Từ phố Kim Hoa nhìn vào, quý vị thấy một nghi môn rồi một khoảng sân gạch, và ở cuối sân là chín bậc gạch vồ dẫn lên nền cao nơi đặt đại bái. Gạch vồ là loại gạch lớn màu đỏ sẫm quen thuộc của thời Lê, và chín bậc ấy là phần cổ nhất còn nguyên vị trí của cả khu di tích. Đi lên chín bậc là đi trên đúng thứ mà người thế kỷ 16 đã bước.
Bên trong, thứ đáng xem nhất không phải tượng mà là một tấm bia đá cao hơn hai mét, khắc chữ cả hai mặt. Bia mang tên Cao Sơn Đại Vương thần từ bi minh, nghĩa là bài minh trên bia ở đền thờ thần Cao Sơn Đại Vương. Đây là hiện vật quý nhất của đền, và cũng là thứ cho biết vì sao ngôi đền này có mặt.

壹Cao Sơn Đại Vương
Vị được thờ ở đây là Cao Sơn Đại Vương. Chữ cao sơn nghĩa là núi cao, và cái tên ấy đã nói ra gốc gác của vị thần: đây trước hết là một vị thần núi. Đền vì vậy còn hai tên khác là Nam Trấn Từ, tức đền trấn phương Nam, và đền Cao Sơn, gọi theo tên thần.
Theo lối thờ tự cổ truyền, Cao Sơn Đại Vương thuộc hàng nhiên thần, tức thần của tự nhiên, cụ thể là thần của núi non. Truyền thuyết về sau gắn ông vào hệ thống thần thoại dựng nước: các bản thần tích chép ông là một trong những người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ, theo mẹ lên núi, rồi thành bộ tướng thân cận của Sơn Tinh và có công giữ yên bờ cõi thời Văn Lang. Sinh nhật của thần được ghi là ngày mười sáu tháng Ba âm lịch, và đó cũng là ngày hội chính của đền cho tới nay.
Việc một vị thần núi được gắn vào phả hệ Lạc Long Quân và Âu Cơ là chuyện thường thấy trong tín ngưỡng Việt: lớp thần tự nhiên có trước, lớp phả hệ được đắp vào sau, khi các bản thần tích được biên soạn lại và sắp xếp cho có hệ thống. Hai lớp ấy cùng tồn tại trong một bản thần tích mà không loại trừ nhau.
Về cách xếp mục của thư viện: chúng tôi xếp đền Kim Liên vào mục Thờ Cúng Tổ Tiên, vì tín ngưỡng thờ thành hoàng và thờ nhiên thần là nếp thờ tự bản địa của người Việt, không có giáo chủ, không có kinh sách, không có giáo hội, nên không thuộc về một tôn giáo có tổ chức nào. Xin đừng gán Cao Sơn Đại Vương cho Đạo Giáo chỉ vì đền nằm cùng hệ tứ trấn với đền Quán Thánh; Quán Thánh là một đạo quán thờ vị thần trong hệ thần linh Đạo Giáo, còn Kim Liên thờ một vị thần núi của người Việt.
Chữ Hán ghi ở đầu trang chép theo tên gọi Kim Liên của ngôi đền, không phải chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể trong đền. Tên chữ Hán chắc chắn nhất mà nơi này còn giữ là bốn chữ đầu trên tấm bia, tức Cao Sơn Đại Vương.
Một chỗ hay gây lúng túng: nơi này khi thì được gọi là đền Kim Liên, khi thì được gọi là đình Kim Liên, và cả hai cách gọi đều không sai. Theo lối phân biệt cổ truyền, đền là nơi thờ thần, còn đình là nhà chung của làng, nơi thờ thành hoàng và cũng là nơi làng họp việc. Ở đây hai chức năng chồng lên nhau: ngôi đền thờ Cao Sơn Đại Vương do triều đình dựng, đồng thời dân làng Kim Hoa cũng lấy chính vị ấy làm thành hoàng của làng mình và lấy nơi ấy làm đình. Vì vậy tài liệu nào nhấn vào phần thờ thần thì gọi là đền, tài liệu nào nhấn vào phần việc làng thì gọi là đình. Bảng danh mục của thư viện dùng tên Đền Kim Liên, và chúng tôi giữ đúng tên ấy.
Tên Kim Liên cũng là tên có sau. Đất này vốn là phường Kim Hoa, về sau đổi thành Kim Liên. Dấu vết của tên cũ còn nằm ngay trong tên con phố trước cửa đền, phố Kim Hoa.
