VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Voi Phục

西鎮祠 · Tây Trấn Từ, đền Linh Lang

Ngôi đền trấn phương Tây của kinh thành Thăng Long, dựng trên một gò đất cao của làng Thủ Lệ, thờ một vị hoàng tử đời Lý.

Khởi dựng
1065
năm Chương Thánh Gia Khánh thứ bảy, đời Lý Thánh Tông
Bậc đá lối giữa
12 bậc
lối chính giữa, dành cho đám rước
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 93 ngày 18 tháng 1 năm 2022

Từ đường Kim Mã rẽ vào, quý vị gặp trước tiên không phải cổng đền mà là hai con voi đá nằm quỳ hai bên lối, đầu chúc xuống, chân trước gập lại. Qua khoảng đó là cổng, rồi một lối lên mười hai bậc đá dẫn tới sân trên. Cái tên đền lấy đúng từ đôi voi ấy: voi phục nghĩa là voi quỳ.

Đền ngồi trên một gò đất cao, sau lưng là vòm cây của công viên Thủ Lệ, trước mặt là dòng xe của một trục đường lớn. Chỗ đứng ấy nói được nhiều điều. Đây từng là đất làng Thủ Lệ, một trong mười ba làng phía tây của kinh thành Thăng Long, và ngôi đền giữ phương Tây trong bốn trấn được đặt ở đúng vành ngoài ấy chứ không đặt trong lòng kinh thành.

Đền Voi Phục
Đền Voi Phục. Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Linh Lang Đại Vương

Vị được thờ ở đây là Linh Lang Đại Vương. Theo thần tích, ông là một hoàng tử đời Lý, sinh ra ở vùng ven hồ phía tây kinh thành, và sau khi mất được dân các làng quanh đó thờ làm thành hoàng. Đền vì vậy còn có hai tên khác: Tây Trấn Từ, tức đền trấn phương Tây, và đền Linh Lang, gọi theo tên vị thần.

Theo sử liệu

Thần tích chép rằng mẹ của ông là một bà thứ phi của nhà vua, người ở vùng ven hồ phía tây, gần chỗ về sau gọi là Dâm Đàm tức hồ Tây ngày nay. Bà tắm bên hồ rồi mang thai, sinh ra một người con trên mình có những vết tựa hoa xếp thành hàng như vảy rồng, đặt tên là Hoàng Lang. Khi nước có giặc, người con ấy xin vua cấp cho một con voi và một lá cờ lớn, rồi cầm quân đánh giặc. Xong việc, ông không nhận phong thưởng mà hóa thành một con giao long trườn xuống hồ mà đi. Vua cho lập đền thờ ngay trên đất quê mẹ ông, đó là gốc của ngôi đền này.

Về việc vị hoàng tử ấy là ai trên phương diện sử liệu, các nguồn ghi khác nhau và chúng tôi ghi cả hai. Một luồng cho rằng đây là hoàng tử Hoằng Chân, người tử trận trên phòng tuyến sông Cầu năm 1077, về sau được dân thờ làm thần và thần tích đã bao lớp truyền thuyết quanh ông. Luồng khác coi Linh Lang trước hết là một vị thần sông nước của vùng châu thổ, gốc là tín ngưỡng thờ thần nước và thần rắn của người làm ruộng, về sau mới được nhân cách hóa thành một hoàng tử. Hai cách đọc không loại nhau: lớp thần nước có thể có trước, còn lớp hoàng tử là lớp đắp thêm vào khi triều đình ban sắc phong.

Ngay tên người cha cũng vênh. Phần lớn tài liệu di tích ghi Linh Lang là con vua Lý Thánh Tông, khớp với niên đại dựng đền năm 1065; một số tài liệu khác lại ghi là con vua Lý Thái Tông. Tên bà mẹ cũng được ghi theo nhiều cách khác nhau tùy bản thần tích. Chúng tôi nêu ra chứ không chọn bừa một bản.

