VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Côn Sơn

天資福寺 · Thiên Tư Phúc Tự, chùa Hun

Chốn tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm, nơi vị tổ cuối trong ba tổ trụ trì và viên tịch, đất mà rừng thông, giếng đá và văn chương cùng ở một chỗ.

Tên chữ
Thiên Tư Phúc Tự
nghĩa là chùa được trời ban phúc
Đăng Minh bảo tháp
3 tầng
tháp mộ Đệ tam tổ Huyền Quang, cao khoảng 6 m
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 548 ngày 10 tháng 5 năm 2012

Qua tam quan, quý vị đi vào một con đường đất nện chạy giữa hai hàng thông già, tiếng lá reo trên đầu nghe rõ hơn tiếng người. Hết đường thông là sân chùa, ba lớp nhà thấp lợp ngói, rồi phía sau chùa là vườn tháp, và trong vườn tháp ấy có một ngọn tháp đá ba tầng nhỏ mà chắc, nằm dưới bóng cây. Đó là Đăng Minh bảo tháp, tháp mộ của Đệ tam tổ Huyền Quang.

Chỗ này không lớn. Chùa Côn Sơn không có tháp chín tầng, không có pho tượng khổng lồ, không có sân rộng cho hàng vạn người. Cái làm nó thành một trong những địa chỉ trọng nhất của Phật giáo Việt Nam là vị thế trong dòng thiền: đây là một trong ba chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm, cùng với Yên Tử và Vĩnh Nghiêm, và là nơi vị tổ cuối trong ba tổ về trụ trì rồi viên tịch.

Chùa Côn Sơn
Chùa Côn Sơn. Ảnh: Hoangkid, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Ba Chốn Tổ Và Đệ Tam Tổ Huyền Quang

Chùa mang nhiều tên. Tên chữ là Thiên Tư Phúc Tự, nghĩa là chùa được trời ban cho phúc lành; bốn chữ Hán ở đầu trang này là tên chữ ấy, còn tấm bia lục lăng đang giữ tại chùa lại đề Côn Sơn Tư Phúc tự bi, khuyết chữ Thiên. Hai cách chép vênh nhau ở một chữ, chúng tôi ghi cả hai. Tên dân gian là chùa Hun, gọi theo lệ đốt cỏ hun núi trong vùng, dù nguồn gốc chữ hun ấy các tài liệu giải thích không giống nhau. Núi chùa ngồi trên có tên Kỳ Lân, và cả vùng gọi là Côn Sơn.

Theo giáo nghĩa

Trúc Lâm là thiền phái do vua Trần Nhân Tông lập ra vào cuối thế kỷ 13 sau khi ông nhường ngôi và xuất gia. Điều làm phái này khác các dòng thiền truyền từ ngoài vào là nó được lập trên đất Việt và chủ trương nhập thế, tức người tu không tách khỏi việc đời. Phái có ba vị tổ nối nhau: Trần Nhân Tông là Đệ nhất tổ, Pháp Loa là Đệ nhị tổ, Huyền Quang là Đệ tam tổ.

Ba chốn tổ của phái là Yên Tử, Vĩnh NghiêmCôn Sơn, mỗi nơi giữ một phần việc: Yên Tử là nơi khai phái và là núi tu của Đệ nhất tổ; Vĩnh Nghiêm là chốn giảng kinh và lưu trữ mộc bản; Côn Sơn là nơi Đệ tam tổ về trụ trì cuối đời và là chỗ ông nằm lại. Nói chốn tổ là nói ba chỗ ấy, không phải nói ba ngôi chùa lớn nhất.

Theo sử liệu

Huyền Quang, thế danh Lý Đạo Tái, người đỗ đạt cao rồi mới xuất gia, là vị tổ để lại nhiều thơ nhất trong ba tổ. Ông về Côn Sơn trụ trì vào những năm cuối đời, cho mở rộng chùa, và viên tịch năm 1334. Sau khi ông mất, vua Trần Minh Tông cho dựng tháp đặt xá lợi ngay sau chùa và ban tên tháp là Đăng Minh bảo tháp. Ngọn tháp đang thấy hôm nay là bản dựng lại trên nền cũ, ba tầng, cao khoảng sáu mét.

