quen miệng của người xứ Nghệ về bốn ngôi đền thiêng, nhất Cờn, nhị Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng, đền này đứng ở chữ đầu. Cái chỗ đứng ấy không đến từ quy mô kiến trúc mà đến từ một thứ khác: đây là đền của người đi biển, và suốt dải duyên hải Bắc Trung Bộ, nghề biển là nghề cần thần nhất.
壹Tứ Vị Thánh Nương Và Hai Cách Đọc
Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương, tức bốn vị nữ thần, dân gian còn gọi là Tứ Vị Vua Bà. Tên chữ của đền là Càn Hải Môn Từ, nghĩa là đền ở cửa Càn Hải; mỹ tự triều đình ban cho các vị là Đại Càn quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương. Bốn chữ Hán ở đầu trang là tên chữ ấy, ghi theo tư liệu chứ không chép nguyên từ hoành phi trong đền.
Việc thờ các vị không đóng lại ở Quỳnh Phương. Từ đây nó lan theo đường biển xuống Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, rồi theo người di cư vào tới Đồng Nai và vùng Sài Gòn, chỗ nào cũng lấy đền Cờn làm gốc.
Về câu nhất Cờn, nhị Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng, xin nói rõ ba ngôi còn lại để quý vị đọc trọn câu ví. Nhị Quả là đền Quả Sơn ở đất Đô Lương, tỉnh Nghệ An, thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, hoàng tử thứ tám của Lý Thái Tổ, người trông coi đất Nghệ An từ năm 1041 tới khi mất năm 1057; trang riêng cho ngôi đền này sắp có trong thư viện. Tam Bạch Mã là đền Bạch Mã ở xã Võ Liệt, thuộc huyện Thanh Chương cũ, tỉnh Nghệ An, thờ Phan Đà, dựng năm 1428, xếp hạng di tích quốc gia ngày 24 tháng 3 năm 1994. Tứ Chiêu Trưng là đền Chiêu Trưng ở tỉnh Hà Tĩnh, trên núi Long Ngâm thuộc dãy Nam Giới bên cửa Sót, thờ Chiêu Trưng Đại vương Lê Khôi. Câu ví này là một thứ tự trong tín ngưỡng dân gian, không phải bảng xếp hạng hành chính.
Theo cách tín ngưỡng này tự nói về mình, Tứ Vị Thánh Nương là nữ thần cửa sông và cửa biển: các vị cầm việc sóng gió, che chở thuyền bè, cho mùa cá và giữ cho người đi biển về được bến. Đó là chức năng rất hẹp và rất rõ, khác các vị Mẫu trong hệ Tứ Phủ vốn cầm cả một miền. Vì thế đền Cờn không phải một phủ Mẫu đủ lớp mà là đền nữ thần chuyên về biển, dù trong các điện vẫn có ban thờ theo lối Tứ Phủ.
Người đi lễ ở đây cầu những việc cụ thể của nghề: chuyến ra khơi thuận, lưới đầy, thuyền lành. Nghi thức lớn nhất trong năm là lễ cầu ngư, làm ngay trên bãi biển chứ không làm trong điện.
Giới nghiên cứu đọc nơi này theo hai lớp, và cả hai đều đáng để quý vị biết.
Lớp thứ nhất là thần tích. Chuyện kể rằng khi triều Nam Tống sụp đổ, một nhóm người trong hoàng tộc chạy ra biển rồi tuẫn tiết; thi thể ba mẹ con dạt vào cửa Cờn, dân làng vớt lên chôn cất tử tế và lập nơi thờ. Về sau vua Trần Anh Tông trên đường biển được các vị phù trợ, bèn ban sắc và tôn các vị lên hàng thánh của quốc gia, đồng thời cho tu tạo đền. Các đời sau, trong đó có Lê Thánh Tông, tiếp tục ban sắc.
