Qua tam quan, quý vị đi vào một con đường gạch và đất nện chạy giữa hai hàng thông già, tiếng lá reo trên đầu nghe rõ hơn tiếng người. Hết đường thông là sân chùa, ba lớp nhà thấp lợp ngói, rồi phía sau chùa là vườn tháp, và trong vườn tháp ấy có một ngọn tháp đá ba tầng nhỏ mà chắc, nằm dưới bóng cây. Đó là Đăng Minh bảo tháp, tháp mộ của Đệ tam tổ Huyền Quang.
Chỗ này không có pho tượng khổng lồ lộ thiên hay quảng trường cho hàng vạn người. Cái làm chùa Côn Sơn thành một trong những địa chỉ trọng nhất của Phật giáo Việt Nam là vị thế trong dòng thiền cùng ba bảo vật quốc gia còn giữ tại chỗ, bởi đây là một trong những chốn tổ lớn của thiền phái Trúc Lâm gắn với cả Tam Tổ, đặc biệt là nơi Đệ tam tổ Huyền Quang về trụ trì rồi viên tịch.

IChốn Tổ Trúc Lâm Và Đệ Tam Tổ Huyền Quang
Chùa mang nhiều tên. Tên chữ là Thiên Tư Phúc Tự (hoặc Côn Sơn Thiên Tư Phúc Tự), nghĩa là chùa được trời ban cho phúc lành. Bốn chữ Hán ở đầu trang này là tên chữ ấy, còn tấm bia lục lăng đang giữ tại chùa lại đề Côn Sơn Tư Phúc tự bi, khuyết chữ Thiên. Hai cách chép vênh nhau ở một chữ, thư viện ghi cả hai. Tên dân gian là chùa Hun, có tài liệu giải thích theo tích quân của Đinh Bộ Lĩnh đốt củi hun than dẹp loạn mười hai sứ quân ở thế kỷ 10, có tài liệu giải thích theo lệ đốt cỏ hun núi trong vùng. Núi chùa ngồi trên có tên Kỳ Lân (còn gọi là núi Hun), và cả vùng gọi là Côn Sơn.
Trúc Lâm là thiền phái do vua Trần Nhân Tông lập ra vào cuối thế kỷ 13 sau khi ông nhường ngôi và xuất gia. Điều làm phái này khác các dòng thiền truyền từ ngoài vào là nó được lập trên đất Việt và chủ trương nhập thế, tức người tu không tách khỏi việc đời. Phái có ba vị tổ nối nhau gồm Trần Nhân Tông là Đệ nhất tổ, Pháp Loa là Đệ nhị tổ, và Huyền Quang là Đệ tam tổ.
Cùng với Yên Tử, Vĩnh Nghiêm và Quỳnh Lâm, Côn Sơn là một trong những chốn tổ trung tâm của phái, mỗi nơi giữ một phần việc. Yên Tử là nơi khai phái và là núi tu của Đệ nhất tổ, Vĩnh Nghiêm là chốn giảng kinh và lưu trữ mộc bản, còn Côn Sơn là nơi Đệ tam tổ về trụ trì cuối đời và là chỗ ông nằm lại. Nói chốn tổ là nói vị thế trong dòng truyền thừa, không phải nói ngôi chùa lớn nhất.
Theo tư liệu của khu di tích, ngay từ cuối thế kỷ 13, Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông đã tới Côn Sơn dựng am Kỳ Lân làm nơi thuyết pháp. Năm 1304 (và đợt mở rộng lớn năm 1329, niên hiệu Khai Hựu nguyên niên), Đệ nhị tổ Pháp Loa cho xây dựng chùa Thiên Tư Phúc thành một tùng lâm quy mô lớn. Năm 1330, Đệ tam tổ Huyền Quang (thế danh Lý Đạo Tái, sinh năm 1254, người đỗ trạng nguyên rồi mới xuất gia và để lại nhiều thơ văn nhất trong Tam Tổ) về trụ trì chùa Côn Sơn, mở rộng cảnh chùa và lập đài Cửu phẩm liên hoa. Ngày 23 tháng Giêng năm Khai Hựu thứ sáu (1334), ông viên tịch tại chùa. Thái thượng hoàng Trần Minh Tông ban thụy hiệu Trúc Lâm Thiền sư Đệ tam đại, đặc phong Tự pháp Huyền Quang Tôn giả, cấp ruộng thờ và cho dựng Đăng Minh bảo tháp sau chùa để an trí xá lợi. Ngọn tháp đang thấy hôm nay là bản dựng lại trên nền cũ, ba tầng, cao khoảng sáu mét.