Cần nói rõ một điều về niên đại: chùa khởi dựng từ cuối thế kỷ 13, tức có trước khi Huyền Quang về, và được mở rộng hoàn chỉnh trong thế kỷ 14. Ông không phải người dựng chùa mà là người làm cho chùa thành chốn tổ.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm: bốn chữ Côn Sơn Kiếp Bạc đi liền nhau quen tai đến mức nhiều người tưởng đó là tên một nơi. Thực ra đây là hai địa điểm cách nhau chừng năm cây số, và khác nhau về bản chất thờ tự.

Chùa Côn Sơn là chùa Phật, thuộc thiền phái Trúc Lâm, có tăng, có tượng Phật ở chính điện, có vườn tháp mộ các vị tổ. Đền Kiếp Bạc là đền thờ nhân thần, thờ Hưng Đạo Đại Vương và cả gia đình ông, hệ thần và nghi thức đều thuộc dòng Trần Triều, không thuộc nhà Phật. Hai nơi được gọi gộp vì ba lẽ: cùng nằm trên đất Chí Linh cũ, cùng chung một hồ sơ di tích được xếp hạng năm 2012, và cùng chung một guồng lễ hội hai kỳ xuân thu. Ba lẽ ấy là lẽ hành chính và lẽ địa lý, không phải lẽ tông phái. Đi cả hai nơi trong một chuyến tức là bước từ một nếp thờ tự sang một nếp thờ tự khác, dù đường đi chỉ mất mươi phút.

Bảy Trăm Năm Của Một Sườn Núi

Lịch sử chùa Côn Sơn là lịch sử của một chỗ mà hết lượt người này lại lượt người khác tìm về để tu, để ở ẩn, hoặc để viết. Từ thế kỷ 14 sang thế kỷ 15, nơi này liên tục có người của những dòng khác nhau về sống, và mỗi lượt để lại một lớp dấu.

  • Cuối thế kỷ 13Khởi dựng chùa
    Chùa được dựng trên núi Kỳ Lân, rồi mở rộng và hoàn chỉnh dần trong thế kỷ 14, thời thiền phái Trúc Lâm đang thịnh.
  • Khoảng 1329Huyền Quang về trụ trì
    Đệ tam tổ Trúc Lâm về Côn Sơn những năm cuối đời, cho mở rộng chùa và biến nơi này thành một trung tâm của phái.
  • 1334Huyền Quang viên tịch
    Ông mất tại Côn Sơn. Vua Trần Minh Tông cho dựng tháp đặt xá lợi sau chùa và ban tên Đăng Minh bảo tháp.
  • Thời Long KhánhBia Thanh Hư động
    Tấm bia khắc ba chữ Thanh Hư động, tương truyền do vua Trần Duệ Tông tự tay đề, gắn với việc quan Tư đồ Trần Nguyên Đán về dựng chỗ ở ẩn trong thung lũng này. Bia nay là bảo vật quốc gia.
  • 1385 tới 1390Trần Nguyên Đán về Côn Sơn
    Ông về sống ở Thanh Hư động, cho tu bổ chùa và trồng rừng thông trên núi. Rừng thông Côn Sơn hôm nay là hậu duệ của lớp cây ấy.
  • Từ 1435Nguyễn Trãi về Côn Sơn
    Cháu ngoại của Trần Nguyên Đán, từng ở đây lúc nhỏ, về sau trở lại dựng nhà đọc sách, cho mở rộng chùa và viết bài Côn Sơn ca.
  • 1607Bia lục lăng Côn Sơn Tư Phúc tự
    Tấm bia sáu mặt dựng thời Lê, ghi việc trùng tu và công đức, nay được công nhận bảo vật quốc gia. Chùa còn giữ hơn ba chục tấm bia các thời Trần, Lê và Nguyễn.
  • 2024 và 2025Bảo vật quốc gia và Di sản thế giới
    Bộ tượng Tam thế Phật của chùa được công nhận bảo vật quốc gia theo Quyết định số 73 ngày 18 tháng 1 năm 2024. Ngày 12 tháng 7 năm 2025, quần thể Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi vào Danh mục Di sản Thế giới tại kỳ họp thứ bốn mươi bảy ở Paris.
Theo sử liệu