Lớp thứ hai là tín ngưỡng bản địa nằm dưới thần tích ấy. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng gốc của việc thờ ở đây là một nữ thần biển của dân chài đã có trước, gắn với tục thờ cá và cá voi của ngư dân; có ý kiến nêu chữ Càn có thể bắt nguồn từ một từ cổ phương Nam nghĩa là cá, và có ý kiến gắn lớp thờ này với tín ngưỡng của người Chăm. Theo cách đọc ấy, thần tích Nam Tống là lớp phủ lên sau, và nó phủ lên vì một lý do thực dụng: chỉ một nơi thờ có thần tích rõ ràng, có tên có họ, có gốc hoàng tộc thì mới xin được sắc phong và mới bước vào hệ thần linh chính thức.
Hai cách đọc không loại nhau: cách thứ nhất cho biết đền được chép thế nào, cách thứ hai cho biết người ta thờ gì trước khi có bản chép ấy. Thư viện nêu cả hai và không chọn một.
Ba chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, đền Cờn không phải một ngôi mà là hai. Đền Cờn Trong là ngôi chính, ở làng Phương Cần bên cửa Cờn, thờ Tứ Vị Thánh Nương, tức phần nữ. Đền Cờn Ngoài cách đó khoảng một cây số về phía biển, dựng khoảng năm 1470, thờ các vị vua quan nhà Tống được nhắc trong cùng thần tích, trong đó có Đế Bính, Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu, tức phần nam. Lý do tách làm hai là lệ nam nữ bất đồng cung. Ai chỉ vào đền Cờn Trong rồi cho rằng mình đã đi đền Cờn thì mới thấy một nửa. Về chỗ đứng của đền Cờn Ngoài, nguồn cũng ghi khác nhau: có nguồn ghi trên núi Thằn Lằn, có nguồn ghi trên dãy núi Hùng Vương.
Thứ hai, Tứ Vị Thánh Nương không phải một vị Mẫu trong Tam toà. Dù nhiều điện thờ Mẫu có ban thờ các vị, đây là một hệ nữ thần riêng, chuyên về biển, có thần tích và mỹ tự riêng. Gọi gộp các vị vào hàng Mẫu là cách nói quen của người đi lễ, không phải cách phân loại của tư liệu.
Thứ ba, tên và số bốn vị không thống nhất. Một nhóm nguồn ghi bốn vị là Dương Thái hậu cùng hai công chúa và một bà nhũ mẫu, có bản nêu tên Dương Nguyệt Quả, Triệu Nguyệt Khiêu, Triệu Nguyệt Hương. Nhóm nguồn khác lại xếp cả Đế Bính và Lục Tú Phu vào bốn vị. Đây là dị bản của thần tích.
貳Các Mốc Và Chỗ Nguồn Vênh Nhau
Lịch sử của đền có một chỗ khó ngay từ đầu: mốc dựng đền mà tư liệu quen dẫn lại sớm hơn biến cố trong thần tích. Chúng tôi ghi đủ các mốc rồi nói thẳng chỗ vướng, chứ không xếp lại niên đại cho gọn mắt.
- 1235Mốc dựng đền thường được dẫnNhiều tư liệu giới thiệu ghi đền được xây năm 1235 dưới đời nhà Trần. Đây là mốc mà bảng dữ kiện của thư viện dùng.
- 1279Biến cố trong thần tíchThần tích gắn với việc triều Nam Tống sụp đổ. Các nguồn ghi năm khác nhau: có nguồn ghi 1279, có nguồn ghi 1276, có nguồn ghi 1229.
- 1312Trần Anh Tông ban sắcVua Trần Anh Tông ban sắc, tôn các vị lên hàng thánh của quốc gia với mỹ tự Đại Càn quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương, và cho tu tạo đền. Một số nguồn ghi mốc này là niên hiệu Hưng Long thứ mười chín.
- 1470Dựng đền Cờn NgoàiNgôi đền thứ hai được dựng cách đền Cờn Trong khoảng một cây số, thờ phần nam trong thần tích. Cùng khoảng này, đời Lê Thánh Tông tiếp tục ban sắc cho các vị.
- Thời LêMở rộng quy môĐền phát triển thành quy mô lớn dưới thời Lê, giai đoạn để lại phần lớn bố cục còn thấy hôm nay.