Cần nói rõ một điều về niên đại, lớp truyền thuyết đẩy gốc chùa Hun về thời Đinh và Tiền Lê ở thế kỷ 10, còn lớp lịch sử có văn bia xác nhận bắt đầu từ cuối thế kỷ 13 sang đầu thế kỷ 14 dưới tay cả ba vị tổ Trúc Lâm.
Chỗ hay hiểu lầm là bốn chữ Côn Sơn Kiếp Bạc đi liền nhau quen tai đến mức nhiều người tưởng đó là tên một nơi. Thực ra đây là hai địa điểm cách nhau chừng năm cây số, và khác nhau về bản chất thờ tự.
Chùa Côn Sơn là chùa Phật, thuộc thiền phái Trúc Lâm, có tăng, có tượng Phật ở chính điện, có vườn tháp mộ các vị tổ. Đền Kiếp Bạc là đền thờ nhân thần, thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và gia quyến, hệ thần và nghi thức đều thuộc dòng Trần Triều chứ không thuộc nhà Phật. Hai nơi được gọi gộp vì ba lẽ là cùng nằm trên đất Chí Linh cũ, cùng chung một hồ sơ di tích quốc gia đặc biệt xếp hạng năm 2012, và cùng chung một guồng lễ hội hai kỳ xuân thu. Ba lẽ ấy là lẽ hành chính và lẽ địa lý, không phải lẽ tông phái. Đi cả hai nơi trong một chuyến tức là bước từ một nếp thờ tự sang một nếp thờ tự khác, dù đường đi chỉ mất mươi phút.
IIBảy Trăm Năm Của Một Sườn Núi
Lịch sử chùa Côn Sơn là lịch sử của một chỗ mà hết lượt người này lại lượt người khác tìm về để tu, để ở ẩn, hoặc để viết. Từ thế kỷ 14 sang thế kỷ 17, nơi này liên tục có những bậc cao tăng và danh nhân về sống, và mỗi lượt để lại một lớp dấu tích.
- Cuối thế kỷ 13 tới 1329Am Kỳ Lân và chùa Thiên Tư Phúc thời TrầnTrần Nhân Tông lập am Kỳ Lân trên núi Côn Sơn. Năm 1304 và năm 1329, Đệ nhị tổ Pháp Loa mở rộng thành chùa Thiên Tư Phúc quy mô lớn.
- 1330 tới 1334Đệ tam tổ Huyền Quang trụ trì và viên tịchNăm 1330 Thiền sư Huyền Quang về trụ trì, dựng đài Cửu phẩm liên hoa và mở rộng tăng viện. Ông viên tịch ngày 23 tháng Giêng năm 1334, vua Trần Minh Tông cho dựng Đăng Minh bảo tháp sau chùa.
- 1369 tới 1390Trần Nguyên Đán và bia Thanh Hư độngQuan Đại tư đồ Trần Nguyên Đán về dựng Thanh Hư động trên núi Côn Sơn rồi về ở ẩn hẳn giai đoạn 1385 tới 1390. Vua Trần Duệ Tông đề tặng ba chữ Thanh Hư động khắc mặt trước bia, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông soạn bài minh khắc ở mặt sau. Tấm bia được công nhận bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2382/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2015.
- Thế kỷ 15Nguyễn Trãi gắn bó với Côn SơnCháu ngoại của Trần Nguyên Đán, từng sống ở đây lúc nhỏ, về sau trở lại ẩn cư, đọc sách bên phiến đá Thạch Bàn, trông coi việc tu bổ chùa và sáng tác bài Côn Sơn ca.