Về niên đại tấm bia Thanh Hư động, các nguồn ghi khác nhau. Tài liệu của cơ quan quản lý khu di tích ghi bia được vua Trần Duệ Tông đề tặng năm 1372; tài liệu khác ghi bia thuộc thời Long Khánh, tức khoảng 1373 tới 1377. Cả hai cách ghi đều quy về cùng một triều và cùng một sự việc, chênh nhau trong vài năm, nhưng chúng tôi chưa tra được bản dập nào nói dứt điểm nên ghi cả hai.

Chùa, Vườn Tháp Và Những Chỗ Ngoài Chùa

Khu thờ chính dựng theo lối chữ công, gồm tiền đường năm gian hai chái, thiêu hương ba gian nối vào, rồi thượng điện ba gian trong cùng. Hai bên là hai dãy hậu hành lang, mỗi dãy hai mươi chín gian, dài hơn bảy mươi lăm mét, khép khu chùa lại thành một khung. Theo tài liệu của cơ quan quản lý di tích, quy mô nguyên vẹn của chùa xưa lên tới tám mươi ba gian; những gì còn đứng hôm nay là phần sót lại cùng các hạng mục phục dựng.

Đăng Minh bảo tháp

Tháp mộ Đệ tam tổ Huyền Quang trong vườn tháp sau chùa, ba tầng, cao khoảng sáu mét, dựng lại trên nền cũ. Trong tháp đặt xá lợi và tượng của ông.

Giếng Ngọc

Giếng đá nằm dưới chân khu vườn tháp. Theo truyền tụng, Huyền Quang được một vị tiên báo mộng chỉ chỗ mạch nước. Nước giếng được lấy dùng trong việc cúng của chùa và người đi lễ có lệ uống một ngụm.

Cửu phẩm liên hoa

Toà tháp xoay chín tầng hoa sen, kiểu công trình đặc trưng của chùa Bắc Bộ, đã mất từ lâu và được phục dựng lại trong khuôn viên chùa; tài liệu của khu di tích cho biết toà này gắn với hệ thống ba trăm tám mươi lăm pho tượng.

Bộ tượng Tam thế Phật

Ba pho tượng gỗ mít sơn son thếp vàng, cao từ 1,55 tới 1,75 mét, thờ ba vị Phật quá khứ, hiện tại và vị lai. Bảo vật quốc gia công nhận năm 2024.

Hệ thống bia đá

Hơn ba chục tấm bia trải các thời Trần, Lê và Nguyễn, trong đó bia Thanh Hư động và bia lục lăng Côn Sơn Tư Phúc tự đều là bảo vật quốc gia. Đây là nguồn sử liệu tại chỗ quan trọng nhất của di tích.

Thanh Hư động và bàn cờ tiên

Hai chỗ đáng đi nhất ở Côn Sơn lại nằm ngoài khuôn viên chùa. Thanh Hư động không phải một cái hang như tên gọi dễ khiến người ta tưởng, mà là một thung lũng ở phía tây chùa, nơi Trần Nguyên Đán dựng chỗ ở ẩn. Trong thung lũng ấy còn nền nhà cũ của Nguyễn Trãi, đền thờ hai vị danh nhân dựng về sau, và dấu cây cầu đá mang tên Thấu Ngọc.

Trên đỉnh núi, đi lên bằng một đường bậc đá dài, là bàn cờ tiên, một khoảng đất khá bằng phẳng có nhà bia dựng theo kiểu vọng lâu hai tầng tám mái. Về độ cao của đỉnh này thì nguồn ghi vênh nhau: có tài liệu ghi khoảng hai trăm mét, có tài liệu ghi hai trăm ba mươi mốt mét so với mực nước biển. Chênh lệch không lớn nhưng chúng tôi ghi cả hai chứ không chọn một.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Chùa đặt trên sườn núi Kỳ Lân, lưng dựa đỉnh núi, mặt trông xuống thung lũng thoáng ở phía dưới. Đây là thế tựa sơn điển hình của chùa núi, và cũng là thế mà nhà Phật chuộng vì lý do rất thực tế: núi chắn gió, dốc thoát nước, và độ cao tách chỗ tu khỏi chỗ ở của làng xã. Bên sườn phía đông là dãy Ngũ Nhạc năm ngọn, trên đó có năm miếu thờ, làm thành một bức che sườn cho cả khu.

