VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Hương Tích Hà Tĩnh

香跡寺 · Hương Tích Cổ Tự, Hoan Châu đệ nhất danh lam

Ngôi chùa nằm lưng chừng dãy Hồng Lĩnh, nơi giữ cái tên Hương Tích và sự tích người con gái tu thành Quan Âm.

Độ cao
650 m
trên núi Hương Tích thuộc dãy Hồng Lĩnh
Khởi dựng
thế kỷ 13
thời Trần, theo truyền tụng và tư liệu địa phương
Xếp hạng
Di tích quốc gia
công nhận năm 1990

Đường lên chùa là một lối dốc chạy trong rừng, men theo khe nước, chừng bốn cây số tính từ chân núi. Đi hết dốc, quý vị ra một khoảng bằng ở độ cao khoảng 650 mét, và ở đó là chùa: mấy nếp nhà thấp dựa vào vách đá, mái ngói sẫm, cây cao che kín, sương thường đọng cả buổi sáng. Nhìn xuống là đồng bằng Hà Tĩnh trải ra tới biển; nhìn quanh là các đỉnh khác của dãy Hồng Lĩnh.

Người xưa xếp nơi này vào hàng Hoan Châu đệ nhất danh lam, tức thắng cảnh bậc nhất của xứ Hoan Châu, và kể nó trong số hai mươi mốt danh thắng của nước Nam thời trước. Nhưng cái tên Hương Tích, nghĩa là dấu thơm, lại là thứ khiến ngôi chùa này hay bị nhắc cùng với một ngôi chùa khác ở ngoài Bắc. Hai nơi mang cùng một tên, thờ cùng một vị, mà là hai nơi khác nhau; chuyện ấy chúng tôi nói rõ ngay trong bài.

Chùa Hương Tích Hà Tĩnh
Chùa Hương Tích Hà Tĩnh. Ảnh: Anh Họ Nguyễn, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tên Hương Tích Và Sự Tích Diệu Thiện

Hai chữ Hương Tích nghĩa là dấu thơm, tức vết còn lại của một người đã đi qua và để lại hương. Tên chữ đầy đủ của chùa là Hương Tích Tự, và trong tư liệu địa phương còn gọi Hương Tích Cổ Tự. Cái dấu thơm mà tên gọi nhắc tới là dấu của một người con gái: công chúa Diệu Thiện.

Theo sử liệu

Thần tích của chùa kể rằng Diệu Thiện là con gái của Sở Trang Vương, vua nước Sở bên Trung Hoa thời cổ. Nàng bị cha ép gả, bèn trốn đi, vượt đường xa vào tận vùng núi này mà tu hành. Về sau, khi vua cha mắc bệnh nặng, nàng tự hiến mắt và tay mình để làm thuốc cứu cha; Phật thấy lòng ấy nên hoàn lại cho nàng mắt và tay. Cuối cùng nàng đắc đạo, hóa thành Quan Âm, và các bản kể ở đây gắn với hình tướng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt.

Cần nói rõ hạng tư liệu: đây là thần tích, thuộc lớp truyền tụng, không phải sử biên niên. Các nguồn địa phương còn ghi một lớp truyền tụng thứ hai, kể về một vị sư già từng giúp dân trong vùng, và về sau dân dựng chùa để nhớ. Hai lớp kể ấy không loại nhau; chúng cho thấy nơi này được nhớ bằng nhiều mạch chuyện chồng lên nhau qua các đời.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa nhà Phật, Quán Thế Âm là vị Bồ Tát của lòng thương, nghe tiếng khổ của thế gian mà cứu; danh hiệu ấy nghĩa là bậc quán xét âm thanh của cõi đời. Vị này vốn được tạc dưới hình tướng nam trong kinh điển Ấn Độ, rồi trên đường sang phương đông chuyển dần sang hình tướng nữ. Sự tích Diệu Thiện là một trong những mạch kể lớn của quá trình chuyển ấy: một người con gái có cha có mẹ, có nỗi oan và có hiếu, tu hành rồi thành Bồ Tát. Người Việt còn một mạch kể thứ hai là Quan Âm Thị Kính, mang nỗi oan khác. Ở núi Hồng Lĩnh thì mạch Diệu Thiện được giữ rất chặt, tới mức từng chỗ trong quần thể đều mang một cái tên lấy từ chuyện của nàng.

Chỗ hay hiểu lầm

Đây là chỗ hay hiểu lầm nhất về nơi này, và xin nói bằng giọng sử liệu.

