Đường vào chùa là một lối nhỏ xuyên rừng thông trên đồi Dương Xuân, hai bên là mộ và tháp cũ. Hết lối thông, quý vị gặp một cái hồ hình bán nguyệt nước xanh sẫm, sau hồ là cổng tam quan hai tầng: ba vòm cửa cuốn ở dưới, một lầu nhỏ ở trên có tượng Hộ Pháp. Qua cổng là sân, là chánh điện, và nếu đi lệch sang bên phải theo một lối cỏ, quý vị gặp một khu tường vôi vây kín với mấy chục nấm mộ xếp thành ba bậc.
Khu mộ ấy làm nên cái riêng của ngôi chùa này. Người nằm trong đó là các thái giám của triều Nguyễn, những người đã sống hết đời trong hoàng cung mà không có gia đình, không có con cháu lo phần hậu sự. Họ gửi thân vào một ngôi chùa mang tên hai chữ Từ Hiếu, mà hai chữ ấy lại sinh ra từ chuyện một vị hòa thượng nuôi mẹ già.

壹Hai Chữ Từ Hiếu
Tên đầu của chùa không phải Từ Hiếu mà là An Dưỡng Am, nghĩa là cái am để nghỉ yên: một thảo am nhỏ do Hòa thượng Nhất Định dựng năm 1843 trên triền đồi Dương Xuân, sau khi ngài rời chức vụ trong tăng cang để về ở riêng, mang theo người mẹ già.
Hai chữ Từ Hiếu tới sau, và tới bằng một sắc ban của nhà vua. Từ là lòng thương, đức lớn của nhà Phật; hiếu là đạo làm con. Văn bia của chùa ghi đại ý rằng từ là đức lớn nhất của nhà Phật, hiếu là hạnh đứng đầu của nhà Phật. Chữ Hán của tên chùa nêu trong bài là chữ theo tư liệu chữ nghĩa, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể trong chùa.
Chuyện gắn với cái tên được các tài liệu về chùa kể khá thống nhất. Hòa thượng Nhất Định về ở tại am, nuôi mẹ già đang bệnh. Thầy thuốc nói bệnh ấy cần thức ăn có chất tươi. Theo lệ nhà chùa thì tăng sĩ trường trai, nên ngài tự mình đi bộ xuống chợ mua cá thịt về nấu riêng cho mẹ, mỗi ngày một lần, đường đi chừng năm cây số qua rừng. Người ngoài thấy một vị hòa thượng cầm cá thịt đi trên đường thì sinh tiếng, rồi tiếng ấy lan tới tai triều đình.
Vua Tự Đức cho người đi xem xét. Khi biết rõ đầu đuôi, nhà vua không khiển trách mà còn cảm phục, và về sau ban cho chùa tên Từ Hiếu Tự. Cần nói rõ mức độ chắc chắn: việc chùa được ban tên Từ Hiếu là điều các tài liệu cùng ghi, còn các chi tiết của câu chuyện thuộc lớp truyền kể của nhà chùa. Hòa thượng Nhất Định tịch năm 1847 hoặc 1848 theo các nguồn khác nhau.
Câu chuyện ấy dễ bị đọc như một chuyện cảm động lẻ, nhưng nó nằm đúng trong giáo nghĩa. Trong Phật giáo Bắc tông, hiếu không phải một đức phụ thêm cho hợp phong tục Á Đông, mà là một hạnh được kinh sách nói rất nặng. Kinh Vu lan bồn kể chuyện ngài Mục Kiền Liên, đại đệ tử của Đức Phật, cứu mẹ khỏi cảnh khổ, và từ bản kinh ấy sinh ra lễ Vu lan rằm tháng Bảy. Câu quen nói trong giới tăng sĩ, tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật, nói đúng chỗ đứng ấy. Việc Hòa thượng Nhất Định mua cá thịt nuôi mẹ vì thế không phải chuyện phá giới mà là chuyện chọn hạnh nào nặng hơn.