- 1602 tới 1607Thiền sư Mai Trí Bản đại trùng tu và dựng bia lục lăngNhà sư trụ trì Mai Trí Bản (hiệu Huệ Pháp, tự Pháp Nhẫn) tìm lại bia Thanh Hư động đưa về sân chùa năm 1602, sau đó chủ trì đợt đại trùng tu lên tới 83 gian và dựng tấm bia lục lăng Côn Sơn Tư Phúc tự bi năm Hoằng Định thứ tám (1607). Tấm bia lục lăng được công nhận bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2089/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2017.
- 1962 và 2012Di tích quốc gia và Di tích quốc gia đặc biệtChùa được xếp hạng di tích quốc gia đợt đầu theo Quyết định số 313-VH/QĐ ngày 28 tháng 4 năm 1962, và toàn khu Côn Sơn Kiếp Bạc được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2012.
- 2024Bảo vật quốc gia Bộ tượng Tam thế PhậtBộ tượng Tam thế Phật bằng gỗ mít sơn son thếp vàng niên đại thế kỷ 17 của chùa được công nhận bảo vật quốc gia theo Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 18 tháng 1 năm 2024.
- 2025Di sản văn hóa thế giới UNESCONgày 12 tháng 7 năm 2025, Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi vào Danh mục Di sản Thế giới tại kỳ họp thứ bốn mươi bảy ở Paris.
Về niên đại tấm bia Thanh Hư động, các nguồn ghi chênh nhau vài năm. Một số tài liệu ghi năm 1369 khi Trần Nguyên Đán dựng động hoặc năm 1372, trong khi hồ sơ bảo vật quốc gia ghi bia tạo tác trong niên hiệu Long Khánh (1373 tới 1377) đời vua Trần Duệ Tông, còn mặt sau được nhà sư Mai Trí Bản khắc thêm bài ký vào năm 1602. Về tổng số bia đá tại chùa, bài khảo cứu chuyên ngành Phật học ghi chùa hiện còn 16 văn bia từ thời Trần (thế kỷ 14) đến thời Hậu Lê (thế kỷ 18), trong khi một số tài liệu giới thiệu chung tính gộp cả bia thời Nguyễn và toàn khu di tích thành hơn ba chục tấm. Thư viện ghi rõ cả hai cách thống kê để quý vị đối chiếu.
IIIChùa, Vườn Tháp Và Những Chỗ Ngoài Chùa
Chùa Côn Sơn quay mặt về hướng đông nam. Qua hồ nước phía trước và tam quan hai tầng tám mái, con đường lát gạch dưới rặng thông cổ thụ dẫn vào sân chùa. Khu thờ chính dựng theo lối chữ Công (工), bước qua bảy bậc đá là tới tiền đường năm gian hai chái, nối với thiêu hương ba gian và thượng điện ba gian trong cùng, phía sau là nhà Tổ kiểu chữ Đinh thờ Trúc Lâm Tam Tổ cùng tượng Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi. Theo văn bia năm 1607 thời Thiền sư Mai Trí Bản, quy mô hoàn chỉnh của chùa xưa từng lên tới tám mươi ba gian với hai dãy hành lang dài khép kín, những gì đang đứng hôm nay là phần kiến trúc còn lại kết hợp với các hạng mục phục dựng.
Tháp mộ Đệ tam tổ Huyền Quang nằm bên khu Ao Rùa và vườn tháp sau chùa, ba tầng, cao khoảng sáu mét, dựng lại trên nền cũ. Trong tháp đặt xá lợi và tượng của ông.
Giếng nước tự nhiên nằm ở sườn núi Kỳ Lân ngay dưới chân Đăng Minh bảo tháp. Theo truyền tụng, đêm rằm tháng Bảy sau lễ Vu Lan, Huyền Quang được thần núi báo mộng chỉ chỗ mạch nước để làm nước cúng Phật và lễ mộc dục.