Theo giáo nghĩa

Theo lối thờ tự cổ truyền, Linh Lang thuộc hàng nhân thần, tức người thật được thờ làm thần sau khi mất, rồi được các triều phong tới hàng thượng đẳng phúc thần. Ông đồng thời là thành hoàng của nhiều làng, và đây là điểm khiến vị này khác các vị trong tứ trấn: Linh Lang không chỉ được thờ ở một ngôi đền lớn mà được thờ rải khắp nhiều làng vùng châu thổ sông Hồng, mỗi làng một bản thần tích hơi khác. Một vị thần được nhiều làng cùng nhận là thành hoàng của mình thì bản thần tích sẽ nhiều dị bản, và đó là chuyện thường của tín ngưỡng thành hoàng chứ không phải dấu hiệu của sai sót.

Về cách xếp mục của thư viện: chúng tôi xếp đền Voi Phục vào mục Thờ Cúng Tổ Tiên, vì tín ngưỡng thờ thành hoàng và thờ nhiên thần là nếp thờ tự bản địa của người Việt, không có giáo chủ, không có kinh sách, không có giáo hội, nên không thuộc về một tôn giáo có tổ chức nào. Xin đừng gán Linh Lang Đại Vương cho Đạo Giáo chỉ vì đền nằm cùng hệ tứ trấn với đền Quán Thánh; đó là hai gốc tín ngưỡng khác nhau.

Chữ Hán ghi ở đầu trang chép theo tên gọi Tây Trấn Từ có trong tư liệu về đền, không phải chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể trong đền.

Gò Đất Làng Thủ Lệ Qua Chín Trăm Năm

Niên đại khởi dựng của đền được ghi khá cụ thể, hiếm thấy trong các di tích cùng loại: năm Chương Thánh Gia Khánh thứ bảy, tức năm 1065, đời Lý Thánh Tông. Sau mốc ấy là gần chín trăm năm không để lại nhiều dấu văn bản, rồi tới một chuỗi tu bổ dày đặc trong khoảng nửa thế kỷ gần đây.

  • 1065Dựng đền trên đất Thủ Lệ
    Đền được dựng trên một gò đất cao thuộc trại Thủ Lệ, một trong mười ba làng phía tây kinh thành Thăng Long, để thờ vị hoàng tử vừa hóa.
  • Đời Lý tới đời NguyễnCác đợt sắc phong
    Các triều nối nhau ban sắc phong cho Linh Lang, tới danh hiệu Linh Lang Đại Vương thượng đẳng phúc thần. Cùng lúc đó, việc thờ Linh Lang lan ra nhiều làng vùng châu thổ sông Hồng.
  • 1953Dựng lại đền
    Sau một thời gian hư hại nặng, đền được dân các làng quanh đó dựng lại. Phần lớn bộ khung hiện thấy thuộc lớp này và các lớp tu bổ về sau, không phải gỗ đời Lý.
  • 1962Di tích quốc gia
    Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong đợt xếp hạng đầu tiên.
  • 1994Đúc lại quả chuông
    Quả chuông của đền được đúc lại trong năm này, thay quả chuông cũ đã mất.
  • 2000Tu bổ dịp Thăng Long 990 năm
    Đợt tu bổ lớn nhân kỷ niệm chín trăm chín mươi năm Thăng Long Hà Nội.
  • 2009Tu bổ và dựng nghi môn mới
    Đợt tu bổ chuẩn bị cho đại lễ nghìn năm Thăng Long, trong đó có việc dựng lại nghi môn phía ngoài, làm thay đổi khá nhiều diện mạo lối vào.
  • 2022Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 93 ngày 18 tháng 1 năm 2022, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho Thăng Long tứ trấn, trong đó có đền Voi Phục.