貳Ngôi Trấn Lập Muộn Nhất
Trong bốn ngôi tứ trấn, ba ngôi kia đều có gốc từ thời Lý hoặc sớm hơn. Riêng Kim Liên chỉ được dựng vào năm 1509, tức đầu thế kỷ 16, muộn hơn ngôi sớm nhất tới hơn sáu trăm năm. Điều ấy đáng nói, vì nó cho thấy vòng bốn phương của Thăng Long không phải một bản vẽ có sẵn từ ngày dời đô, mà là một cấu trúc được hoàn tất dần qua nhiều đời.
- 1509Dựng đền tại phường Kim HoaTheo văn bia, vua Lê Tương Dực cho dựng đền thờ Cao Sơn Đại Vương tại phường Kim Hoa ở phía nam kinh thành Thăng Long, sau khi cho rằng đã được thần phù trợ trong việc khôi phục cơ nghiệp.
- 1510Soạn văn bia Cao SơnSử thần Lê Tung soạn bài minh Cao Sơn Đại Vương thần từ bi minh, ghi lại sự tích và công đức của thần. Đây là văn bản gốc quan trọng nhất về ngôi đền.
- 1620Đạo sắc phong sớm nhất còn giữTheo tư liệu di tích, đạo sắc phong có niên đại sớm nhất trong số các sắc phong hiện còn tại đền thuộc năm này.
- 1772Dựng tấm bia tại đềnTheo tư liệu về hiện vật, tấm bia được dựng tại đền vào ngày mùng một tháng Chín âm lịch năm này, tức hơn hai trăm sáu mươi năm sau khi bài minh được soạn.
- Thời Lê Trung hưngChín bậc gạch vồLối bậc dẫn từ sân lên nền đại bái xây bằng gạch vồ cỡ lớn thuộc lớp thời Lê, nay là phần kiến trúc cổ nhất còn nguyên vị trí.
- 1990Di tích quốc giaKhu di tích được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
- 2022Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 93 ngày 18 tháng 1 năm 2022, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho Thăng Long tứ trấn, trong đó có đền Kim Liên.
Về lai lịch tấm bia, nguồn ghi vênh nhau và chúng tôi ghi cả hai cách hiểu. Bài minh do Lê Tung soạn năm 1510, điều này các nguồn thống nhất. Nhưng việc dựng bia tại đền thì có tài liệu ghi vào ngay đầu thế kỷ 16 cùng lúc với việc dựng đền, có tài liệu lại ghi bia được dựng vào năm 1772, cách lúc soạn văn hơn hai trăm sáu mươi năm. Cách hiểu thứ hai đi kèm một truyền thuyết của làng: một khối đá lớn trôi dạt về bến sông gần đó, bốn cụ già trong làng dùng dải vải kéo lên một cách nhẹ nhàng, rồi đá ấy được dùng để khắc bia. Chúng tôi chưa tra được công bố khảo cứu nào nói dứt điểm, nên nêu cả hai chứ không chọn bừa.
Về kích thước bia và số sắc phong, nguồn cũng không khớp nhau. Chiều cao bia được ghi là 2,43 mét ở phần lớn tài liệu, nhưng có nơi ghi 2,34 mét, nhiều khả năng do đảo số khi chép lại. Số đạo sắc phong được ghi là 39 ở phần lớn tài liệu, có nơi ghi 33. Chúng tôi ghi cả hai con số.
參Chín Bậc Gạch Vồ Và Tấm Bia Đá
Khu di tích dàn theo một trục dọc và theo hai cao độ: nghi môn và sân gạch ở dưới, rồi chín bậc gạch vồ dẫn lên nền cao, nơi đặt đại bái và hậu cung dựng theo lối chữ đinh, tức một nếp nhà ngang nối với một nếp dọc phía sau. Cách dựng nơi thờ trên nền cao rồi bắt người tới phải bước lên là lối quen của đình đền Bắc Bộ, nhưng ở đây phần bậc được xây bằng gạch vồ cỡ lớn thời Lê nên nó vừa là lối đi vừa là hiện vật.
Tấm bia đá xám nguyên khối, cao khoảng 2,43 mét, rộng 1,57 mét, dày 0,22 mét, trán bia chạm rồng. Bia khắc chữ cả hai mặt, tổng cộng bốn mươi bảy dòng với khoảng một nghìn chữ. Đây là hiện vật quý nhất của đền.
Lối bậc nối sân dưới với nền đại bái, xây bằng gạch vồ cỡ lớn thời Lê. Phần kiến trúc cổ nhất còn nguyên vị trí trong khu di tích.
Đại bái là nơi hành lễ, treo hoành phi câu đối; hậu cung đặt long ngai và bài vị thần Cao Sơn Đại Vương. Trong khu thờ còn có những cỗ long ngai lớn chạm rồng thuộc lớp đồ thờ cũ.
