Từ Quốc lộ 1 đoạn men chân núi, quý vị rẽ vào một lối hẹp và gặp ngay mặt nước: sông Lam ở đây rộng, phẳng và đục màu phù sa. Đền dựng trên dải đất kẹp giữa dòng sông và chân núi Ngũ Mã, lưng gần như dán vào vách núi, mặt mở thẳng ra bến. Ngoài cùng là tam quan hai tầng theo lối lưỡng long chầu nguyệt; dưới sân thấp nhất có một hồ bán nguyệt. Cây cổ thụ kín tán, khói nhang dày, và hầu như lúc nào cũng có tiếng đàn nguyệt vọng ra từ một chiếu hầu.
Người trong vùng gọi ngắn là đền Củi, theo cái bến và cái chợ củi xưa ở khúc sông này. Nhưng tên chữ ghi trên đền lại là Thánh Mẫu Linh Từ, còn giới thanh đồng khắp nước thì gọi đây là một cửa đền của Quan Hoàng Mười. Ba cái tên ấy nói ba lớp của cùng một nơi, và giữ cả ba là cách đọc đúng nhất về đền này.
壹Các Vị Được Thờ
Đền Chợ Củi thờ nhiều lớp đối tượng cùng lúc, và đó là điều cần nắm trước khi bước vào. Các nguồn về di tích đều kể ra: Tam Toà Thánh Mẫu, Ngũ Vị Tôn Ông, Quan Hoàng Mười, Chầu Mười, cùng Đức Thánh Trần tức Hưng Đạo Đại Vương; một số tài liệu còn nêu ban thờ Chiêu Trưng Đại Vương Lê Khôi. Nói cách khác, đây là cửa đền thờ trọn hệ Tứ Phủ, có thêm ban Trần Triều, chứ không phải đền thờ riêng một vị.
Theo cách tín ngưỡng này tự nói về mình, thế giới chia làm các phủ do các vị Mẫu cai quản, và dưới hàng Mẫu là các hàng thần linh xếp theo thứ bậc. Tam Toà Thánh Mẫu gồm Mẫu Liễu Hạnh coi miền trời, Mẫu Thượng Ngàn coi miền rừng núi và Mẫu Thoải coi miền sông nước. Dưới hàng Mẫu là Ngũ Vị Tôn Ông, còn gọi Ngũ Vị Tôn Quan, năm vị quan lớn mỗi vị mang một phủ và một sắc áo; dưới nữa là hàng Chầu, rồi hàng Thập Vị Quan Hoàng gồm mười vị Ông Hoàng, sau đó là hàng Cô và hàng Cậu. Quan Hoàng Mười đứng cuối hàng Ông Hoàng về thứ tự nhưng là một trong hai vị hay ngự đồng nhất; khăn áo của ngài trong giá hầu là sắc vàng, và điều người ta trình lên ngài là chuyện học hành, thi cử, chữ nghĩa, công danh.
Thân thế trần thế của Quan Hoàng Mười là chỗ các nguồn ghi khác nhau nhất, và cần nói rõ rằng đây là những thuyết riêng biệt chứ không phải các mảnh của một câu chuyện. Ở riêng đền Chợ Củi, thuyết được nhắc nhiều nhất đồng nhất ngài với Lê Khôi, danh tướng trong họ Lê Lợi thời Lê sơ, người trấn giữ đất Nghệ An và cũng là vị được thờ ở đền Chiêu Trưng trong câu nhất Cờn, nhị Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng của người xứ Nghệ. Bên cạnh đó còn thuyết Nguyễn Xí, thuyết Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, cùng lớp truyền tụng kể ngài là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình giáng trần. Không thuyết nào được coi là đã chứng minh.
Về tên gọi Chợ Củi thì nguồn cũng vênh. Cách giải thích thường gặp là tên theo địa danh: khúc sông này xưa có bến và chợ buôn củi, nên đền mang luôn tên chợ. Cách thứ hai thuộc lớp truyền tụng, gắn tên gọi với sự tích vị thánh tử vì việc chở gỗ củi về giúp dân dựng lại nhà sau bão. Chúng tôi nêu cả hai; một cách là giải thích địa danh, một cách là thần tích, và hai loại ấy không cùng hạng tư liệu.
Đây là chỗ cần nói thẳng nhất, và xin nói bằng giọng sử liệu.