Về chỗ đứng trong tứ trấn: đền Voi Phục giữ phương Tây. Ba ngôi còn lại là đền Bạch Mã giữ phương Đông thờ thần Long Đỗ, đền Kim Liên giữ phương Nam thờ Cao Sơn Đại Vương, và đền Quán Thánh giữ phương Bắc thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Bốn ngôi không dựng cùng một lúc: Bạch Mã có trước, Voi Phục và Quán Thánh thuộc đời Lý, còn Kim Liên lập muộn nhất, đầu thế kỷ 16. Nói cách khác, vòng bốn phương của Thăng Long không phải một bản vẽ có sẵn rồi cứ thế dựng, mà là một cấu trúc hình thành dần qua năm trăm năm, mỗi đời thêm một góc.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ rất hay lẫn: Hà Nội có hơn một ngôi đền mang tên Voi Phục. Ngoài ngôi ở Thủ Lệ đang nói tới đây, còn một ngôi đền Voi Phục nữa ở vùng Thụy Khuê, cũng thờ Linh Lang, và trong khuôn viên ngôi ấy có chín cây muỗm cổ thụ được công nhận Cây Di sản Việt Nam năm 2010, tuổi cây được xác định khoảng bảy trăm năm. Chỉ ngôi ở Thủ Lệ mới là ngôi trấn phương Tây trong Thăng Long tứ trấn. Việc hai nơi trùng tên, cùng thờ một vị, lại cùng nằm phía tây thành phố khiến nhiều bài viết ghép lẫn số liệu của nơi này sang nơi kia, nên khi tra cứu xin quý vị để ý chữ Thủ Lệ hoặc chữ Thụy Khuê.

Đôi Voi Đá, Mười Hai Bậc Và Hòn Đá Thủng

Đền dàn trên hai cao độ. Phần dưới là nghi môn, sân ngoài, giếng và đôi voi đá; phần trên, sau khi lên bậc, là sân trong với đại bái và hậu cung dựng theo lối chữ công, tức hai nếp nhà ngang nối nhau bằng một nếp dọc ở giữa. Lối chính giữa lên sân trên có mười hai bậc đá, theo lệ cũ chỉ dành cho đám rước đi, còn người thường đi hai lối bên.

Đôi voi đá quỳ phục

Hai khối đá tạc hình voi ở thế quỳ, đặt hai bên lối vào. Đây là thứ đặt tên cho cả ngôi đền. Trong thần tích, vị thần xin vua một con voi để cầm quân, nên hình voi ở đây không phải vật trang trí mà là vật nhắc lại tích.

Giếng vuông trước cửa

Một giếng miệng vuông nằm phía trước lối vào, thường được gọi là giếng ngọc. Theo lối đọc cổ truyền, giếng trước cửa nơi thờ tự đóng vai chỗ tụ nước, tức tụ khí, cho một ngôi đền đặt trên gò cao vốn thiếu nước.

Hòn đá thủng

Một khối đá lớn có lỗ, đặt trong hậu cung và nay giữ trong tủ kính. Truyền thuyết của đền coi đây là hòn đá mà vị thần từng gối đầu. Đây là hiện vật gắn với thần tích, không phải đồ thờ được chế tác.

Đại bái và hậu cung

Hai lớp nhà trên sân trong. Đại bái là nơi hành lễ, có hoành phi câu đối sơn son thếp vàng; hậu cung đặt ngai thờ chạm rồng và tượng thờ vị thần cùng các vị hầu cận.

Cần nói thẳng một điều về tuổi của các cấu kiện. Đền khởi dựng năm 1065 nhưng không còn gỗ đời Lý. Bộ khung và phần lớn trang trí hiện thấy thuộc các lớp dựng lại và tu bổ từ giữa thế kỷ 20 trở đi, trong đó hai đợt lớn là năm 2000 và năm 2009. Riêng đôi voi đá và hòn đá thủng, do là đá nên trụ lại được lâu hơn gỗ, và đó là lý do chúng trở thành cái mà người ta nhớ về ngôi đền này.