Chùa Hương Tích ở Hà Tĩnh và chùa Hương ở Hà Nội là hai ngôi chùa khác nhau, không phải một. Một nơi nằm trên dãy núi đất Hồng Lĩnh thuộc Hà Tĩnh, ở độ cao khoảng 650 mét; một nơi nằm trong vùng núi đá vôi Hương Sơn thuộc Hà Nội, đi bằng thuyền theo suối Yến rồi mới leo lên động. Hai quần thể, hai mùa hội, hai bộ hiện vật khác nhau. Chúng chỉ giống nhau ở hai điểm: cùng thờ Quán Thế Âm, và cùng mang tên Hương Tích, vì cả hai nơi đều có một hang đá mang tên ấy.

Có thuyết cho rằng chùa Hương ngoài Bắc lấy tên và sự tích từ đây. Lập luận của thuyết này gồm mấy điểm. Thứ nhất là niên đại: chùa Hương Tích Hà Tĩnh được ghi khởi dựng vào thế kỷ 13 thời Trần, trong khi quần thể chùa Hương ở Hà Nội được ghi xây dựng trong quãng các năm 1680 tới 1704, tức muộn hơn nhiều trăm năm. Thứ hai là hoàn cảnh: theo cách kể của thuyết này, người Nghệ Tĩnh ra kinh làm quan vẫn giữ lệ về quê lễ chùa Hương Tích, mà đường về thì xa và không an toàn, nên đã có việc tìm một nơi có thế núi và hang động tương tự ở gần kinh thành để dựng một ngôi chùa cùng tên và cùng sự tích. Một bài nghiên cứu Phật học gần đây trình bày thuyết này và gọi ngôi chùa ngoài Bắc là một phiên bản của ngôi chùa trên non Hồng.

Chỗ thuyết ấy chưa được chứng minh. Cho tới nay chưa có văn bản đương thời nào chép việc dựng chùa Hương ngoài Bắc như một việc sao lại từ Hà Tĩnh; toàn bộ lập luận dựa vào so sánh niên đại, vào sự trùng tên và vào cách kể được truyền lại. Chính tác giả bài nghiên cứu nêu trên cũng ghi nhận quanh việc này còn nhiều ý kiến trái chiều, và tư liệu về chính chùa Hương Tích Hà Tĩnh thì còn thiếu. Thêm một chỗ cần thận trọng: niên đại thế kỷ 13 của chùa cũng đến từ truyền tụng và tư liệu muộn, còn toàn bộ kiến trúc đang đứng trên núi hôm nay thuộc lớp đầu thế kỷ 20.

Vì vậy thư viện ghi thuyết này như một thuyết, nêu cả chỗ mạnh lẫn chỗ chưa đủ, và không kết luận. Xin đọc thêm trang chùa Hương để xem quần thể ngoài Bắc, rồi tự đối chiếu hai nơi.

Bảy Trăm Năm Trên Non Hồng

Lịch sử của chùa chia hai đoạn, và chỗ ngăn giữa hai đoạn là một đám cháy. Đoạn trước là một ngôi cổ tự có từ thời Trần, được các đời sau giữ và tu bổ. Đoạn sau bắt đầu từ năm 1885, khi chùa bị cháy, và từ lần dựng lại năm 1901 trở đi.

  • Thế kỷ 13Khởi dựng thời Trần
    Chùa được ghi dựng vào thời Trần, quãng thế kỷ 13, tức cùng lớp niên đại với Yên Tử. Niên đại này đến từ truyền tụng và tư liệu địa phương, không có văn bản đương thời.
  • Các đời Lê NguyễnHoan Châu đệ nhất danh lam
    Chùa được văn nhân các đời xếp vào hàng thắng cảnh bậc nhất xứ Hoan Châu, và được kể trong số hai mươi mốt danh thắng của nước Nam thời trước.
  • 1885Chùa bị cháy
    Chùa bị cháy trong năm này, cùng thời điểm với chùa Thiên Tượng cũng trên dãy Hồng Lĩnh. Toàn bộ kiến trúc cũ mất từ đó.
  • 1901Đào Tấn cho dựng lại
    Chùa được dựng lại dưới sự trông coi của Đào Tấn, khi ấy làm tổng đốc An Tĩnh, cũng là nhà soạn tuồng nổi tiếng. Phần lớn kiến trúc chính còn thấy hôm nay thuộc lớp này.
  • 1990Di tích quốc gia
    Chùa được công nhận là di tích văn hóa và thắng cảnh cấp quốc gia trong năm này.
  • 2003 và 2006Hai đợt trùng tu
    Hai đợt tu bổ nối nhau, trong đó đợt từ năm 2006 gắn với việc phục hồi các hạng mục nhỏ và các điểm trên đường hành hương.
Theo sử liệu