Điểm đáng đọc nhất là mạch nước. Trong phép xem đất núi, thứ đáng tìm không phải mặt nước rộng mà là chỗ mạch ngầm trổ ra, vì đó là dấu cho biết lòng núi còn sống. Giếng Ngọc đúng là một chỗ như vậy: giếng nằm ngay dưới chân khu vườn tháp, nước từ mạch núi rỉ ra, trong và không cạn qua nhiều đời. Đặt tháp mộ của vị tổ ngay trên đầu mạch nước ấy, rồi lấy nước ấy làm nước cúng, là cách nối chỗ nằm của người đã mất với mạch sống của núi. Truyền tụng kể chỗ giếng do chính vị tổ được báo mộng mà tìm ra; chuyện ấy thuộc lớp huyền tích, nhưng nó cho thấy người trong chùa từ xưa đã coi cái giếng là huyết mạch của cả khu.

Về trục cao thấp, cả khu bày thành ba tầng rất rõ: thung lũng Thanh Hư ở dưới là chỗ của người đời, nơi có nhà đọc sách và chỗ ở ẩn; sườn núi ở giữa là chỗ của chùa và vườn tháp; đỉnh núi trên cùng là chỗ của bàn cờ tiên, tức chỗ trống không thờ ai. Đọc theo lối cũ thì ba tầng ấy là ba bậc của một đường đi lên, từ việc đời qua việc tu tới chỗ không còn việc gì.

Sau cùng là cái cặp Côn Sơn Kiếp Bạc. Một bên là chùa dựa vào lòng núi, một bên là đền quay mặt ra chỗ sáu dòng sông gặp nhau; một bên thu vào, một bên mở ra. Hai thế đất ấy đối nhau chứ không giống nhau, và người xưa để chúng cạnh nhau mà giữ riêng từng nếp.

Hai Kỳ Hội Xuân Thu

Chùa có hai kỳ hội trong năm, và hai kỳ ấy tưởng niệm hai người khác nhau: hội xuân tháng Giêng cho Đệ tam tổ Huyền Quang, hội thu tháng Tám cho Nguyễn Trãi. Lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012.

Các nghi thức chính trong hai kỳ hội. Ngày tổ chức cụ thể của từng phần có thể xê dịch theo từng năm. Nguồn: Hồ sơ di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn Kiếp Bạc và tài liệu của cơ quan quản lý khu di tích..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Rằm tới 23 tháng GiêngHội xuân Côn SơnKỳ hội mùa xuân. Hồ sơ di tích ghi hội mở từ rằm tới hết tháng Giêng, tài liệu của khu di tích ghi từ ngày 15 tới ngày 23; hai cách ghi vênh nhau ở ngày kết.
Ngày 16 và 18 tháng GiêngLễ rước của các làngCác thôn trong vùng, trong đó có Chúc Thôn và Chi Ngại, tổ chức rước về chùa trong kỳ hội xuân.
Ngày 17 tháng GiêngLễ tế trên Ngũ NhạcNghi thức tế tại hệ thống năm miếu trên dãy Ngũ Nhạc phía đông chùa, gắn với lệ cầu cho mùa vụ và cho cả vùng.
Ngày 23 tháng GiêngGiỗ Đệ tam tổ Huyền QuangNgày trọng nhất của hội xuân, là ngày viên tịch của vị tổ, có lễ tưởng niệm và dâng hương tại nhà Tổ.
Ngày 10 tới 20 tháng TámHội thu Côn SơnKỳ hội mùa thu, đi cùng một guồng với hội mùa thu đền Kiếp Bạc.
Ngày 16 tháng TámTưởng niệm Nguyễn TrãiNgày trọng nhất của hội thu tại khu Côn Sơn, có lễ tưởng niệm tại đền thờ ông trong thung lũng Thanh Hư.

