Quý vị leo ba đợt bậc đá bạt vào sườn núi mới tới sân chùa. Ở đợt bậc thứ hai, ngay trước cửa tam bảo, có mười khối đá xám đặt thành hai hàng đối nhau: hai con sư tử, hai voi, hai tê giác, hai trâu, hai ngựa, con nào cũng nằm phục trên một bệ sen chạm liền khối. Chúng thấp, chừng ngang tầm hông người, và nhìn gần thì thấy mặt đá đã rỗ hết vì mưa nắng nghìn năm.
Trong thượng điện là pho A Di Đà bằng đá, tạc năm 1057. Đây là chỗ đáng nói nhất của ngôi chùa: cả hàng linh thú ngoài kia và pho tượng trong này đều thuộc thời Lý, tức lớp điêu khắc Phật giáo sớm nhất còn lại được của Đại Việt. Những gì có trước nữa thì chỉ còn trong văn bia và truyền thuyết.

壹Tên Gọi, Núi Lạn Kha Và Pho A Di Đà
Ngôi chùa và quả núi mang nhiều tên, mỗi tên nói một lớp chuyện. Tên chữ là Vạn Phúc tự, khắc trên bia. Tên Phật Tích nghĩa là dấu tích của Phật, vốn là tên gọi vùng đất này. Quả núi thì có tên Lạn Kha, nghĩa là cán rìu mục; còn gọi Tiên Du, nghĩa là chỗ tiên chơi, và Bát Vạn, tức tám vạn, gắn với việc dựng tháp đất nung ở đây.
Vị Phật ngồi trong thượng điện là A Di Đà, tiếng Phạn nghĩa là ánh sáng vô lượng, vị Phật chủ cõi Tây phương Cực Lạc. Theo giáo nghĩa Tịnh Độ, người tu chỉ cần một lòng niệm danh hiệu Ngài thì khi mất được tiếp dẫn về cõi ấy. Đó là pháp môn dễ hành nhất trong nhà Phật, và việc một ông vua đời Lý cho tạc pho A Di Đà bằng đá nguyên khối cho thấy pháp môn này đã phổ biến trên đất Việt từ thế kỷ 11.
Về hàng linh thú, các nhà nghiên cứu đọc chúng theo nghĩa phổ độ chúng sinh: cả năm loài đều có mặt trong kinh sách nhà Phật, và việc đặt chúng nằm phục trên bệ sen trước cửa tam bảo là hình ảnh muôn loài cùng quy phục giáo pháp, chứ không phải đám thú canh cửa theo lối thần đạo.
Pho A Di Đà tạc bằng đá xanh nguyên khối, niên đại năm 1057, đời Lý Thánh Tông, và được coi là pho tượng Phật cổ nhất nước ta xác định được niên đại. Số đo thì các nguồn ghi lệch nhau: hồ sơ di tích ghi tượng cao 1,87 m, một số bài ghi 1,86 m; tính cả bệ thì có nơi ghi 2,69 m, nơi ghi 2,77 m, nơi ghi 2,87 m. Chúng tôi nêu cả ba chứ không chọn bừa. Tượng được công nhận bảo vật quốc gia năm 2012.
Cần nói rõ pho tượng đã qua phục hồi. Trong những năm cuối thập niên 1940, chùa bị hủy hoại; phần đầu tượng bị rời khỏi thân và được người trong làng giữ lại, thân tượng nằm ngoài đồng một thời gian. Khi lắp lại, phần đầu hơi ngả về sau và bệ sư tử nguyên thuỷ không được đặt lại đúng như cũ. Ai đứng trước pho tượng cũng nên biết điều đó.
Bộ mười linh thú gồm năm đôi sư tử, voi, tê giác, trâu và ngựa, tạc từ đá sa thạch, gần như đôi nào cũng liền khối, riêng một con trâu ghép từ hai khối đá. Mỗi con cao khoảng 1,2 m, dài từ 1,5 tới 1,8 m, đặt trên bệ đá 1,7 m nhân 0,8 m nhân 0,36 m chạm nổi cánh sen. Bộ tượng được công nhận bảo vật quốc gia năm 2017.
Hai truyện thần tiên gắn với quả núi này thường bị nhập làm một, xin tách ra bằng giọng sử liệu. Truyện thứ nhất giải thích tên Lạn Kha: người tiều phu Vương Chất lên núi, gặp hai tiên nữ đánh cờ, ngồi xem và ăn quả đào các nàng bỏ lại; tới khi cuộc cờ tàn thì cán rìu đã mục, dưới núi đã qua nhiều đời. Truyện thứ hai là chuyện Từ Thức: một viên quan trẻ đi hội xem hoa mẫu đơn tại chùa, thấy một cô gái làm gãy cành hoa và bị giữ lại, liền cởi áo gấm ra chuộc lỗi cho nàng; về sau cô gái ấy hiện là tiên nữ Giáng Hương, và hai người gặp lại nhau nơi cõi tiên.