Chỗ hay hiểu lầm ở nơi này là tên gọi thứ hai của chùa. Dân gian quen gọi Từ Hiếu là chùa Thái Giám, và từ đó nhiều người hiểu rằng chùa do các vị thái giám lập ra. Không phải. Chùa do Hòa thượng Nhất Định dựng, ban đầu là thảo am An Dưỡng Am; các vị thái giám tới sau, trong vai người cúng của và người xin gửi phần hậu sự. Công của họ là công góp tiền mở rộng am thành chùa và công lập nên khu mộ, chứ không phải công khai sơn.
Cũng theo lối ấy, có người hiểu khu mộ kia là nghĩa trang do triều đình lập cho quan lại. Cũng không phải. Theo nội dung tấm bia trong khu mộ, đây là việc do chính những người ấy đứng ra làm cho mình: bia ghi đại ý rằng sống thì nương cửa Phật, chết thì biết nương vào đâu, nên thấy khoảng đất trống bèn xây tường gạch để có chỗ thờ tự sau này. Nhà vua và bà Hoàng thái hậu chuẩn thuận và có hỗ trợ, nhưng người khởi ý là người trong cuộc.
貳Từ Thảo Am Tới Tổ Đình
Lịch sử chùa Từ Hiếu đi theo một đường khá lạ so với các tổ đình khác ở Huế: nó bắt đầu rất nhỏ, từ một cái am tranh dựng cho hai người ở, rồi lớn lên nhờ tiền cúng của một nhóm người đặc biệt, và mỗi lần lớn lên lại để lại một hạng mục kiến trúc hôm nay còn đứng.
- 1843Dựng An Dưỡng AmHòa thượng Nhất Định dựng một thảo am trên triền đồi Dương Xuân, đặt tên An Dưỡng Am, và về đây ở cùng người mẹ già.
- 1848Mở rộng thành chùa và ban tên Từ HiếuSau khi Hòa thượng Nhất Định tịch, các vị thái giám xin triều đình giúp mở rộng thảo am thành ngôi chùa quy mô; thái giám Châu Phước Năng vận động các đồng liêu dồn tiền của tích góp. Vua Tự Đức ban cho tên Từ Hiếu Tự.
- 1893Lập khu mộ và dựng biaKhu mộ dành cho các vị thái giám được xây trong khuôn viên chùa, có tường gạch vây quanh và một tấm bia đá ghi lại lý do lập khu mộ.
- 1894 và 1895Đợt trùng tu lớnChùa được trùng tu trong hai năm này, một trong các đợt sửa chữa lớn nhất của thế kỷ 19.
- 1931Xây hồ bán nguyệtHồ hình bán nguyệt trước cổng được xây, kèm bức bình phong ghi bốn chữ Bát công đức thủy, tức nước có tám công đức theo cách nói nhà Phật.
- 1942 và 2018Chốn tổ của Thiền sư Thích Nhất HạnhNăm 1942, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, thế danh Nguyễn Xuân Bảo, sinh năm 1926, xuất gia tại Tổ đình, thọ giáo với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật. Tháng 10 năm 2018 ngài trở về Tổ đình an dưỡng những năm cuối đời và viên tịch tại đây ngày 22 tháng 1 năm 2022.
Về dòng truyền thừa, Từ Hiếu thuộc mạch Lâm Tế qua nhánh Liễu Quán, tức dòng thiền chiếm phần lớn các chùa xứ Huế. Cáo phó do Tổ đình công bố năm 2022 ghi Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuộc đời thứ 42 của dòng ấy, con số cho thấy mạch truyền vẫn được đếm liên tục từ thế kỷ 18 tới nay. Ngoài các mốc đã công bố rộng rãi là việc xuất gia tại chùa và việc trở về an dưỡng những năm cuối đời, bài này không bàn gì thêm.
Một điểm niên đại cần ghi thẳng: nguồn vênh nhau về năm dựng tổ đình. Có tài liệu lấy năm 1843, tức năm dựng thảo am, và bảng tra của thư viện cũng ghi năm này; một nghiên cứu về kiến trúc tổ đình lại lấy năm 1848, tức năm mở rộng thành chùa.