Quý vị cũng nên để ý cách đền dùng độ cao. Độ cao của gò được giữ nguyên trong khi mặt đường bên ngoài đã nâng lên qua nhiều đợt làm đường, nên ngôi đền hôm nay không còn nổi cao trên cảnh quan như xưa, dù bản thân nó chưa hạ xuống một tấc nào.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay thần tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là cái gò. Đền không dựng trên đất bằng mà dựng trên một gò cao của làng Thủ Lệ. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì một gò đất nhô lên được đọc như một ngọn núi nhỏ, gọi là đột. Đặt nơi thờ lên đột là đặt vào chỗ cao ráo, nơi khí không bị nước ứ làm tán, và cũng là cách tạo ra cái thế trên dưới rõ rệt giữa người tới lễ và nơi được thờ. Mười hai bậc đá ở lối giữa chính là cái thế ấy được làm thành hình.

Kế đến là phương vị và ngũ hành. Phương Tây thuộc hành Kim, sắc trắng, ứng với mùa thu, với sự thu lại và với việc binh. Trong bốn ngôi tứ trấn, ngôi giữ phương Tây là ngôi ứng với lúc khí đã già và đã cứng. Điều ấy khớp lạ với vị thần được thờ: Linh Lang là một vị tướng trẻ trong thần tích, xin voi xin cờ mà đi đánh giặc, tức một vị thần của việc binh chứ không phải của việc mùa vụ. Theo lối đọc cổ truyền, đặt một vị thần chủ về binh vào phương Kim là đặt thần vào đúng hành của mình.

Thứ ba là nước và cây. Phía sau và bên đền là vùng hồ cùng vòm cây rậm của khu công viên, tức có nước tụ ở gần và có cây che ở lưng. Giếng vuông trước cửa bù thêm một chỗ tụ nước ngay trên gò. Trong phép xem đất, gò cao thì được cái khô ráo mà mất cái tụ, nên người xưa hay đào giếng hoặc đào ao trước cửa để lấy lại phần đã mất. Việc ngôi đền này giữ cả gò, cả giếng và cả cây là giữ được ba thứ vốn ít khi có đủ cùng một chỗ.

Sau cùng là hướng nhìn. Đền nhìn ra phía trục đường lớn ở phía trước, tức nhìn về phía trống và thấp, đúng lối chuẩn mực là lưng tựa chỗ cao, mặt trông chỗ thoáng. Cái khác so với ba ngôi kia trong tứ trấn là ở đây chỗ thoáng ấy nay là đường xe chứ không còn là ruộng và đầm như xưa. Quý vị đọc thế đất nơi này thì nên đọc cả cái nền cũ ấy, vì hình thế thật của một nơi thờ tự cổ nằm ở địa hình lúc nó được dựng, chứ không nằm ở mặt phố hôm nay.

Hội Tháng Hai Của Bốn Làng

Hội đền mở vào tháng Hai âm lịch, chính hội là ngày mùng 10, mở đầu bằng phần tiền hội ngày mùng 9. Có nguồn ghi hội kéo tới ngày 11, có nguồn chỉ ghi hai ngày mùng chín và mùng mười; chúng tôi nêu cả hai cách ghi. Điểm đáng nói nhất của hội này không nằm ở nghi thức mà nằm ở chỗ nó là hội của nhiều làng cùng thờ một vị, chứ không phải hội riêng của một làng.

Trình tự các nghi thức chính trong kỳ hội. Nguồn: Tư liệu giới thiệu di tích và các bản tin về hội đền Voi Phục..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Ngày mùng 9 tháng HaiLễ cáo thỉnhNgười trông giữ đền làm lễ cáo thỉnh Đức Thánh, mở đầu cho cả kỳ hội.
Ngày mùng 9 tháng HaiTế Thánh và dâng hươngLễ tế của đội tế nam quan, sau đó là lễ dâng hương của đại diện bốn đình Ngọc Khánh, Yên Hòa, Xa La và Hào Nam, những nơi cùng thờ Linh Lang.
Ngày mùng 10 tháng HaiRước bốn cỗ kiệuChính hội. Bốn cỗ kiệu từ bốn đình nói trên rước về đền, hợp thành một đám rước chung, kèm múa rồng, múa lân, múa sư tử và múa sênh tiền.
Ngày mùng 10 tháng HaiĐại tế và bái yếtLễ tế chính tại đền, sau đó các đoàn lần lượt bái yết trước hậu cung.
Trong kỳ hộiTrò và thiCác trò của hội làng vùng này gồm thi cờ tướng, biểu diễn võ thuật và một số trò dân gian khác.