Các đạo sắc phong của các triều Lê và Nguyễn ban cho thần, đạo sớm nhất theo tư liệu di tích thuộc năm 1620. Sắc phong là loại tư liệu cho biết vị thần được nhà nước quân chủ thừa nhận ở cấp nào và vào lúc nào.
Nói thêm về tấm bia, vì nó là thứ làm nên giá trị riêng của ngôi đền này. Nội dung bài minh kể sự tích thần Cao Sơn và chép rằng khi các đại thần đem quân đi dẹp loạn, tới vùng Phụng Hóa, nay thuộc địa bàn Ninh Bình, thì gặp một ngôi đền cổ thờ thần Cao Sơn; vua cầu thần phù trợ, và việc thành trong vòng mười ngày. Sau đó vua cho dựng đền thờ thần ở phường Kim Hoa phía nam kinh thành, tức ngôi đền đang nói tới đây.
Điều đáng chú ý là văn bia nói thẳng rằng đền gốc ở nơi khác, còn ngôi ở Thăng Long là ngôi lập thêm để rước thần về giữ cửa nam kinh thành. Nó giải thích vì sao ngôi trấn Nam có niên đại muộn nhất trong tứ trấn mà vị thần được thờ lại thuộc lớp cổ nhất.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Trước hết là phương vị và ngũ hành. Phương Nam thuộc hành Hỏa, sắc đỏ, ứng với mùa hè và với chỗ sáng. Trong lối dựng đô của người xưa, mặt nam là mặt trước, mặt mà vua quay ra khi ngồi trên ngai, tức mặt của ánh sáng và của chính lệnh. Đặt một ngôi trấn ở phương Nam vì thế không giống đặt ở ba phương kia: đây là cửa trước, chứ không phải cửa sau hay cửa hông. Việc ngôi trấn Nam lại là ngôi được lập sau cùng cho thấy vòng tứ trấn được khép lại từ chỗ khuất vào chỗ tỏ, chứ không phải ngược lại.
Kế đến là hành của vị thần so với hành của phương. Cao Sơn nghĩa là núi cao, mà núi trong ngũ hành thuộc Thổ. Phương Nam thuộc Hỏa, và theo lẽ tương sinh thì Hỏa sinh Thổ. Đặt một vị thần núi vào phương Hỏa là đặt vào chỗ được phương ấy nuôi chứ không phải chỗ khắc nhau. Đây là điểm khác với đền Quán Thánh, nơi hành của thần và hành của phương trùng khít làm một; ở Kim Liên, quan hệ giữa thần và phương là quan hệ sinh, tức một bên cấp cho một bên.
Thứ ba là cái nền cao. Đền dựng trên một gò đất của làng Kim Hoa cũ, nay còn đọc được qua chín bậc gạch dẫn lên. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì một gò đất nhô lên được đọc như một ngọn núi nhỏ. Một ngôi đền thờ thần núi lại được đặt lên chỗ cao nhất của vùng đất bằng ấy là một sự sắp đặt có ý: người xưa không có núi thật để dâng cho vị thần núi, nên dâng cho thần cái cao nhất mà vùng đất ấy có.
Sau cùng là chỗ đứng trong tứ trấn. Đền Kim Liên giữ phương Nam; đền Bạch Mã giữ phương Đông thờ thần Long Đỗ, đền Voi Phục giữ phương Tây thờ Linh Lang Đại Vương, và đền Quán Thánh giữ phương Bắc thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Đọc bốn ngôi cùng lúc thì thấy mỗi ngôi giữ một hành: Bạch Mã ở phương Mộc, Voi Phục ở phương Kim, Quán Thánh ở phương Thủy, Kim Liên ở phương Hỏa. Bốn hành ấy vây quanh một chỗ ở giữa, mà chỗ giữa trong ngũ hành thuộc Thổ, tức thuộc đất. Vòng tứ trấn vì vậy không chỉ là bốn ngôi đền ở bốn phía, mà là một cách bày đủ năm hành cho một kinh đô, trong đó cái được giữ chính là mảnh đất ở giữa.