- Thời NguyễnNhiều đợt trùng tuCác đợt tu bổ thời Nguyễn khiến kiến trúc hiện còn mang lối hậu Lê pha đầu Nguyễn: mái ngói cong, chạm gỗ dày, chân tảng đá.
- 1993Xếp hạng di tích quốc giaĐền Cờn được công nhận di tích lịch sử và văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 68 ngày 29 tháng 1 năm 1993.
- 2017Lễ hội thành di sản quốc giaLễ hội đền Cờn được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, lễ đón nhận tổ chức ngày 16 tháng 2 năm 2017.
Chỗ vướng phải nói thẳng. Nếu đền dựng năm 1235 mà biến cố trong thần tích xảy ra năm 1279, thì ngôi đền đã có trước những người được thờ trong đó hơn bốn mươi năm. Ba cách hiểu đang cùng tồn tại.
Cách thứ nhất: năm 1235 là năm dựng một nơi thờ trên gò đất ấy, thờ một vị nữ thần biển bản địa, rồi sau năm 1279 nơi thờ ấy nhận thêm thần tích mới; cách hiểu này khớp với lớp đọc thứ hai nêu ở trên.
Cách thứ hai: mốc 1235 chỉ là con số được dẫn lại nhiều lần trong tư liệu phổ thông mà không có căn cứ văn bản, còn mốc đáng tin hơn là việc Trần Anh Tông cho lập đền vào đầu thế kỷ 14. Một số nguồn nói thẳng rằng đền được lập sau khi vua có giấc mộng, tức đền có sau thần tích.
Cách thứ ba: cả hai con số cùng đúng nhưng chỉ hai việc khác nhau, một là nơi thờ của làng và một là ngôi đền được triều đình tu tạo. Chúng tôi chưa tra được văn bản nào nói dứt điểm.
參Đền Cờn Trong Và Đền Cờn Ngoài
Hai ngôi đền có hai tính chất khác nhau: đền Cờn Trong là công trình gỗ nhiều lớp trên gò đất bên cửa lạch, đền Cờn Ngoài là ngôi đền trên núi, nhỏ hơn và giữ được bố cục cũ.
Đền Cờn Trong
Đi từ ngoài vào, trước hết là nghi môn hai tầng tám mái, khối cửa gây ấn tượng nhất khi nhìn từ phía đường. Qua nghi môn là toà ca vũ, nơi dành cho phần hát và diễn trong nghi lễ; nhiều tài liệu coi đây là hạng mục đẹp nhất của cả di tích, vì phần chạm gỗ ở toà này dày và kỹ hơn các toà khác. Sau toà ca vũ là ba lớp điện xếp nối nhau: hạ điện, trung điện và thượng điện, cũng gọi là chính điện.
Ba lớp điện đi theo thứ bậc thờ: lớp ngoài dành cho các vị hàng dưới, lớp trong cùng dành cho Tứ Vị Thánh Nương. Kiến trúc mang lối hậu Lê pha đầu Nguyễn, chạm khắc gỗ nhiều lớp, mái ngói cong và cột kê trên chân tảng đá. Chi tiết chân tảng đá không phải để trang trí: đền đứng sát biển, chân cột kê lên đá thì tránh được hơi ẩm mặn dưới nền.
Đền Cờn Ngoài
Cách đền Cờn Trong khoảng một cây số về phía biển, dựng khoảng năm 1470 và được ghi nhận là còn giữ bố cục cũ. Đền thờ phần nam trong thần tích, gồm các vị vua quan nhà Tống. Quy mô nhỏ hơn ngôi trong, nhưng chỗ đứng thì đắc hơn: đền nằm trên núi sát biển, từ đây nhìn ra là mặt nước mở. Quan hệ giữa hai ngôi là quan hệ trong và ngoài chứ không phải chính và phụ; người đi lễ theo lệ cũ đi cả hai, thường vào ngôi trong trước rồi ra ngôi ngoài.
