Đền dựng trên một gò đất cao gần trăm mét, lưng gối vào sườn núi, mặt mở thẳng ra mặt nước. Từ sân đền Thượng, quý vị nhìn được trọn một khoảng vịnh Bái Tử Long với những hòn đá vôi nhô lên rải rác, phía dưới là cửa biển và những con tàu đi vào. Rất ít đền miếu ở nước ta có được một tầm nhìn như vậy ngay từ sân thờ.
Điều đáng dừng lại lâu hơn thì nằm bên trong. Đền này không thờ một vị, cũng không thờ một vị kèm vài vị phụ, mà thờ gần như trọn một gia thất và bộ tướng của nhà Trần: cha, con, các tướng thân cận, các vị phu nhân. Hệ thống tượng thờ ở đây được xem là đông vào bậc nhất trong các di tích cả nước, và chính điều ấy, chứ không phải tầm nhìn ra vịnh, làm nên chỗ riêng của đền Cửa Ông.

壹Hưng Nhượng Đại Vương Và Bộ Tượng Nhà Trần
Thần chủ của đền là Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng, sống trong khoảng năm 1252 tới năm 1313, con trai thứ ba của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Người vùng này quen gọi ông là Đức Ông, và tên đền theo cách gọi ấy mà thành. Tên gọi cũ của cả vùng cửa biển này là Cửa Suốt, nơi ông từng trấn giữ.
Xin nói rõ về chữ Hán ở đầu trang. Cửa Ông là một địa danh thuần Việt, không có tên chữ Hán được chép trên hoành phi của đền; bốn chữ 興讓王祠, đọc là Hưng Nhượng Vương Từ, là chữ thư viện suy từ phong hiệu của vị được thờ, không phải chữ chép lại từ di vật.
Đền Cửa Ông thuộc dòng thờ tự mà dân gian gọi là Trần Triều, tức hệ thần xếp theo vai vế trong nhà Trần chứ không xếp theo phẩm trật quan lại. Trong hệ ấy, Trần Quốc Tảng là một trong tứ vị vương tử, tức bốn người con trai của Đức Thánh Trần, và ở đây ông từ vị thế một vị trong hàng con đã trở thành thần chủ của cả một cửa đền lớn.
Ông còn được thờ dưới danh hiệu Đông Hải Đại Vương, tức vị đại vương của biển phía đông. Danh hiệu ấy nói đúng vai của ông trong tâm thức dân vùng biển: người đi biển, người làm nghề trên nước và về sau là người làm mỏ ở vùng này đều coi ông là vị bảo hộ, nên đền thành nơi hành hương lớn nhất cả vùng Đông Bắc.
Thần tích gắn với chính cửa biển này kể rằng ông ngồi trên một phiến đá giữa lúc biển động, phiến đá không chìm mà nổi trên sóng, rồi ông hóa ở đó; về sau mối đùn đất lên thành nấm mộ và dân lập miếu thờ. Chuyện ấy thuộc lớp truyền tụng, không phải sử biên niên. Tài liệu cũng ghi rằng ông mất năm 1313 và được các triều sau ban sắc phong.
Về bộ tượng thờ, con số được các nguồn nhắc nhiều nhất là 34 pho tượng cổ, niên đại trải nhiều trăm năm, được xếp vào hàng có giá trị nghệ thuật cao. Danh sách các vị được tạc tượng gồm chính Trần Quốc Tảng, cha ông là Hưng Đạo Đại Vương, các tướng thân cận của nhà Trần như Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Lê Phụ Trần, Yết Kiêu, Dã Tượng, cùng các vị công chúa và phu nhân. Cần lưu ý rằng con số 34 là số tượng cổ, không tính các tượng mới đặt về sau cũng như pho tượng lớn dựng ngoài trời trên điểm cao của khu đền.
Chỗ hay hiểu lầm ở đây là lẫn đền Cửa Ông với đền Cặp Tiên, ngôi đền nằm cách đó chừng hai cây số bên kia cửa biển. Hai nơi cùng một cụm di tích và cùng một mạch thờ tự của nhà Trần, nên nhiều người tưởng là một đền hai khu.
Thực ra hai nơi thờ hai đối tượng khác nhau. Đền Cửa Ông thờ Trần Quốc Tảng, tức Đức Ông, cùng hệ tượng gia thất và bộ tướng nhà Trần. Đền Cặp Tiên thờ người con gái của ông, dân gian gọi là Cô bé Cửa Suốt, và về sau thờ thêm một vị quan thời Nguyễn có công với dân trong vùng; vì vậy đền này còn có tên là đền Quan Chánh. Trong hệ Trần Triều, Cô bé Cửa Suốt thuộc hàng Cô, tức lớp thần linh trẻ tuổi đứng cuối hệ, khác hẳn vị thế thần chủ của Đức Ông.