Mấy chỗ nguồn ghi khác nhau, xin nêu để quý vị biết. Về vị trí ngọn núi, một tài liệu ghi chùa nằm trên núi Hương Tích, một trong bảy đỉnh đẹp nhất của dãy Hồng Lĩnh; tài liệu khác chỉ ghi chung là một trong các đỉnh của dãy núi ấy, vốn được kể là có chín mươi chín đỉnh. Về phạm vi, một bài nêu khu vực di tích trải rộng khoảng một nghìn chín trăm hecta, nhưng đó là con số của vùng bảo vệ chứ không phải diện tích công trình, và các nguồn khác không nhắc lại. Về hiện vật, các nguồn thống nhất rằng điện Tam Bảo giữ năm mươi bốn pho tượng gỗ cổ, ngoài ra còn hai pho tượng Phật bằng đồng, chuông đồng cổ, và một pho Cửu Long bằng gang thuộc loại ít gặp.

Quần Thể Trên Núi Và Các Điểm Trên Đường Lên

Điều cần nắm trước tiên: đây không phải một ngôi chùa đơn lẻ mà là một quần thể rải dọc một tuyến đường lên núi. Các tài liệu về di tích chia quần thể làm ba phần chính là thượng điện, đền Thiên Vươngam Thánh Mẫu; ngoài ba phần ấy còn rất nhiều điểm nhỏ nằm dọc lối đi, mỗi điểm một cái tên, và phần lớn các tên ấy lấy từ sự tích Diệu Thiện.

Thượng điện, tức chùa Thượng

Khu thờ chính trên cao, có điện Tam Bảo giữ năm mươi bốn pho tượng gỗ cổ cùng các hiện vật đồng và pho Cửu Long bằng gang. Kiến trúc hiện còn thuộc lớp dựng lại đầu thế kỷ 20.

Đền Thiên Vương

Tài liệu địa phương cho biết đền thờ Hồng Sơn Đại Vương, tức vị thần của chính dãy núi này. Một ngôi đền thần đứng ngay trong khuôn viên chùa là dấu của lối thờ tự nhiều lớp quen thuộc của người Việt: Phật ở chính điện, thần núi ở một đền riêng bên cạnh.

Am Thánh Mẫu và am Diệu Thiện

Theo thần tích, am Thánh Mẫu là chỗ công chúa Diệu Thiện tu hành và hóa thành Quan Âm, tức điểm khép lại câu chuyện mà tên chùa nhắc tới.

Động Hương Tích

Hang đá trong núi, chính là chỗ cho cái tên của cả ngôi chùa; theo thần tích, đây là nơi Diệu Thiện ẩn thân và tu tập sau khi rời nhà. Cần phân biệt rõ với động Hương Tích trong quần thể chùa Hương ở Hà Nội, một hang đá vôi khác mang năm chữ Hán khắc trên cửa động là Nam thiên đệ nhất động.

Khe Quỷ Khốc và thác Giải Oan

Hai điểm nước trên đường lên. Khe Quỷ Khốc, tên nghĩa là khe quỷ khóc, được lối kể trong vùng gắn với chặng đường gian nan của Diệu Thiện khi vượt núi; tư liệu di tích chỉ ghi tên khe mà không chép nghĩa, nên phần giải thích ấy thuộc lớp truyền tụng. Thác Giải Oan là chỗ nước đổ, tên mang nghĩa cởi nỗi oan, cùng mạch nghĩa với chuyện của nàng.

Nền Trang Vương và am Bát Cảnh

Nền Trang Vương là khoảnh nền còn dấu trong quần thể, mang tên vua cha của Diệu Thiện là Sở Trang Vương; theo lối kể ở đây, đó là chỗ gắn với việc vua cha tìm tới nơi con gái tu hành. Am Bát Cảnh là một trong các am nhỏ dọc tuyến hành hương, tên nghĩa là tám cảnh, theo lối cổ truyền vốn hay lấy con số tám mà kể cảnh đẹp của một vùng. Cả hai đều được báo Đại Đoàn Kết liệt kê trong danh sách hạng mục của di tích.