Khối cửa của đền Cờn Trong, hai tầng tám mái, là hạng mục dễ nhận nhất từ bên ngoài.
Toà dành cho phần hát và diễn trong nghi lễ, được nhiều tài liệu coi là hạng mục đẹp nhất của di tích nhờ phần chạm gỗ dày và kỹ.
Hạ điện, trung điện và thượng điện xếp nối nhau theo thứ bậc thờ, Tứ Vị Thánh Nương đặt ở lớp trong cùng.
Một nguồn nêu đền còn khoảng 142 hiện vật gồm chuông đồng, bia đá, tượng đá và đồ chạm ngà; con số này chưa được nguồn khác xác nhận.
Cột gỗ kê trên chân tảng đá, một cách làm của đền vùng biển để tránh hơi ẩm mặn ăn vào chân cột.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Chỗ đất ở đây là một cửa, và đó là điều đáng đọc trước hết. Đền Cờn Trong đứng trên gò đất bên lạch Cờn, nơi dòng Mai gặp biển. Trong phép xem đất, chỗ hai dòng nước gặp nhau gọi là giao thủy, và cửa sông ra biển là dạng giao thủy mạnh nhất, vì nước ngọt gặp nước mặn, nước xuôi gặp nước triều. Người xưa coi nơi ấy là chỗ khí động chứ không phải chỗ khí tĩnh, và một vị thần cầm việc sóng gió thì phải đặt đúng vào chỗ khí động ấy mới gọi là đắc vị.
Thứ hai là gò đất. Đền không đặt trên bãi bằng mà trên một gò thấp. Ở địa hình ven biển, một gò nhô lên giữa vùng cát và nước là điểm duy nhất giữ được thế cao: vừa tránh nước dâng, vừa làm chỗ tựa cho mái đền. Trong sách vở, lối chọn ấy được xếp vào phép tìm chỗ đột khởi của đồng bằng.
Thứ ba là hướng. Đền trông ra cửa lạch và ra biển, tức có minh đường mở gần như không giới hạn. Theo lối nhìn cổ truyền, minh đường càng rộng thì nơi thờ càng đón được nhiều người, và ở đây điều ấy đúng theo nghĩa rất cụ thể: người tới lễ phần lớn là người đi biển, họ tới từ chính mặt nước trước cửa đền.
Cuối cùng là cặp trong và ngoài. Ngôi ngoài trên núi sát nước, ngôi trong trên gò bên lạch. Đọc theo phong thủy, đó là hai lớp cửa của cùng một thế đất: lớp ngoài đón, lớp trong giữ. Lệ nam nữ bất đồng cung buộc phải tách hai nơi, và việc ấy vô tình tạo ra một cấu trúc hai lớp mà nếu chỉ dựng một ngôi thì không có được.
伍Lễ Hội Tháng Giêng Và Lễ Cầu Ngư
Kỳ hội lớn nhất của đền nằm trong tháng Giêng âm lịch. Nguồn ghi khoảng ngày vênh nhau: phần lớn ghi ngày 19, 20 và 21 tháng Giêng, một số nguồn chỉ ghi ngày 20 và 21. Chúng tôi nêu cả hai cách ghi.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 19 tháng Giêng | Lễ khai quang và lễ yết cáo | Phần mở đầu của kỳ hội: làm sạch đồ thờ và trình báo với các vị trước khi vào hội. |
| Ngày 20 tháng Giêng | Lễ cầu ngư và lễ khai hội | Lễ cầu ngư làm từ sáng sớm ngay trên bãi biển Quỳnh Phương, cầu cho mùa cá và cho thuyền bè bình an. |
| Ngày 21 tháng Giêng | Lễ hợp tế | Phần tế chung, nghi thức trọng nhất của kỳ hội, tiến hành trong điện. |
| Trong kỳ hội | Rước kiệu và tục chạy ói | Rước hương án và kiệu quanh làng, kèm tục chạy ói và tung kiệu, một lệ riêng của cộng đồng ở đây. |
| Trong kỳ hội | Diễn xướng và trò dân gian | Đua thuyền rồng, hát tuồng, hát chầu văn và đánh cờ người tổ chức trong khu vực đền. |
Trong bảng trên, hạng mục đáng để ý nhất là lễ cầu ngư: nghi thức trọng của một đền nữ thần biển lại không làm trong điện mà làm ngoài bãi, mặt hướng ra nước. Đó là dấu hiệu rõ nhất cho biết nơi thờ này gắn với nghề chứ không chỉ gắn với thần tích. Cùng với tục chạy ói, lễ cầu ngư là phần khiến kỳ hội đền Cờn không lẫn với kỳ hội của ba đền còn lại trong câu ví.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Phương Cần, phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai cũ, tỉnh Nghệ An
- Đường tới
- Nằm ở làng Phương Cần, phường Quỳnh Phương, thuộc thị xã Hoàng Mai cũ, tỉnh Nghệ An, ngay bên cửa Cờn. Đền Cờn Ngoài cách đền Cờn Trong khoảng một cây số về phía biển.