Một dấu dễ nhận nữa là cái giếng. Đền Cặp Tiên có một giếng nước ngọt sát bãi biển mà lệ vùng gọi là Giếng Tiên, tương truyền nước vẫn ngọt kể cả khi nước mặn dâng lên; đền Cửa Ông không có hạng mục ấy. Hai nơi được xếp hạng chung trong một cụm di tích quốc gia đặc biệt, nhưng chung hồ sơ không có nghĩa là chung một vị được thờ.
貳Từ Thảo Am Đến Ba Khu Đền
Lịch sử ở đây chia làm hai lớp rất tách bạch. Việc thờ tự tại cửa biển này được nói là có từ thời Trần, nhưng ngôi đền có mái ngói và có quy mô như hôm nay thì mới, hình thành từ đầu thế kỷ 20 trở đi. Hồ sơ di tích ghi rõ điều đó: khởi đầu chỉ là một thảo am nhỏ dựng bằng tranh, tre, nứa lá.
- 1313Trần Quốc Tảng mấtTài liệu ghi ông mất năm này. Theo thần tích vùng, ông hóa tại cửa biển Cửa Suốt và dân lập miếu thờ ngay tại chỗ.
- Thời NguyễnThảo am bên cửa biểnNơi thờ chỉ là một thảo am nhỏ dựng bằng tranh, tre, nứa lá, thờ Đức Ông trên gò đất trông ra vịnh.
- 1907Bắt đầu tu bổĐợt tu bổ đầu tiên của thời kỳ dựng đền bằng vật liệu bền, mở ra khoảng mười năm xây cất liên tục. Bảng dữ kiện của thư viện lấy năm này làm năm khởi dựng ngôi đền hiện tồn.
- 1916Mở rộng khu đềnKhu đền được mở rộng, các toà nhà chính thành hình. Đây là mốc kết của đợt xây cất kéo dài từ năm 1907.
- Thế kỷ 20Hình thành ba khuKhu đền dần chia thành ba cụm theo độ cao của gò đất: đền Hạ, đền Trung và đền Thượng, mỗi cụm gồm nhiều hạng mục thờ tự riêng.
- 1989Xếp hạng đền Cặp TiênĐền Cặp Tiên bên kia cửa biển được xếp hạng di tích, về sau nhập vào cùng một cụm di tích với đền Cửa Ông.
- 2016Di sản văn hóa phi vật thể quốc giaTháng 11 năm 2016, lễ hội đền Cửa Ông được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
- 2017Di tích quốc gia đặc biệtCụm di tích đền Cửa Ông và đền Cặp Tiên được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2082 ký ngày 25 tháng 12 năm 2017.
Một chỗ cần phân biệt. Nhiều bài viết gọi đây là ngôi đền hơn bảy trăm năm tuổi. Cách nói ấy tính từ thời điểm bắt đầu có việc thờ tự tại cửa biển này, tức từ đầu thế kỷ 14. Còn bản thân các toà nhà đang đứng thì thuộc lớp đầu thế kỷ 20 và các đợt tu bổ về sau; hồ sơ di tích ghi đền được khởi dựng và tồn tại qua hơn một trăm năm. Hai con số ấy không mâu thuẫn, chúng đo hai thứ khác nhau: một đo tuổi của việc thờ, một đo tuổi của công trình.
參Ba Khu Đền Trên Một Sườn Gò
Khác lối dàn theo trục dọc trên đất phẳng, đền Cửa Ông bày theo độ cao. Đi từ dưới lên, quý vị qua ba cụm công trình, mỗi cụm một chức năng và một lớp thần linh riêng. Người đi lễ theo lệ cũ thường đi đủ ba khu từ thấp lên cao chứ không lên thẳng đền Thượng.
Cụm dưới cùng, gồm đền Mẫu và đền Trung Thiên Long Mẫu. Đây là phần mang lớp thờ Mẫu, đứng ở ngoài và ở dưới so với phần thờ Đức Ông.
Cụm giữa, thờ Khâm Sai Đông Đạo cùng Sơn thần và Thủy thần. Hai vị thần núi và thần nước ở đây ứng đúng với địa thế của khu đền: một bên là núi, một bên là biển.
Cụm trên cùng và là phần chính, gồm đền Thượng thờ Đức Ông cùng hệ tượng gia thất và bộ tướng nhà Trần, kèm đền Quan Châu, đền Quan Chánh, một ngôi chùa và khu lăng mộ.