Một điểm nên để ý: hội xuân là hội của nhà chùa, tưởng niệm một vị tổ thiền; hội thu lại tưởng niệm một người ngoài đời, một vị quan và một người viết sách. Một ngôi chùa giữ cả hai kỳ lễ như vậy không phải chuyện thường gặp, và nó nói đúng tính chất của Côn Sơn: chốn tổ của một dòng thiền chủ trương nhập thế, nên chỗ tu và chỗ ở ẩn của người đời nằm chung một sườn núi, lễ tiết cũng theo đó mà thành hai nhánh.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Núi Côn Sơn, phường Cộng Hòa, thành phố Chí Linh cũ, Hải Phòng
Đường tới
Chùa nằm trên núi Côn Sơn, phường Cộng Hòa, thành phố Chí Linh cũ, nay thuộc thành phố Hải Phòng. Đền Kiếp Bạc cách đó chừng năm cây số, hai nơi chung một quần thể di tích nên thường được đi liền một chuyến.
Toạ độ
21.1063, 106.3268
Khi tới nơi

Đây là chùa đang có tăng và đang hành lễ, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các toà nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở thượng điện và nhà Tổ, không chạm vào tượng và mặt bia. Vườn tháp là khu mộ, xin quý vị đi vòng theo lối có sẵn, không bước lên bệ tháp và không đặt đồ lễ lên tháp. Đường lên bàn cờ tiên là bậc đá dài, hẹp ở nhiều đoạn, nên đi một chiều để khỏi vướng người xuống.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Côn Sơn thờ ai

Chính điện thờ Phật theo lối Phật giáo Bắc tông, trong đó có bộ tượng Tam thế Phật là bảo vật quốc gia. Nhà Tổ thờ ba vị tổ thiền phái Trúc Lâm, trọng nhất là Đệ tam tổ Huyền Quang, người trụ trì và viên tịch tại đây. Trong khuôn viên còn có điện Mẫu, và trong thung lũng Thanh Hư có đền thờ Trần Nguyên Đán cùng Nguyễn Trãi.

Ba chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm là những nơi nào

Yên Tử, Vĩnh Nghiêm và Côn Sơn. Yên Tử là nơi khai phái và là núi tu của Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông; Vĩnh Nghiêm là chốn giảng kinh và lưu trữ mộc bản; Côn Sơn là nơi Đệ tam tổ Huyền Quang về trụ trì cuối đời rồi viên tịch năm 1334, nay còn Đăng Minh bảo tháp là tháp mộ của ông.

Đăng Minh bảo tháp là gì

Là tháp mộ của Đệ tam tổ Huyền Quang, dựng trong vườn tháp sau chùa sau khi ông viên tịch năm 1334, tên tháp do vua Trần Minh Tông ban. Ngọn tháp hiện nay là bản dựng lại trên nền cũ, ba tầng, cao khoảng sáu mét, bên trong đặt xá lợi và tượng của ông.

Thanh Hư động có phải một cái hang không

Không. Đây là một thung lũng ở phía tây chùa, nơi quan Tư đồ Trần Nguyên Đán về dựng chỗ ở ẩn vào những năm 1385 tới 1390. Trong thung lũng còn nền nhà đọc sách của Nguyễn Trãi, cháu ngoại ông, cùng đền thờ hai vị và dấu cây cầu đá mang tên Thấu Ngọc. Tấm bia khắc ba chữ Thanh Hư động nay là bảo vật quốc gia.

Côn Sơn và Kiếp Bạc có phải một nơi không

Không. Đây là hai nơi cách nhau chừng năm cây số và khác nhau về thờ tự: Côn Sơn là chùa Phật thuộc thiền phái Trúc Lâm, Kiếp Bạc là đền thờ Hưng Đạo Đại Vương theo dòng Trần Triều. Hai nơi được gọi gộp vì cùng một hồ sơ di tích xếp hạng năm 2012 và cùng một guồng lễ hội hai kỳ xuân thu.

Đọc Tiếp