Có hai ngôi đền chính cùng được coi là cửa đền của Quan Hoàng Mười. Một ngôi ở làng Xuân Am thuộc xã Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, tên chữ Mỏ Hạc Linh Từ; một ngôi là đền Chợ Củi ở Nghi Xuân thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Hai nơi nằm ở hai bờ sông Lam, cách nhau không xa, và người đi lễ theo lệ cũ thường đi cả hai trong một chuyến. Thư viện không phán nơi nào là gốc, vì chưa có tư liệu nào dứt điểm. Dưới đây là lập luận của hai phía, ghi lại chứ không xếp hạng.
Phía nghiêng về ngôi ở Nghệ An dẫn ba điểm: đền ở làng Xuân Am được tư liệu di tích ghi dựng năm 1634; đền còn giữ hai mươi mốt đạo sắc phong cùng bản thần tích chữ Hán liên quan tới Quan Hoàng Mười, tức có bằng chứng văn bản mà bên kia không có; và lễ hội của đền đã vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2019 với chính danh nghĩa lễ hội đền Ông Hoàng Mười.
Phía nghiêng về đền Chợ Củi dẫn rằng đền được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1993, sớm hơn và ở cấp cao hơn so với ngôi bên Nghệ An vốn xếp hạng cấp tỉnh năm 2002; rằng niên đại khởi dựng thuộc thời Hậu Lê; rằng đền đứng đúng khúc sông Lam mà thần tích gắn với chỗ vị thánh hóa; và rằng đây từ lâu là một trong những cửa đền đông người hầu nhất cả nước.
Chỗ chưa ai giải quyết được. Tên chữ của đền Chợ Củi là Thánh Mẫu Linh Từ, và thượng điện thờ Tam Toà Thánh Mẫu chứ không thờ Quan Hoàng Mười; từ đó có nhà nghiên cứu lập luận rằng đây trước hết là đền thờ Thánh Mẫu, còn Quan Hoàng Mười là vị được phối thờ về sau. Ở hướng ngược lại, người đi lễ và nhiều tài liệu vẫn gọi thẳng đây là đền Ông Hoàng Mười, nếp gọi ấy đã nhiều đời. Cả hai điều đều đúng về mặt sự việc. Cái chưa có là một công bố dứt điểm về việc ngôi nào có trước. Chừng nào chưa có, thư viện ghi cả hai và không đứng về bên nào. Xin đọc thêm trang đền Ông Hoàng Mười để xem nửa còn lại của câu chuyện.
貳Bên Bến Củi
Niên đại khởi dựng của đền chưa có con số. Các nguồn đều ghi chung là thời Hậu Lê, không nêu năm, và chúng tôi giữ đúng mức thận trọng ấy chứ không đoán thêm. Những gì thấy được hôm nay là kết quả của nhiều lần trùng tu nối nhau, trong đó lớp kiến trúc rõ nhất mang kiểu thức thời Nguyễn.
- Thời Hậu LêKhởi dựngCác nguồn thống nhất đền dựng vào thời Hậu Lê nhưng không nguồn nào nêu năm. Vị trí là dải đất bên bến Củi, khúc hạ nguồn sông Lam.
- Thời NguyễnĐịnh hình kiểu thức hiện cònBố cục ba lớp điện theo trục thần đạo cùng hệ chạm khắc còn thấy hôm nay mang kiểu thức thời Nguyễn, tiếp nối lớp Hậu Lê.
- 1993Di tích quốc giaĐền được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 57 ngày 18 tháng 1 năm 1993.
- 2014Đợt tu bổ lớnĐền được cho phép tu bổ và tôn tạo trong đợt này; phần lớn dáng vẻ hiện nay thuộc lớp ấy.
- 2016UNESCO ghi danh tín ngưỡng thờ MẫuNgày 1 tháng 12 năm 2016, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đền Chợ Củi là một trong những cửa đền lớn của thực hành ấy.
Một lưu ý về địa danh, để quý vị tra tư liệu cũ không bị lẫn. Đền nằm ở xã Xuân Hồng thuộc huyện Nghi Xuân cũ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau đợt sắp xếp địa giới năm 2025, cấp huyện được bỏ, nên tư liệu mới chỉ còn ghi tỉnh và tên xã, còn tư liệu cũ ghi đủ ba cấp; cả hai cách đều chỉ cùng một chỗ. Về khoảng cách, đền gần thành phố Vinh của tỉnh Nghệ An hơn là gần trung tâm tỉnh Hà Tĩnh, bởi nó nằm ngay bờ nam của khúc sông làm ranh giới hai tỉnh.