Như vậy tên Lạn Kha đến từ chuyện cán rìu mục, còn chuyện Từ Thức đến từ hội hoa mẫu đơn của chùa; cả hai thuộc lớp truyền tụng, không phải sử biên niên. Chúng dựng nên cái tên Tiên Du, và chính hội hoa hằng năm đã giữ chuyện Từ Thức sống tới nay.
貳Nghìn Năm Trên Sườn Núi
Niên đại khởi dựng của chùa là chỗ cần thận trọng. Truyền thuyết vùng này đẩy việc dựng chùa về tận những thế kỷ đầu Công nguyên; hồ sơ di tích của cơ quan quản lý thì ghi khoảng thế kỷ 7 tới thế kỷ 10; còn mốc 1057 là mốc vua Lý Thánh Tông cho dựng chùa và tháp cùng tạc tượng, tức mốc có hiện vật đi kèm. Ba cách ghi ấy vênh nhau và chúng tôi nêu cả ba; chỉ mốc 1057 là mốc có vật chứng còn lại.
- Thế kỷ 7 đến 10Lớp chùa xưa nhấtHồ sơ di tích đặt việc dựng chùa vào khoảng thời gian này. Không còn cấu kiện nào trên mặt đất chứng cho lớp niên đại ấy.
- 1057Lý Thánh Tông dựng chùa và tạc tượngĐời Lý Thánh Tông, chùa và tháp được dựng trên núi, pho A Di Đà bằng đá được tạc. Đây là mốc có hiện vật đi kèm nên vững hơn mọi mốc trước đó.
- 1071Chữ Phật trên đáTài liệu di tích chép nhà vua cho viết một chữ Phật lớn rồi khắc vào đá tại núi này. Chi tiết ấy thuộc lớp tư liệu chép lại, không còn vật chứng.
- 1129Tám vạn tháp đất nungĐời Lý Thần Tông, một số lượng rất lớn tháp nhỏ bằng đất nung được đặt tại đây, tài liệu ghi con số tám vạn. Vì vậy núi còn có tên Bát Vạn.
- 1279 đến 1280Cung Bảo HoaĐời Trần Nhân Tông, một cung tên Bảo Hoa được dựng tại khu vực này, theo hồ sơ di tích.
- 1635 đến 1644Thiền sư Chuyết ChuyếtThiền sư Chuyết Chuyết, tổ của dòng Lâm Tế trên đất Bắc, hành đạo tại đây. Nhục thân ông về sau được giữ tại chùa, còn tháp thờ dựng ở chùa Bút Tháp.
- 1686Trùng tu lớn và dựng biaThời Lê Trung Hưng, chùa được trùng tu quy mô lớn và dựng bia. Văn bia năm này còn tả cảnh trên đỉnh núi có một toà nhà đá, trong sáng như ngọc lưu ly.
- 2014Di tích quốc gia đặc biệtChùa được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408 ngày 31 tháng 12 năm 2014.
Giữa lớp thời Lý và ngôi chùa hôm nay có một khoảng đứt. Chùa bị hủy hoại trong những năm cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950; tới năm 1959 mới được dựng lại với quy mô nhỏ, chỉ đủ chỗ đặt pho tượng đá. Đợt xây dựng lớn khởi công năm 2008, và cùng dịp ấy người ta phát hiện dấu nền một ngọn tháp cổ trên sườn núi. Nghĩa là phần lớn nhà cửa quý vị thấy hôm nay là công trình mới, còn phần cổ thì nằm cả trong mấy khối đá.
參Ba Cấp Nền, Hàng Linh Thú Và Vườn Tháp
Chùa không dàn trên đất bằng mà bạt vào sườn núi thành từng cấp nền, mỗi cấp là một khoảng sân có tường đá kè. Cách ghi số cấp nền không thống nhất: tài liệu hay nói tới ba cấp nền chính, mỗi cấp dài khoảng 58 tới 60 mét; một tài liệu khác chia thành bốn cấp, tính thêm khu cổng có ao và giếng ở dưới cùng, và ghi cấp thứ hai cao 3,7 mét, cấp thứ ba dài 58 mét rộng 62 mét cao 5 mét. Con số bề rộng cũng lệch nhau, có nơi ghi chừng 33 mét. Chúng tôi nêu cả hai cách ghi.
Đặt trên cấp nền thứ hai, ngay trước cửa tam bảo, thành hai hàng đối nhau. Năm đôi sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa, mỗi con nằm phục trên bệ sen chạm liền khối đá. Đây là bộ tượng thú đá thời Lý còn nguyên vị trí duy nhất ở nước ta.