Tòa tháp xoay chín tầng đài sen tượng trưng cho chín phẩm cõi Tịnh Độ, khởi dựng từ thời Tổ Huyền Quang và được Thiền sư Mai Trí Bản tôn tạo năm 1607 với 385 pho tượng chư Phật, nay đã được phục dựng trong nhà phẩm bát giác.
Ba pho tượng Phật Quá Khứ, Hiện Tại và Vị Lai bằng gỗ mít sơn son thếp vàng, cao từ 1,55 tới 1,75 mét, nặng khoảng 100 kg mỗi pho, ngồi kiết già trên tòa sen mang phong cách thời Mạc chuyển sang thời Lê Trung Hưng. Bảo vật quốc gia năm 2024.
Lưu giữ 16 văn bia từ thời Trần đến thời Hậu Lê cùng các bia thời Nguyễn, nổi bật nhất là hai bảo vật quốc gia gồm bia Thanh Hư động (công nhận năm 2015) và bia lục lăng sáu mặt Côn Sơn Tư Phúc tự bi khắc rồng phong cách thời Mạc - Lê (công nhận năm 2017).
Thanh Hư động, Thạch Bàn và Bàn Cờ Tiên
Những điểm dừng chân giàu chất văn chương nhất ở Côn Sơn lại nằm ngoài khuôn viên tường chùa. Thanh Hư động không phải một cái hang đá như tên gọi dễ khiến người ta tưởng, mà là một thung lũng thoáng ở phía đông nam sườn núi, nơi Trần Nguyên Đán dựng chỗ ở ẩn, có cầu đá Thấu Ngọc và đền thờ Nguyễn Trãi dựng về sau. Bên dòng suối Côn Sơn chảy dọc sườn núi có phiến đá phẳng tự nhiên rất lớn gọi là Thạch Bàn (dân gian gọi là hòn đá năm gian, dài khoảng hai mươi sáu mét, rộng sáu mét), nơi Nguyễn Trãi thường ngồi đọc sách và ngâm thơ.
Trên đỉnh núi Kỳ Lân, đi lên bằng khoảng sáu trăm bậc đá là Bàn Cờ Tiên, một khoảng đất bằng phẳng nơi thời Trần từng dựng Am Bạch Vân (Am Mây Trắng) làm chỗ tu thiền thuyết pháp, nay có nhà bia dựng kiểu vọng lâu hai tầng tám mái. Về độ cao của đỉnh núi này thì nguồn ghi vênh nhau, có tài liệu ghi khoảng 200 mét, có tài liệu ghi 231 mét so với mực nước biển. Thư viện ghi cả hai con số để quý vị tham khảo.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Chùa đặt trên sườn núi Kỳ Lân, lưng dựa đỉnh núi, mặt quay về hướng đông nam trông xuống hồ nước và thung lũng thoáng ở phía trước. Đây là thế tựa sơn hướng thủy điển hình của chùa núi, lấy hồ nước phía trước làm lão thủy minh đường, đồng thời đáp ứng nhu cầu thực tế là núi chắn gió bắc, dốc thoát nước và độ cao tách chỗ tu khỏi chỗ ở của làng xã. Bên sườn phía đông là dãy Ngũ Nhạc năm ngọn, trên đó có năm miếu thờ, làm thành bức che sườn tả Thanh Long cho cả khu.
Điểm đáng đọc nhất là mạch nước. Trong phép xem đất núi, thứ đáng tìm không phải mặt nước rộng mà là chỗ mạch ngầm trổ ra, vì đó là dấu cho biết lòng núi còn sống. Giếng Ngọc và Ao Rùa đúng là những chỗ như vậy, giếng nằm ngay dưới chân khu vườn tháp, nước từ mạch núi Kỳ Lân rỉ ra, trong vắt và không cạn qua nhiều đời, được dân gian ví như con mắt của Kỳ Lân. Đặt tháp mộ của vị tổ ngay trên đầu mạch nước ấy, rồi lấy nước ấy làm nước cúng, là cách nối chỗ nằm của người đã mất với mạch sống của núi. Truyền tụng kể chỗ giếng do chính vị tổ được thần long mạch báo mộng mà tìm ra, cho thấy người trong chùa từ xưa đã coi cái giếng là huyết mạch của cả khu.