參Hồ Bán Nguyệt, Cổng Hai Tầng Và Khu Mộ
Khu chùa dựng theo lối chữ khẩu, tức bốn dãy nhà quây lấy một sân trong thành một khung kín: chánh điện ở trục giữa, nhà Đông và nhà Tây hai bên, Quảng Hiếu Đường phía sau. Trang trí dùng ba nghề cùng lúc: nề ngõa tức khảm sành sứ trên mặt vôi, chạm khắc gỗ trên cửa và bộ vì kèo, và sơn son thiếp vàng trên bàn thờ cùng hoành phi câu đối, ba nghề đặc trưng của kiến trúc Huế thời Nguyễn.
Xây năm 1931, ngay trước cổng, hình nửa vành trăng, trồng sen và thả cá. Bức bình phong bên hồ ghi bốn chữ Bát công đức thủy, chỉ tám công đức của nước theo cách nói nhà Phật.
Tầng dưới ba vòm cửa cuốn, tầng trên là một lầu nhỏ thờ tượng Hộ Pháp. Kiểu cổng có lầu như vậy không nhiều trong các chùa Huế, làm cho cái cổng vừa là cửa vào vừa là một điện thờ nhỏ.
Chánh điện dựng theo lối trùng thiềm điệp ốc, tức hai bộ mái nối nhau trên cùng một khối nhà, ba gian hai chái. Quảng Hiếu Đường là dãy nhà phía sau, khép lại hình chữ khẩu, đặt ban thờ các vị có công với chùa, trong đó có ban dành cho các vị thái giám.
Tháp mộ chư tổ đặt rải trong vườn thông quanh chùa. Riêng khu mộ thái giám là một khoảnh chừng 1.000 mét vuông có tường gạch vây kín, các nấm mộ xếp thành ba bậc, kèm một tấm bia đá ghi lý do lập khu mộ.
Khu mộ các vị thái giám
Đây là phần cần nói kỹ, vì là thứ không nơi nào khác trong nước còn giữ được. Thái giám là những người đàn ông phục vụ trong hậu cung, coi việc nội đình, và theo lệ họ không có vợ con. Khi tuổi già hoặc khi bệnh, họ phải rời khỏi cung, mà ra khỏi cung thì không có nhà để về, không có con cháu lo phần cúng giỗ; theo nếp thờ tự cổ truyền của người Việt, không có người cúng tức là không có chỗ trong trật tự của người chết.
Lối thoát họ chọn là gửi thân vào cửa chùa. Theo các tư liệu về khu mộ, thái giám Châu Phước Năng là người khởi ý: thấy các đồng liêu tuổi cao bị đưa ra khỏi cung mà không có nơi nương tựa, ông vận động mọi người dồn tiền của tích góp để mở rộng ngôi chùa của Hòa thượng Nhất Định, và xin lấy một khoảng đất trong khuôn viên làm chỗ chôn cất về sau. Mộ của ông nay nằm ở bậc cao nhất trong ba bậc của khu mộ, đúng theo cách người xưa xếp thứ bậc theo công đóng góp.
Về số lượng mộ, nguồn ghi vênh nhau: một số bài ghi 24 mộ, một số ghi 25 mộ, trong đó hai ngôi là mộ gió, tức mộ không có thi hài. Khoảng chênh này nhiều khả năng đến từ chỗ có đếm hai ngôi mộ gió hay không, nhưng chưa tra được bản kiểm kê chính thức nào để nói dứt điểm. Phần lớn các mộ chỉ khắc tên và niên đại. Nội dung tấm bia chung trong khu mộ là thứ đáng đọc nhất ở đây, vì mấy câu ấy nói ra hoàn cảnh của cả một lớp người, gọn hơn bất cứ lời bình nào có thể thêm vào.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Chùa nằm trên triền đồi Dương Xuân, thuộc dải gò đồi phía tây nam Kinh thành Huế, giữa một rừng thông. Theo phép xem đất, vùng gò đồi là vùng có mạch, và đây cũng là dải đất người xưa dùng để đặt phần lớn lăng tẩm và chùa chiền của xứ Huế. Chùa nằm trên triền đồi chứ không trên đỉnh, và cái chọn ấy đúng lối: đỉnh thì lộ và cô, triền thì có đất cao sau lưng làm hậu chẩm mà vẫn có chỗ bằng phía trước để dựng nhà.