Ba mươi bốn pho tượng cổ trải nhiều trăm năm, tạc Đức Ông, Hưng Đạo Đại Vương, các tướng thân cận cùng các vị công chúa và phu nhân. Bộ tượng này là hiện vật đáng giá nhất của di tích.
Trên điểm cao của khu đền có một pho tượng Hưng Nhượng Đại Vương dựng ngoài trời, các nguồn ghi cao khoảng mười mét và nặng khoảng bốn mươi tấn. Đây là hạng mục mới, không thuộc lớp tượng cổ.
Điều nên để ý khi đi hết ba khu là trật tự các lớp thờ: lớp thờ Mẫu ở dưới, lớp thần núi thần nước ở giữa, lớp thờ Đức Ông cùng gia thất nhà Trần trên cùng. Trật tự ấy cho biết trong quan niệm của người lập đền, vị nào là chủ và vị nào là khách. Đền Cửa Ông là một cửa đền của dòng Trần Triều; các ban khác có mặt theo nếp thờ nhiều lớp quen thuộc của người Việt, nhưng chỗ cao nhất vẫn dành cho vị thần chủ.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Thế đất ở đây gọn gàng đến mức có thể đọc xong chỉ bằng một lần đứng ở sân đền Thượng. Đền tựa núi ở phía sau và nhìn ra vịnh ở phía trước, trên một gò cao gần trăm mét. Theo phép cũ, đó là thế tựa sơn hướng thủy: núi sau lưng làm hậu chẩm, tức chỗ dựa; mặt nước trước mặt làm minh đường, tức khoảng trống tụ khí.
Cái đặc biệt của Cửa Ông nằm ở chất lượng của cái minh đường ấy. Vịnh Bái Tử Long không phải mặt biển trống trải mà là mặt nước rải rác những hòn đá vôi. Trong phép xem đất, một minh đường hoàn toàn trống thì khí dễ tán ra mà không giữ lại được, còn một minh đường có án sơn, tức có gò hoặc đảo nhỏ chắn phía xa, thì khí có chỗ chặn mà tụ. Các hòn đảo ngoài vịnh đóng đúng vai án sơn ấy, nên thế đất này vừa mở vừa được giữ, điều mà các đền ven biển trống trải không có.
Kế đến là trật tự lên xuống. Ba khu đền xếp theo ba bậc của gò đất, càng lên cao càng gần vị thần chủ. Đọc theo lối cũ thì một trục dựng theo độ cao mạnh hơn một trục dàn theo mặt bằng, vì mỗi bước lên là một bước rời xa chỗ ở của người thường. Việc đặt lớp thờ Mẫu ở đền Hạ, thần núi thần nước ở đền Trung và Đức Ông ở đền Thượng vì thế vừa là trật tự thần linh vừa là trật tự địa hình.
Sau cùng là chỗ hành của đất trùng với hành của vị được thờ. Trần Quốc Tảng được thờ dưới danh hiệu Đông Hải Đại Vương, tức vị đại vương của biển phía đông. Đặt đền của một vị mang chữ hải ngay trên bờ vịnh, mặt hướng ra biển, là đặt thần đúng vào hành của mình; trong phép cũ, sự trùng khớp ấy gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ. Đền Cặp Tiên bên kia cửa biển cũng theo lối lưng tựa núi mặt hướng ra nước, nên đọc cả hai cùng lúc thì thấy cửa biển này được bố trí như một cặp hai bờ, mỗi bờ một ngôi đền cùng một dòng thờ tự.