參Ba Lớp Điện Và Thứ Tự Các Cung
Đền dựng theo lối chữ tam, tức ba toà nhà song song xếp nối nhau trên một trục, gọi là trục thần đạo. Trục ấy đi từ mặt sông vào chân núi, nên càng vào trong thì càng lên cao; người đi lễ leo dần theo các bậc chứ không đi trên mặt phẳng. Đây là điểm khác rõ nhất so với các đền phủ ở đồng bằng.
Cổng ba lối đặt sát phía bờ sông, hai tầng, trang trí lối lưỡng long chầu nguyệt, cột trụ giữa cao chừng 2,85 mét. Sân thấp nhất có hồ bán nguyệt, tức hồ hình nửa vầng trăng đặt trước cửa theo lối cổ truyền.
Lớp điện ngoài cùng, nơi người lễ vào trước nhất. Các nguồn nêu ở đây có ban thờ Trần Triều, tức Hưng Đạo Đại Vương, cùng ban Ngũ Vị Tôn Ông.
Cung thờ vị chủ của cửa đền theo cách gọi dân gian, đặt trong khoảng giữa của trục. Đây là ban mà phần lớn khách hành hương tới đền để lễ.
Lớp giữa. Các nguồn nêu ở đây có cung Chầu Mười; một tài liệu khác lại mô tả trung điện đặt tượng Chiêu Trưng Đại Vương Lê Khôi ở thế ngồi. Chỗ này nguồn vênh nhau, chi tiết nêu ngay dưới đây.
Lớp trong cùng và cao nhất, thờ Tam Toà Thánh Mẫu với ba pho tượng gỗ. Đây là chỗ mọi nguồn đều thống nhất, và cũng là căn cứ cho tên chữ Thánh Mẫu Linh Từ của đền.
Hai nếp nhà nhỏ ở góc các sân ngoài, thờ hàng Cô và hàng Cậu, lớp thần linh trẻ tuổi đứng cuối hệ Tứ Phủ. Có đủ lầu Cô lầu Cậu nghĩa là đền thờ trọn hệ thống chứ không thờ riêng một hàng.
Về nội dung cụ thể của từng lớp điện, các nguồn ghi không giống nhau và chúng tôi ghi cả hai cách. Một bài về tín ngưỡng thờ Mẫu tại đền mô tả trục ba lớp là hạ điện, trung điện có cung Chầu Mười, rồi thượng điện thờ Tam Toà Thánh Mẫu, kể thêm các ban Ngũ Vị Tôn Ông, Quan Hoàng Mười, Đức Thánh Trần. Một tài liệu khác lại mô tả hạ điện đặt tượng Hưng Đạo Đại Vương ở thế ngồi, trung điện đặt tượng Chiêu Trưng Đại Vương Lê Khôi cũng ở thế ngồi, và thượng điện thờ ba pho tượng gỗ Tam Toà Thánh Mẫu.
Khoảng vênh này có thể đến từ cách gọi, vì một không gian có thể được kể theo tên toà nhà hoặc theo tên cung thờ bên trong, hoặc từ việc các lần tu bổ đã đổi chỗ một số ban; nhưng đó là suy đoán, và chúng tôi chưa tra được bản kiểm kê chính thức nào. Điều chung cho mọi nguồn chỉ có ba: trục từ ngoài vào gồm ba lớp điện, thượng điện thờ Tam Toà Thánh Mẫu, và ban Quan Hoàng Mười cùng ban Trần Triều đều có trong đền.
Một điểm về màu sắc đáng để ý khi quý vị đứng trong đền. Đỏ, vàng, trắng, xanh trên các ban thờ và trên khăn áo không bày tùy hứng mà ứng với bốn phủ trong hệ Tứ Phủ; riêng sắc vàng ở ban Quan Hoàng Mười là sắc áo của chính ngài. Nhìn màu vải và màu áo tượng, quý vị đọc được thứ tự thần linh mà không cần hỏi ai.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Thế đất ở đây thuộc loại rõ và gọn: đền lưng tựa núi Ngũ Mã, mặt hướng sông Lam, tức lối chuẩn mực gọi tựa sơn hướng thủy. Núi làm hậu chẩm, chắn phía sau để khí không tán; sông làm minh đường, khoảng trống trước mặt để khí tụ. Điều đáng nói là dải đất đền đứng rất hẹp, kẹp giữa núi và nước, nên hai yếu tố ấy không phải nhìn xa mới thấy mà ép sát ngay hai bên vai người đứng lễ.