Đặt trong thượng điện. Đá xanh nguyên khối, dáng ngồi thanh, áo chảy thành nếp song song, bệ chạm cánh sen, sóng nước, rồng và mây lửa. Giới nghiên cứu đọc ra trong pho tượng cả dấu của nghệ thuật Ấn Độ, nhà Đường và Chăm Pa, nhưng nét mặt thì đã thành nét Việt.
Khu tháp mộ của các vị cao tăng, phần lớn dựng thế kỷ 17. Các nguồn ghi số tháp khác nhau, có nơi ghi hơn 32 ngọn, có nơi ghi 34 ngọn gồm 9 tháp đá xanh và 25 tháp gạch. Tháp Phổ Quang cao chừng 5 mét.
Ở cấp nền dưới cùng có hai ao được gọi là mắt rồng và một giếng gọi là giếng rồng. Ao Rồng hình chữ nhật, trong lòng còn dấu chạm khắc. Đây là phần thuộc lớp kiến trúc cổ chứ không phải công trình mới.
Giữ tại nhà tổ của chùa. Đây là một trong ít trường hợp nhục thân được giữ lại ở chùa Việt; tài liệu di tích tính niên đại vào khoảng bốn trăm năm, ứng với thời điểm ông viên tịch giữa thế kỷ 17.
Pho tượng đá cao 27 mét dựng trên đỉnh núi, làm nhân dịp một nghìn năm Thăng Long Hà Nội. Đây là công trình mới, tạc theo mẫu pho A Di Đà cổ nhưng phóng lớn nhiều lần.
Nhiều người lên núi, thấy pho tượng đá lớn trên đỉnh rồi tưởng đó chính là pho tượng cổ nghìn năm được nói tới. Không phải. Pho trên đỉnh núi cao 27 mét là công trình dựng trong những năm gần đây, làm theo mẫu pho tượng cổ. Pho A Di Đà thời Lý thì nhỏ, cao chưa tới hai mét, đặt trong thượng điện dưới sân chùa. Sự lẫn này dễ hiểu vì hai pho giống nhau về dáng, nhưng cách nhau gần một nghìn năm và khác nhau hoàn toàn về giá trị tư liệu.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thuỷ cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điểm khác các chùa cùng vùng là ở đây có núi thật để tựa. Cả dải châu thổ Kinh Bắc gần như bằng phẳng, nên một quả núi thấp nhô lên giữa đồng lúa là chỗ hiếm. Trong phép xem đất, đó chính là hậu chẩm, tức gối tựa sau lưng; và chùa được đặt vào sườn phía nam của quả núi, lưng dựa đỉnh, mặt nhìn ra đồng. Thế ấy sách vở gọi là tựa sơn hướng thuỷ, và ở đây nó đúng theo nghĩa hẹp nhất của chữ, không phải một biến thể như nơi đồng bằng không có núi.
Việc bạt sườn núi thành ba cấp nền nói lên cách người xưa xử lý thế đất dốc. Đất dốc thì khí trôi, nên phải chặn lại từng đoạn: mỗi cấp nền có tường đá kè giữ đất, và mỗi cấp là một bậc dừng chân. Người leo lên theo bậc đá, cứ một đoạn lại gặp một khoảng sân bằng; theo lối phong thuỷ, mỗi khoảng sân ấy là một chỗ tụ khí nhỏ, và ngôi chùa nằm trên cấp cao nhất của chuỗi ấy.
Hai mắt rồng và giếng rồng ở cấp dưới cùng cũng đọc được theo phép cũ. Nơi có núi mà thiếu nước thì phải tạo lấy nước: mặt nước trước chân núi làm thành minh đường, giữ cho khí từ trên dốc xuống có chỗ đọng lại chứ không xổ thẳng ra đồng. Cách người xưa đặt tên chúng theo hình rồng cho biết họ đọc cả quả núi như một thân rồng nằm, và chùa thì dựng trên lưng con rồng ấy.
Còn hàng linh thú, xét theo lối cũ, không chỉ là hiện vật thờ mà còn là hạng mục chặn thế. Mười khối đá nặng xếp thành hai hàng đối nhau ở cấp nền thứ hai, đúng chỗ người đi lên phải bước qua, làm thành một cửa vô hình: qua khỏi hàng thú là sang phần đất của Phật. Trong nhà ở cổ truyền, vai trò ấy do bức bình phong đảm; ở đây nó được giao cho mười con vật nằm phục.