Về trục cao thấp, cả khu bày thành ba tầng rất rõ. Thung lũng Thanh Hư và phiến đá Thạch Bàn bên suối ở dưới là chỗ của người đời, nơi có nhà đọc sách và chỗ ở ẩn. Sườn núi ở giữa là chỗ của chùa và vườn tháp. Đỉnh núi trên cùng là chỗ của Am Bạch Vân xưa và Bàn Cờ Tiên, tức khoảng trống nhìn ra bốn phía. Đọc theo lối cũ thì ba tầng ấy là ba bậc của một đường đi lên, từ việc đời qua việc tu tới chỗ lặng nhìn đất trời.
Sau cùng là cái cặp Côn Sơn Kiếp Bạc. Một bên là chùa dựa vào lòng núi thu khí vào trong, một bên là đền quay mặt ra chỗ sáu dòng sông gặp nhau mở khí ra ngoài. Hai thế đất ấy đối nhau chứ không giống nhau, và người xưa để chúng cạnh nhau mà giữ riêng từng nếp.
VHai Kỳ Hội Xuân Thu
Chùa có hai kỳ hội trong năm, và hai kỳ ấy tưởng niệm hai bậc tiền nhân khác nhau, gồm hội xuân tháng Giêng tưởng niệm Đệ tam tổ Huyền Quang và hội thu tháng Tám tưởng niệm Nguyễn Trãi (song hành cùng hội thu đền Kiếp Bạc tưởng niệm Hưng Đạo Đại Vương). Lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2012.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tới 23 tháng Giêng | Hội xuân Côn Sơn | Kỳ hội mùa xuân. Hồ sơ di tích ghi hội mở từ giữa tháng Giêng tới hết tháng, tài liệu của khu di tích ghi trọng tâm từ ngày 15 tới ngày 23 tháng Giêng. |
| Ngày 16 tháng Giêng | Lễ rước nước và khai hội | Nghi thức rước nước từ hồ Côn Sơn về chùa làm lễ mộc dục (tắm tượng) cùng lễ dâng bánh chưng, bánh giầy. |
| Ngày 17 tháng Giêng | Lễ tế trên Ngũ Nhạc | Nghi thức tế trời đất tại hệ thống năm miếu (Bắc Nhạc, Trung Nhạc, Đông Nhạc, Tây Nhạc, Nam Nhạc) trên dãy Ngũ Nhạc phía đông chùa, cầu quốc thái dân an và mưa thuận gió hòa. |
| Ngày 23 tháng Giêng | Giỗ Đệ tam tổ Huyền Quang và lễ Mông Sơn thí thực | Ngày trọng nhất khép lại hội xuân, tưởng niệm ngày viên tịch của Đệ tam tổ và cử hành đàn lễ Mông Sơn thí thực cầu siêu cho cô hồn, chúng sinh. |
| Ngày 10 tới 20 tháng Tám | Hội thu Côn Sơn | Kỳ hội mùa thu, đi cùng một guồng với lễ hội mùa thu đền Kiếp Bạc. |
| Ngày 16 tháng Tám | Tưởng niệm Nguyễn Trãi | Ngày giỗ Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi tại đền thờ ông dưới chân núi Côn Sơn. |
Một điểm nên để ý là hội xuân thuộc lễ của nhà chùa tưởng niệm một vị tổ thiền, còn hội thu lại tưởng niệm một bậc danh nho và danh thần ngoài đời. Một không gian di tích giữ cả hai kỳ lễ như vậy phản ánh đúng tinh thần của Côn Sơn, vốn là chốn tổ của một dòng thiền chủ trương nhập thế, nơi chỗ tu hành của thiền sư và chỗ ẩn cư của bậc thức giả nằm chung một sườn núi.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Núi Côn Sơn (núi Kỳ Lân), phường Trần Hưng Đạo (phường Cộng Hòa, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương cũ), thành phố Hải Phòng
- Đường tới
- Chùa nằm dưới chân núi Côn Sơn (núi Kỳ Lân), phường Trần Hưng Đạo (phường Cộng Hòa, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương cũ), thành phố Hải Phòng. Đền Kiếp Bạc cách đó chừng năm cây số, hai nơi chung một quần thể di tích nên thường được đi liền một chuyến.