Cái tên ngọn núi cũng thuộc phép đọc hình thế. Ngũ Mã nghĩa là năm con ngựa: người xưa nhìn dãy núi thấp phía sau đền thành năm khối nối nhau như năm con ngựa chầu về một hướng, mà thế núi chầu về một điểm thì phép cũ gọi là thế triều. Ngựa lại là con vật của việc đi lại; đặt một cửa đền ở chân thế núi ấy, ngay bên một bến sông cũ, là đặt nơi thờ vào chỗ của sự qua lại chứ không phải chỗ ẩn.
Về nước, khúc sông trước đền thuộc phần hạ nguồn, rộng và chảy chậm; nước chậm trong phép cũ được đọc là nước hữu tình, đi qua mà còn ngoái lại. Xét ngũ hành, người ta trình lên Quan Hoàng Mười những việc thuộc chữ nghĩa và khoa cử, mà Thủy trong phép xem đất vốn ứng với văn, với trí, với đường công danh; một cửa đền như vậy đặt trước một dòng nước lớn, theo lối nhìn cổ truyền là đắc vị, tức được đúng chỗ. Ba pho tượng trên thượng điện lại có Mẫu Thoải coi miền sông nước, thêm một lớp trùng khớp nữa giữa hành của đất và hành của vị được thờ.
Sau cùng là chỗ đứng trong vùng, và đây là điều thú vị nhất về thế đất của nơi này. Đền nằm ở bờ nam khúc sông làm ranh giới hai tỉnh; cách đó không xa, bên bờ bắc, là ngôi đền còn lại của cùng vị thánh. Hai cửa đền đối nhau qua một dòng nước. Đọc theo con mắt phong thủy thì đó không phải hai điểm tranh nhau mà là hai đầu của một chỗ hợp: con sông vừa là ranh vừa là mạch nối, và một vị thánh được thờ ở cả hai bờ thì thuộc về dòng sông chứ không thuộc về riêng bờ nào. Nếp đi lễ cả hai đền trong một chuyến, đi đường mà băng qua sông, chính là cách người xưa đọc thế đất ấy bằng chân của mình.
伍Lễ Tiết Và Nghi Thức Hầu Đồng
Đền có ba ngày tiệc lớn trong năm, và ba ngày ấy thuộc ba vị khác nhau, đúng như tính nhiều lớp của nơi thờ này. Ngoài ba ngày ấy, đền đông đều đặn theo mùng một, ngày rằm và dịp đầu xuân.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 3 tháng 3 | Giỗ Thánh Mẫu | Ngày tiệc của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị đứng đầu Tam Toà Thánh Mẫu được thờ trên thượng điện, có lễ dâng hương và các giá hầu. |
| Ngày 20 tháng 8 | Giỗ Đức Thánh Trần | Ngày giỗ Hưng Đạo Đại Vương, ứng với ban Trần Triều, trùng ngày giỗ của ngài tại các đền Trần khắp nước. |
| Ngày 10 tháng 10 | Giỗ Quan Hoàng Mười | Ngày được coi là ngày hóa của ngài, kỳ tiệc mà giới thanh đồng về đông nhất. Cùng ngày với chính hội của đền bên bờ bắc sông Lam. |
| Mùng 1 và ngày rằm hằng tháng | Lệ thường kỳ | Nhịp lui tới đều đặn quanh năm của người trong vùng và của các bản hội. |
| Tháng Giêng và tháng Hai | Lệ đầu xuân | Khoảng đông người nhất trong năm, nối vào lệ đi lễ đầu năm của cả vùng Nghệ Tĩnh. |
| Rải rác trong năm | Các vấn hầu | Các buổi hầu đồng do thanh đồng và bản hội tổ chức, có dàn cung văn đi kèm, thời điểm tùy từng bản hội. |
Hai thực hành gắn liền với cửa đền này là hát chầu văn và hầu đồng. Chầu văn là lối hát nghi lễ, dàn nhạc gồm đàn nguyệt, trống, phách và cảnh, lời hát kể sự tích từng vị trong hệ Tứ Phủ. Hầu đồng là nghi lễ trong đó thanh đồng lần lượt trình các giá, mỗi giá một khăn áo theo sắc của phủ, một điệu múa, một bản văn. Vì đền thờ đủ các hàng, một chiếu hầu ở đây có thể đi qua rất nhiều giá chứ không dừng ở giá Ông Mười; và chầu văn ở khúc sông này mang chất dân ca Nghệ Tĩnh khá rõ trong cách luyến.