Cái hay của hội này là ở bốn cỗ kiệu. Bốn đình cùng thờ Linh Lang mang kiệu của mình về đền, nghĩa là trong một ngày, bốn bản thần tích hơi khác nhau của bốn làng cùng tụ lại trước một hậu cung. Đây là hình ảnh rõ nhất cho thấy tín ngưỡng thành hoàng vận hành thế nào: không có một giáo hội nào quy định bản nào đúng, mà các làng cùng giữ vị thần của mình, mỗi làng một lối, rồi mỗi năm gặp nhau một lần.

Ngoài kỳ hội tháng Hai, đền còn đông vào dịp đầu xuân và các ngày rằm mùng một. Nhiều người Hà Nội giữ lệ đi đủ bốn ngôi tứ trấn trong những ngày đầu năm.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Công viên Thủ Lệ, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình cũ, Hà Nội
Đường tới
Nằm bên công viên Thủ Lệ, phường Ngọc Khánh, thuộc địa bàn quận Ba Đình cũ, Hà Nội, ngay cạnh trục đường Kim Mã. Đôi voi đá ở lối vào là dấu dễ nhận nhất từ ngoài đường.
Toạ độ
21.033, 105.8105
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào hậu cung, không chạm tay vào đôi voi đá, hòn đá thủng và đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức. Theo lệ cũ, mười hai bậc đá ở lối chính giữa dành cho đám rước, người tới lễ đi hai lối bên. Ngày hội tháng Hai, sân đền và lối vào rất đông vì bốn đám rước cùng về, xin quý vị theo hướng dẫn tại chỗ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Đền Voi Phục thờ ai

Thờ Linh Lang Đại Vương, theo thần tích là một hoàng tử đời Lý sinh ra ở vùng ven hồ phía tây kinh thành, sau khi hóa được dân các làng quanh đó thờ làm thành hoàng và được các triều phong tới hàng thượng đẳng phúc thần. Đền vì vậy còn có tên Tây Trấn Từ và tên đền Linh Lang.

Vì sao gọi là đền Voi Phục

Vì trước lối vào có hai con voi đá tạc ở thế quỳ, đầu chúc xuống, chân trước gập lại. Voi phục nghĩa là voi quỳ. Hình voi ở đây gắn với thần tích: vị thần được thờ đã xin vua cấp cho một con voi và một lá cờ lớn rồi cầm quân đi đánh giặc, nên đôi voi đá là vật nhắc lại tích ấy.

Hòn đá thủng trong đền là gì

Là một khối đá lớn có lỗ, hiện đặt trong hậu cung và giữ trong tủ kính. Truyền thuyết của đền coi đây là hòn đá mà vị thần từng gối đầu lúc sinh thời. Đây là hiện vật gắn với thần tích chứ không phải một đồ thờ được chế tác, và cùng với đôi voi đá, nó là thứ cổ hơn phần lớn cấu kiện gỗ của đền.

Hội đền Voi Phục vào ngày nào

Vào tháng Hai âm lịch, tiền hội ngày mùng chín và chính hội ngày mùng mười; có nguồn ghi hội kéo tới ngày mười một. Chính hội có bốn cỗ kiệu từ bốn đình Ngọc Khánh, Yên Hòa, Xa La và Hào Nam cùng rước về đền, kèm lễ đại tế, múa rồng, múa lân và các trò của hội làng.

Hà Nội có mấy đền Voi Phục

Có hơn một nơi mang tên này. Ngoài ngôi ở Thủ Lệ, còn một đền Voi Phục ở vùng Thụy Khuê cũng thờ Linh Lang, trong khuôn viên có chín cây muỗm được công nhận Cây Di sản Việt Nam năm 2010. Chỉ ngôi ở Thủ Lệ mới là ngôi trấn phương Tây trong Thăng Long tứ trấn, nên khi tra cứu cần để ý tên làng.

Đọc Tiếp