伍Hội Ngày Mười Sáu Tháng Ba
Hội chính của đền mở vào ngày 16 tháng Ba âm lịch, đúng ngày mà thần tích ghi là ngày sinh của Cao Sơn Đại Vương, thường có phần lễ chuẩn bị từ ngày 15. Ngoài đền Kim Liên, một số nơi khác cùng thờ Cao Sơn cũng mở lễ vào ngày này, nên trong cùng một ngày có mấy đám lễ song song trong thành phố.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 15 tháng Ba | Lễ cáo và sửa soạn | Phần lễ mở đầu, bao sái đồ thờ và cáo yết trước ngày chính hội. |
| Ngày 16 tháng Ba | Đại tế và dâng hương | Chính hội, đúng ngày sinh của thần theo thần tích. Có lễ tế của đội tế và lễ dâng hương của các đoàn. |
| Ngày 16 tháng Ba | Rước và diễn xướng | Đám rước kèm trống hội Thăng Long, múa cờ hội, múa tứ linh và các tiết mục diễn xướng kể sự tích thần. |
| Ngày 16 tháng Ba | Trò chơi dân gian | Các trò của hội làng vùng này được tổ chức trong khuôn viên và khu vực quanh đền. |
| Đầu xuân, rằm và mùng một | Lệ thường kỳ | Người trong vùng giữ lệ tới đền vào các ngày này; nhiều người Hà Nội đi đủ vòng bốn ngôi tứ trấn trong những ngày đầu năm. |
Có một điểm về hội này mà quý vị nên biết để khỏi ngỡ ngàng. Vì nơi đây vừa là đền thờ thần do triều đình dựng, vừa là đình của làng Kim Hoa cũ, nên trong cùng một kỳ hội có hai lớp nghi thức đi cạnh nhau: lớp tế thần theo bài bản của một nơi thờ được nhà nước quân chủ thừa nhận, và lớp việc làng với các trò, các đám rước của dân cư quanh vùng. Hai lớp ấy không tranh nhau mà xếp nối nhau trong một ngày.
Đó cũng là hình ảnh gọn nhất cho thấy vì sao thư viện xếp nơi này vào mục Thờ Cúng Tổ Tiên: một vị thần núi được triều đình rước về giữ cửa nam kinh thành, rồi được dân một làng nhận làm thành hoàng của mình, và cả hai việc ấy diễn ra trên cùng một nền đất, trong cùng một ngày hội, mà không cần tới một giáo hội nào đứng ra phân định.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Phố Kim Hoa, phường Phương Liên, quận Đống Đa cũ, Hà Nội
- Đường tới
- Nằm trên phố Kim Hoa, phường Phương Liên, thuộc địa bàn quận Đống Đa cũ, Hà Nội, trên nền đất làng Kim Hoa xưa. Tên phố trước cửa đền chính là dấu vết của tên làng cũ.
- Toạ độ
- 21.0089, 105.8375
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào hậu cung, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên long ngai và đồ thờ. Riêng với tấm bia đá, xin quý vị không chạm tay, không xoa lên mặt chữ và không dán giấy in rập, vì mặt chữ đã mòn theo thời gian. Chín bậc gạch vồ cũng là hiện vật, nên đi nhẹ và tránh kéo lê vật nặng trên bậc.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Kim Liên thờ ai
Thờ Cao Sơn Đại Vương, một vị thần núi. Các bản thần tích chép ông là một trong những người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ, theo mẹ lên núi, về sau thành bộ tướng thân cận của Sơn Tinh. Ngày sinh của thần theo thần tích là mười sáu tháng Ba âm lịch, cũng là ngày hội chính của đền.
Vì sao gọi là đền Kim Liên mà cũng gọi là đình Kim Liên
Vì nơi này mang hai chức năng chồng lên nhau. Đây là đền thờ thần Cao Sơn do triều đình dựng năm 1509, đồng thời dân làng Kim Hoa cũ lấy chính vị ấy làm thành hoàng và lấy nơi ấy làm đình của làng. Tài liệu nhấn vào phần thờ thần thì gọi là đền, nhấn vào việc làng thì gọi là đình.
Tấm bia ở đền Kim Liên có gì đặc biệt
Đó là bia Cao Sơn Đại Vương thần từ bi minh, bài minh do sử thần Lê Tung soạn năm 1510. Bia đá xám nguyên khối cao khoảng 2,43 mét, rộng 1,57 mét, khắc chữ cả hai mặt với khoảng một nghìn chữ. Bia chép sự tích thần và cho biết đền gốc của thần vốn ở nơi khác, ngôi tại Thăng Long là ngôi lập thêm.
Vì sao đền Kim Liên lập muộn nhất trong tứ trấn
Vì đền chỉ được dựng năm 1509 đời Lê Tương Dực, trong khi ba ngôi kia có gốc từ thời Lý hoặc sớm hơn. Theo văn bia, vua cho rằng đã được thần Cao Sơn phù trợ nên dựng đền thờ thần ở phường Kim Hoa phía nam kinh thành. Vòng bốn phương của Thăng Long vì thế được hoàn tất dần qua nhiều đời chứ không có sẵn từ đầu.
Hội đền Kim Liên vào ngày nào
Vào ngày 16 tháng Ba âm lịch, đúng ngày sinh của thần theo thần tích, thường có phần lễ chuẩn bị từ ngày 15. Chính hội có đại tế, dâng hương, đám rước với trống hội, múa cờ hội, múa tứ linh, diễn xướng kể sự tích thần và các trò chơi dân gian của hội làng.