Ngày 1 tháng 12 năm 2016, tại kỳ họp thứ mười một của Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể họp ở Addis Ababa, Ethiopia, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, và đền Chợ Củi là một trong những cửa đền lớn của thực hành ấy ở Bắc Trung Bộ. Cần nói rõ: điều được ghi danh là tập quán thực hành cùng giá trị văn hóa của nó, không phải một phán xét về niềm tin.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Bên sông Lam, xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân cũ, tỉnh Hà Tĩnh
- Đường tới
- Đền nằm bên bờ sông Lam, xã Xuân Hồng thuộc huyện Nghi Xuân cũ, tỉnh Hà Tĩnh, dưới chân núi Ngũ Mã và sát trục Quốc lộ 1. Sang đền Ông Hoàng Mười bên phía Nghệ An chỉ phải qua cầu, và lệ cũ là đi cả hai trong một chuyến.
- Toạ độ
- 18.6667, 105.7167
Đền đang thờ tự và rất đông vào ba ngày tiệc cùng dịp đầu xuân, nên lệ nhà cần giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp điện, đi nhẹ nói khẽ ở thượng điện, không đặt tiền lẻ lên tượng mà bỏ vào hòm công đức. Trục đền đi từ dưới lên, bậc hẹp và thường ẩm vì gần mặt nước, quý vị đi một chiều để khỏi vướng người khác. Gặp một vấn hầu, xin đứng ngoài phạm vi chiếu hầu và không đi cắt ngang giữa thanh đồng với ban thờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Chợ Củi thờ ai
Thờ nhiều lớp cùng lúc. Thượng điện thờ Tam Toà Thánh Mẫu gồm Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải; trong đền còn có ban Ngũ Vị Tôn Ông, cung Quan Hoàng Mười, cung Chầu Mười và ban Trần Triều thờ Hưng Đạo Đại Vương. Tên chữ của đền là Thánh Mẫu Linh Từ, còn nếp gọi dân gian là đền Ông Hoàng Mười.
Đền Chợ Củi hay đền ở Nghệ An mới là đền gốc của Quan Hoàng Mười
Chưa có tư liệu nào dứt điểm nên thư viện không phán. Phía Nghệ An dẫn niên đại 1634, hai mươi mốt đạo sắc phong và bản thần tích chữ Hán, cùng lễ hội được ghi danh di sản quốc gia năm 2019. Phía Hà Tĩnh dẫn việc đền xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1993, niên đại thời Hậu Lê, và vị trí đúng khúc sông mà thần tích gắn với chỗ vị thánh hóa.
Thứ tự các cung trong đền Chợ Củi thế nào
Đền theo lối chữ tam, ba lớp điện trên một trục đi từ bờ sông lên chân núi. Ngoài cùng là tam quan và hồ bán nguyệt, rồi hạ điện với ban Trần Triều và ban Ngũ Vị Tôn Ông, tới cung Quan Hoàng Mười, rồi trung điện, trong cùng và cao nhất là thượng điện thờ Tam Toà Thánh Mẫu. Nội dung hạ điện và trung điện thì nguồn ghi vênh nhau.
Vì sao gọi là Chợ Củi
Nguồn vênh nhau. Cách giải thích thường gặp là tên theo địa danh, vì khúc sông này xưa có bến và chợ buôn củi nên đền mang luôn tên chợ. Cách thứ hai thuộc lớp truyền tụng, gắn tên gọi với sự tích vị thánh tử vì việc chở gỗ củi giúp dân dựng lại nhà sau bão. Một cách là giải thích địa danh, một cách là thần tích.
Đền Chợ Củi có những ngày lễ nào trong năm
Ba ngày tiệc lớn, mỗi ngày thuộc một vị: mùng 3 tháng 3 âm lịch giỗ Thánh Mẫu, ngày 20 tháng 8 giỗ Đức Thánh Trần, ngày 10 tháng 10 giỗ Quan Hoàng Mười. Ngày 10 tháng 10 cũng là chính hội của đền bên bờ bắc sông Lam. Ngoài ra đền đông đều đặn theo mùng một, ngày rằm và dịp đầu xuân.