- Toạ độ
- 21.151, 106.3817
Đây là chùa đang có tăng và đang hành lễ, nên lệ nhà cần được giữ, gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các tòa nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở thượng điện và nhà Tổ, tuyệt đối không chạm vào hệ tượng cổ và mặt các tấm bia bảo vật quốc gia. Vườn tháp là khu mộ tháp, xin quý vị đi vòng theo lối có sẵn, không bước lên bệ tháp và không đặt đồ lễ lên tháp. Đường lên Bàn Cờ Tiên là bậc đá dài qua rừng thông, nên đi một chiều thong thả để giữ nhịp thở.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Côn Sơn
Contribute photos, information or video for Con Son PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Côn Sơn thờ ai
Chính điện thờ Phật theo lối Phật giáo Bắc tông, trong đó có bộ tượng Tam thế Phật bằng gỗ mít là bảo vật quốc gia. Nhà Tổ phía sau thờ Trúc Lâm Tam Tổ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang), trọng nhất là Đệ tam tổ Huyền Quang, người trụ trì và viên tịch tại đây, cùng tượng Trần Nguyên Đán và Nguyễn Trãi. Gần đó còn có đền thờ Nguyễn Trãi và đền thờ Trần Nguyên Đán.
Những chốn tổ lớn của thiền phái Trúc Lâm là nơi nào
Côn Sơn cùng với Yên Tử, Vĩnh Nghiêm và Quỳnh Lâm là những trung tâm lớn của thiền phái Trúc Lâm thời Trần. Yên Tử là nơi khai phái và là núi tu của Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông, Vĩnh Nghiêm là chốn giảng kinh và lưu trữ mộc bản, còn Côn Sơn được Đệ nhị tổ Pháp Loa mở rộng và là nơi Đệ tam tổ Huyền Quang trụ trì cuối đời rồi viên tịch năm 1334.
Chùa Côn Sơn có những bảo vật quốc gia nào
Chùa hiện lưu giữ ba bảo vật quốc gia gồm bia Thanh Hư động thời Trần (công nhận năm 2015 theo Quyết định số 2382/QĐ-TTg), bia lục lăng Côn Sơn Tư Phúc tự bi năm 1607 thời Lê Trung Hưng (công nhận năm 2017 theo Quyết định số 2089/QĐ-TTg) và bộ tượng Tam thế Phật thế kỷ 17 (công nhận năm 2024 theo Quyết định số 73/QĐ-TTg).
Thanh Hư động có phải một cái hang không
Không. Đây là một thung lũng ở sườn núi Côn Sơn, nơi quan Đại tư đồ Trần Nguyên Đán về dựng chỗ ở ẩn từ năm 1369 và nghỉ hưu hẳn giai đoạn 1385 tới 1390. Tại đây còn dấu nền nhà cũ, cầu đá Thấu Ngọc và đền thờ ông cùng cháu ngoại là Nguyễn Trãi. Tấm bia khắc ba chữ Thanh Hư động do vua Trần Duệ Tông đề tặng hiện đặt ở sân chùa Côn Sơn.
Côn Sơn và Kiếp Bạc có phải một nơi không
Không. Đây là hai nơi cách nhau chừng năm cây số và khác nhau về thờ tự, trong đó Côn Sơn là chùa Phật thuộc thiền phái Trúc Lâm gắn với Tam Tổ và Nguyễn Trãi, còn Kiếp Bạc là đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn theo dòng Trần Triều. Hai nơi được gọi gộp vì cùng nằm trong một khu di tích quốc gia đặc biệt xếp hạng năm 2012, được UNESCO ghi danh Di sản thế giới năm 2025 và chung hai kỳ lễ hội xuân thu.