伍Hội Khán Hoa Mẫu Đơn
Hội chùa mở ngay trong dịp Tết, ngày chính là mùng bốn tháng Giêng, các nguồn ghi hội trải từ mùng ba tới mùng năm. Tên hội là Khán hoa mẫu đơn, nghĩa là xem hoa mẫu đơn, và đó là điều làm hội này khác hẳn hội chùa thường: cái cớ để mở hội là một loài hoa, không phải một ngày kỵ hay một ngày Phật.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 3 tháng Giêng | Mở hội | Bao sái đồ thờ, bày lễ chay, mở cửa các cấp nền cho người về dâng hương đầu năm. |
| Mùng 4 tháng Giêng | Chính hội | Ngày trọng nhất, lễ dâng hương và tụng kinh cầu an tại thượng điện, người quanh vùng và khách thập phương về rất đông. |
| Mùng 4 tháng Giêng | Khán hoa mẫu đơn | Lệ xem hoa mẫu đơn trong khuôn viên chùa, chính là lệ gắn với chuyện Từ Thức gặp tiên. |
| Mùng 5 tháng Giêng | Rã hội | Ngày cuối, phần lễ thu gọn, người về dâng hương lẻ. |
| Trong hội | Trò diễn và hát | Hát quan họ và các trò chơi dân gian của làng diễn ra ở sân dưới, tách khỏi khu thờ tự. |
Ngoài hội đầu năm, chùa đông vào các ngày rằm mùng một, lễ Phật đản và lễ Vu Lan. Ngày giỗ tổ tính theo ngày viên tịch của thiền sư Chuyết Chuyết, lễ làm tại nhà tổ nơi giữ nhục thân của ông.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện Tiên Du cũ, tỉnh Bắc Ninh
- Đường tới
- Chùa ở núi Lạn Kha, xã Phật Tích, thuộc địa bàn huyện Tiên Du cũ, tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm Hà Nội chừng hai mươi lăm cây số về phía đông bắc. Cùng tuyến có thể ghé chùa Tiêu và vùng Đình Bảng.
- Toạ độ
- 21.0856, 106.0244
Lệ của chính nơi này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào thượng điện và nhà tổ, đi nhẹ nói khẽ. Hàng linh thú và pho A Di Đà là bảo vật quốc gia bằng đá đã rỗ mặt vì nghìn năm mưa nắng, xin quý vị không chạm tay, không xoa đầu và không ngồi lên bệ. Ba cấp nền nối nhau bằng bậc đá cao, trời mưa thì trơn, nên đi theo tay vịn. Chụp ảnh trong thượng điện và nhà tổ tuỳ lệ từng lúc, xin hỏi người trông coi trước.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Phật Tích thờ ai
Chùa thờ Phật theo lối Bắc tông, trung tâm là pho A Di Đà bằng đá tạc năm 1057. Nhà tổ thờ thiền sư Chuyết Chuyết, vị tổ dòng Lâm Tế từng hành đạo tại đây giữa thế kỷ 17, và còn giữ nhục thân của ông.
Tượng A Di Đà chùa Phật Tích có từ năm nào
Tạc năm 1057 đời Lý Thánh Tông, bằng đá xanh nguyên khối, được coi là pho tượng Phật cổ nhất nước ta xác định được niên đại, công nhận bảo vật quốc gia năm 2012. Số đo các nguồn ghi lệch nhau, thân tượng 1,86 hoặc 1,87 mét, tính cả bệ thì 2,69, 2,77 hoặc 2,87 mét.
Mười linh thú đá chùa Phật Tích là những con gì
Năm đôi gồm sư tử, voi, tê giác, trâu và ngựa, tạc bằng đá sa thạch thời Lý, nằm phục trên bệ sen, đặt thành hai hàng trước cửa tam bảo. Mỗi con cao khoảng 1,2 mét, dài từ 1,5 tới 1,8 mét. Bộ tượng được công nhận bảo vật quốc gia năm 2017.
Vì sao núi chùa Phật Tích gọi là núi Lạn Kha
Lạn Kha nghĩa là cán rìu mục, lấy từ truyện người tiều phu Vương Chất lên núi xem hai tiên nữ đánh cờ, tới khi cuộc cờ tàn thì cán rìu đã mục và dưới núi đã qua nhiều đời. Núi còn tên Tiên Du, nghĩa là chỗ tiên chơi, và tên Bát Vạn gắn với việc dựng tám vạn tháp đất nung.
Hội chùa Phật Tích mở vào ngày nào
Hội Khán hoa mẫu đơn mở ngay trong dịp Tết, chính hội là mùng bốn tháng Giêng, các nguồn ghi hội trải từ mùng ba tới mùng năm. Lệ xem hoa mẫu đơn gắn với chuyện Từ Thức gặp tiên nữ Giáng Hương tại hội hoa của chùa.