- Toạ độ
- 19.2428, 105.7811
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động của một làng biển, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp điện, đi nhẹ nói khẽ ở thượng điện, không chạm vào bia đá và đồ chạm, đặt tiền vào hòm công đức. Kỳ hội tháng Giêng là lúc đông nhất trong năm, phần rước diễn ra ngoài sân và trên đường làng, xin quý vị nhường lối cho đoàn rước. Đi đền Cờn nên tính đi cả đền Cờn Ngoài.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Cờn thờ ai
Thờ Tứ Vị Thánh Nương, bốn vị nữ thần cửa sông và cửa biển, dân gian còn gọi là Tứ Vị Vua Bà, mỹ tự triều đình ban là Đại Càn quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương. Theo thần tích, các vị là người trong hoàng tộc nhà Nam Tống dạt vào cửa Cờn; giới nghiên cứu còn đọc thêm một lớp nữ thần biển bản địa nằm dưới thần tích ấy.
Đền Cờn Trong và đền Cờn Ngoài khác nhau thế nào
Đền Cờn Trong là ngôi chính ở làng Phương Cần bên cửa Cờn, thờ Tứ Vị Thánh Nương, tức phần nữ. Đền Cờn Ngoài cách đó khoảng một cây số về phía biển, dựng khoảng năm 1470, thờ các vị vua quan nhà Tống trong cùng thần tích, tức phần nam. Lý do tách làm hai là lệ nam nữ bất đồng cung.
Đền Cờn có từ năm nào
Nguồn vênh nhau. Mốc thường được dẫn là năm 1235 đời nhà Trần, nhưng biến cố trong thần tích lại được ghi vào các năm 1229, 1276 hoặc 1279, phần lớn muộn hơn mốc dựng đền. Một số nguồn cho rằng đền do Trần Anh Tông cho lập vào đầu thế kỷ 14. Thư viện nêu cả ba cách hiểu và không chọn một.
Nhất Cờn nhị Quả tam Bạch Mã tứ Chiêu Trưng là những đền nào
Bốn đền được người xứ Nghệ coi là thiêng nhất. Đền Cờn ở Quỳnh Phương thờ Tứ Vị Thánh Nương. Đền Quả Sơn ở Đô Lương thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang. Đền Bạch Mã ở xã Võ Liệt, thuộc huyện Thanh Chương cũ, thờ Phan Đà. Đền Chiêu Trưng ở Hà Tĩnh, trên núi Long Ngâm bên cửa Sót, thờ Chiêu Trưng Đại vương Lê Khôi.
Lễ hội đền Cờn vào ngày nào
Kỳ hội lớn nhất nằm trong tháng Giêng âm lịch. Phần lớn nguồn ghi ngày 19, 20 và 21 tháng Giêng, một số nguồn chỉ ghi ngày 20 và 21. Nghi thức gồm lễ khai quang, lễ yết cáo, lễ cầu ngư trên bãi biển, lễ hợp tế, rước kiệu và tục chạy ói. Lễ hội vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017.