伍Hai Kỳ Hội Xuân Thu
Đền có hai kỳ hội trong năm, cùng lấy ngày mùng ba và mùng bốn làm ngày chính, một kỳ vào tháng Hai và một kỳ vào tháng Tám âm lịch. Ngoài hai kỳ ấy, mùa lễ đầu năm kéo rất dài, từ những ngày cuối tháng Chạp tới hết tháng Ba âm lịch.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Cuối tháng Chạp tới hết tháng Ba | Mùa lễ đầu năm | Khoảng thời gian đông người lui tới nhất trong năm, nối vào lệ đi lễ đầu xuân của cả vùng Đông Bắc. |
| Mùng 3 và mùng 4 tháng Hai | Hội xuân, ngày chính | Kỳ hội chính mùa xuân, có lễ tế, dâng hương và lễ rước kiệu Đức Ông. |
| Trong hội xuân | Lễ rước kiệu | Kiệu Đức Ông được rước từ đền đi một vòng quanh khu vực rồi trở về an vị. Đây là nghi thức trọng nhất của phần hội. |
| Mùng 3 và mùng 4 tháng Tám | Hội thu, ngày chính | Kỳ hội chính mùa thu, cùng nghi thức tế và dâng hương như kỳ xuân. |
| Ngày 16 tháng Tám | Ngày hóa của Đức Ông | Theo thần tích vùng, đây là ngày ông hóa tại cửa biển; ngày này nằm trong chuỗi lễ chính của mùa thu. |
| Ngày 20 tháng Tám | Giỗ Hưng Đạo Đại Vương | Ngày giỗ của cha Đức Ông, được giữ lễ ở đây theo lệ chung của các cửa đền thuộc dòng Trần Triều. |
Lễ hội đền Cửa Ông được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tháng 11 năm 2016. Điều được ghi danh là tập quán thực hành của lễ hội, gồm nghi thức tế, rước kiệu và các trò diễn của cộng đồng quanh vùng, không phải một phán xét về niềm tin. Nhìn ở góc nhân học, đáng chú ý là cách một cửa đền thờ nhân thần thời Trần trở thành nơi hành hương của những cộng đồng làm nghề rất khác nhau qua các thời: người đi biển, người buôn đường nước, rồi người làm mỏ. Cùng một vị thần, các lớp người ấy xin những điều khác nhau, và lễ hội lớn dần theo chính sự chồng lớp đó.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả cũ, tỉnh Quảng Ninh
- Đường tới
- Đền nằm ở phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả cũ, tỉnh Quảng Ninh, trên gò đất cao bên bờ vịnh Bái Tử Long. Đền Cặp Tiên ở cách đó chừng hai cây số bên kia cửa biển, hai nơi chung một cụm di tích nên thường được đi liền một chuyến.
- Toạ độ
- 21.0192, 107.3567
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các toà nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào các pho tượng cổ, đặt tiền vào hòm công đức. Theo lệ, người đi lễ đi đủ ba khu từ đền Hạ lên đền Trung rồi mới tới đền Thượng chứ không lên thẳng. Đường giữa ba khu là bậc và dốc, mùa lễ đầu năm rất đông, xin quý vị đi theo một chiều.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Cửa Ông thờ ai
Thần chủ là Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng, con trai thứ ba của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, dân vùng này gọi là Đức Ông và còn thờ dưới danh hiệu Đông Hải Đại Vương. Đền còn thờ cả cha ông cùng nhiều tướng thân cận và các vị phu nhân của nhà Trần, thành một hệ tượng gia thất khá trọn vẹn.
Đền Cửa Ông có bao nhiêu pho tượng thờ
Con số được các nguồn nhắc nhiều nhất là ba mươi bốn pho tượng cổ, niên đại trải nhiều trăm năm. Đây là số tượng cổ, không tính các tượng đặt về sau cũng như pho tượng lớn dựng ngoài trời trên điểm cao của khu đền. Hệ thống tượng này được xem là đông vào bậc nhất trong các di tích thờ nhà Trần ở nước ta.
Ba khu đền Hạ, Trung, Thượng thờ những gì
Đền Hạ ở dưới cùng gồm đền Mẫu và đền Trung Thiên Long Mẫu. Đền Trung ở giữa thờ Khâm Sai Đông Đạo cùng Sơn thần và Thủy thần. Đền Thượng trên cùng là phần chính, thờ Đức Ông cùng hệ tượng gia thất và bộ tướng nhà Trần, kèm đền Quan Châu, đền Quan Chánh, một ngôi chùa và khu lăng mộ.
Đền Cửa Ông và đền Cặp Tiên có phải một không
Không. Đền Cửa Ông thờ Trần Quốc Tảng, tức Đức Ông. Đền Cặp Tiên cách đó chừng hai cây số bên kia cửa biển, thờ người con gái của ông mà dân gian gọi là Cô bé Cửa Suốt, về sau thờ thêm một vị quan thời Nguyễn nên còn tên là đền Quan Chánh. Hai nơi chung một cụm di tích nhưng khác vị được thờ.
Lễ hội đền Cửa Ông mở vào ngày nào
Có hai kỳ hội trong năm, ngày chính là mùng ba và mùng bốn tháng Hai cùng mùng ba và mùng bốn tháng Tám âm lịch, trọng nhất là lễ rước kiệu Đức Ông. Một số tài liệu ghi chuỗi lễ mùa thu gồm các ngày mùng ba, mười bốn, mười sáu và hai mươi tháng Tám. Lễ hội được ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tháng 11 năm 2016.