Rừng thông bao quanh làm việc của tả long hữu hổ, tức hai bên che chắn: khi địa hình không có hai dãy đồi thật để làm hai tay ngai thì cây cối rậm hai bên đảm nhận vai trò ấy, giữ cho khí không tản ngang. Thông lại là loài cây quen được trồng ở nơi có mộ phần, và điều này dẫn tới một đặc điểm của chính ngôi chùa: khuôn viên Từ Hiếu vừa là chỗ thờ Phật vừa là chỗ có nhiều mộ. Thế đất rừng thông trên đồi hợp cho cả hai việc ấy cùng lúc.
Phía trước, hồ bán nguyệt là hạng mục đáng đọc nhất về mặt phong thủy. Nơi này không có sông hay hồ tự nhiên trước cửa, nên người ta đào một cái hồ. Trong phép cũ, một mặt nước hình nửa vành trăng đặt trước cửa được gọi là minh đường có thủy tụ: nước giữ khí lại không cho xổ thẳng ra ngoài, mặt nước phản sáng vào mặt công trình, và vòng cung của bờ hồ thì ôm lấy lối vào. Hồ xây năm 1931, tức dựng thêm rất muộn so với ngôi chùa, cho thấy người sau vẫn tiếp tục hoàn thiện thế đất theo lối cũ.
Sau cùng là chỗ đặt khu mộ trong tổng thể. Khu mộ thái giám không nằm trên trục chính từ cổng vào chánh điện, mà lệch sang một bên, có tường gạch vây kín thành một khoảnh riêng. Đọc theo lối cổ truyền, đó là cách xếp đúng phép: người chết có chỗ riêng trong cùng một khuôn viên, gần để hưởng khói hương nhà chùa, nhưng không chen vào trục thờ Phật.
伍Lễ Tiết Và Ngày Giỗ Chung
Lễ tiết ở Từ Hiếu theo lịch chung của Phật giáo Bắc tông, tính bằng âm lịch. Nhưng ở đây có hai ngày mang nghĩa riêng: rằm tháng Bảy, vì tên chùa là Từ Hiếu, và rằm tháng Mười Một, ngày giỗ chung của các vị thái giám.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng nguyên | Lễ đầu năm, tụng kinh cầu an, dịp đông người lui tới trong quãng đầu xuân. |
| Rằm tháng Tư | Lễ Phật đản | Kính ngày Đức Phật đản sinh, một trong hai lễ lớn nhất trong năm của chùa. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu lan báo hiếu | Lễ báo hiếu cha mẹ theo kinh Vu lan bồn. Tại ngôi chùa mang tên Từ Hiếu, đây là ngày lễ khớp nghĩa nhất với tên chùa, cũng là ngày đông người nhất. |
| Rằm tháng Mười Một | Giỗ chung các vị thái giám | Theo lệ chùa, hằng năm tới ngày này chùa tổ chức lễ giỗ chung để tưởng nhớ các vị thái giám triều Nguyễn nằm trong khu mộ, vì họ không có con cháu lo phần cúng giỗ. |
| Mùng 8 tháng Chạp | Lễ Phật thành đạo | Kỷ niệm ngày Đức Phật thành đạo, trong khuôn khổ lễ tiết thường niên. |
| Mùng một và ngày rằm hằng tháng | Lệ thường kỳ | Nhịp tụng kinh và dâng hương đều đặn quanh năm của chùa và của Phật tử trong vùng. |
Ngày giỗ chung rằm tháng Mười Một là nét đáng để ý nhất trong lịch lễ của nơi này. Trong nếp thờ tự cổ truyền của người Việt, người chết không có con cháu thờ tự thì thành ra không ai lo, và các gia đình dòng họ không có cách nào nhận phần việc ấy thay. Nhà chùa thì có: một ngôi chùa có thể nhận cả một lớp người vào hàng thờ tự của mình và lo cúng giỗ đều đặn. Lễ giỗ ở Từ Hiếu là một ví dụ còn chạy đủ của cơ chế ấy, và nó đã chạy liên tục hơn một trăm năm.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Dương Xuân Thượng, phường Thủy Xuân, thành phố Huế
- Đường tới
- Chùa ở thôn Dương Xuân Thượng, phường Thủy Xuân, thành phố Huế, cách trung tâm chừng năm cây số về phía tây nam, trong một khu rừng thông trên đồi. Lối vào là một đường nhỏ xuyên rừng.
- Toạ độ
- 16.4444, 107.5722
Đây là ngôi chùa đang sinh hoạt, có chư tăng ở, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và các gian thờ trong, đi nhẹ nói khẽ, chắp tay chào chư tăng khi gặp. Ở khu mộ thái giám, xin quý vị đi theo lối giữa các hàng mộ, không bước lên nấm mộ, không đặt chân hay đặt đồ lên tấm bia; đây là mộ phần của người không có con cháu, nên phần giữ gìn thuộc về người đến sau.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao chùa có tên là Từ Hiếu
Tên do vua Tự Đức ban. Từ là lòng thương, đức lớn của nhà Phật; hiếu là đạo làm con. Tên gắn với chuyện Hòa thượng Nhất Định, người dựng thảo am An Dưỡng Am năm 1843, hằng ngày tự đi bộ xuống chợ mua cá thịt về nấu riêng cho mẹ già đang bệnh theo lời thầy thuốc. Khi rõ đầu đuôi, nhà vua cảm phục và ban cho chùa tên Từ Hiếu Tự.
Chùa Từ Hiếu có phải do các thái giám lập không
Không. Chùa do Hòa thượng Nhất Định dựng năm 1843 với tên An Dưỡng Am. Các vị thái giám triều Nguyễn tới sau, trong vai người cúng của: họ góp tiền mở rộng am thành chùa và xin một khoảng đất trong khuôn viên làm khu mộ cho mình. Tên dân gian chùa Thái Giám nói đúng công của họ nhưng nói lệch về thứ tự trước sau.
Khu mộ thái giám ở chùa Từ Hiếu có bao nhiêu ngôi mộ
Nguồn ghi vênh nhau: một số bài ghi 24 mộ, một số ghi 25 mộ, trong đó hai ngôi là mộ gió không có thi hài. Khu mộ rộng chừng 1.000 mét vuông, có tường gạch vây kín, các mộ xếp thành ba bậc theo thứ bậc và công đóng góp; mộ thái giám Châu Phước Năng, người khởi ý lập khu mộ, nằm ở bậc cao nhất.
Vì sao các thái giám lại chọn chùa Từ Hiếu làm nơi an nghỉ
Vì theo lệ họ không có vợ con, khi tuổi già phải rời khỏi hoàng cung thì không có nhà để về và không có con cháu lo phần cúng giỗ. Tấm bia trong khu mộ ghi đại ý rằng sống thì nương cửa Phật, chết thì biết nương vào đâu, nên thấy khoảng đất trống bèn xây tường gạch để có chỗ thờ tự về sau.
Chùa Từ Hiếu có liên quan gì tới Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Đây là chốn tổ của ngài. Thiền sư Thích Nhất Hạnh, thế danh Nguyễn Xuân Bảo, sinh năm 1926, xuất gia tại Tổ đình Từ Hiếu năm 1942, thọ giáo với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật. Tháng 10 năm 2018 ngài trở về Tổ đình an dưỡng những năm cuối đời, và viên tịch tại đây ngày 22 tháng 1 năm 2022, trụ thế 96 năm.