Danh sách hạng mục còn kể miếu cửa rừng ở chỗ vào, trạm nghỉ Phật Bà giữa đường, am Giác Phổ, am Dược Sư, nhà thờ tổ, điện Thánh Mẫu, cùng miếu Cô còn được nhắc với tên miếu Bạch Hổ, gắn với con hổ trắng trong lớp truyền tụng của vùng. Đọc cả danh sách một lượt thì thấy rõ cách người xưa dựng nơi này: họ không dồn tất cả vào một khuôn viên mà rải các điểm dọc con đường, để người leo núi cứ đi một chặng lại gặp một chỗ dừng, và mỗi chỗ dừng lại kể thêm một khúc trong chuyện của Diệu Thiện. Con đường lên chùa vì thế là một phần của chính việc thờ tự.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là chỗ đặt. Chùa không đặt trên đỉnh mà đặt ở một khoảng bằng lưng chừng núi. Trong phép xem đất, đặt trên đỉnh là chỗ lộ, gió bốn phía dồn tới, khí không đọng; đặt dưới chân là chỗ bị núi đè, tầm nhìn bị chắn. Chỗ lưng chừng có sườn núi làm hậu chẩm phía sau mà phía trước vẫn mở, ấy là chỗ sách vở gọi là huyệt tọa, tức chỗ ngồi được. Người xưa chọn đúng khoảng ấy, và đó là lý do đầu tiên khiến ngôi chùa này đứng được bảy trăm năm trên một sườn núi.

Kế đến là hành của ngọn núi. Hồng Lĩnh là dãy núi đất và đá pha, các đỉnh nhô thành nhiều chóp nối nhau chứ không phải khối liền; trong cách phân loại cổ truyền, dạng núi nhiều chóp vươn lên thuộc hành Mộc, ứng với sự sinh trưởng và ứng với việc học, việc tu. Chính dãy núi ấy lại là dãy mà người vùng này gắn với chín mươi chín đỉnh và với rất nhiều chùa, am, đền; đọc theo lối cũ thì đó là đất của văn và của tu chứ không phải đất của võ.

Thứ ba là nước, mà ở đây nước không phải một dòng lớn trước mặt, chỉ là các khe. Con đường lên chùa men theo khe, qua thác Giải Oan, qua khe Quỷ Khốc; trong phép xem đất vùng núi, khe là mạch dẫn khí từ trên xuống, và nơi thờ đặt bên mạch khe được coi là nơi có khí đến chứ không phải khí đứng. Vai trò minh đường phía trước chùa do cả vùng đồng bằng Hà Tĩnh đảm nhận, một khoảng mở trải ra tới mặt biển, và minh đường rộng như vậy trong lối nhìn cổ truyền là thế của nơi đón được người bốn phương.

Sau cùng là cái động, chỗ đáng nói nhất về mặt phong thủy. Động Hương Tích nằm trong lòng núi, tức chỗ kín, tối, tĩnh, theo phép cũ thì thuộc hành Thổ và mang tính âm; còn thượng điện trên mặt đất, mở ra ánh sáng và gió, thì mang tính dương. Một quần thể có cả hang trong lòng núi và điện trên mặt núi là quần thể đủ cả âm lẫn dương, mà trong chuyện Diệu Thiện thì chính chỗ kín ấy là nơi nàng ẩn thân trước khi hóa. Thêm nữa, các hạng mục ở đây không xếp thành trục thẳng như đền miếu đồng bằng mà rải theo đường leo, mỗi chỗ một cao độ: đó là một trục dựng thay cho trục nằm, người lễ không đi sâu vào trong mà đi lên cao. Cách bố trí ấy hợp với nội dung của chính ngôi chùa, vốn kể chuyện một người rời nhà mà đi lên núi.

Hội Chùa Và Lệ Ngày Mười Tám Tháng Hai

Ngày lễ trọng nhất của chùa là ngày 18 tháng Hai âm lịch, ngày được coi là ngày công chúa Diệu Thiện đắc đạo và hóa thành Quan Âm. Trước ngày ấy, chùa đã đông từ dịp đầu xuân, vì lệ đi lễ chùa Hương Tích đầu năm là lệ lâu đời của người Nghệ Tĩnh.

Các mốc lễ tiết chính trong năm của chùa. Ngày chính lễ 18 tháng Hai được mọi nguồn thống nhất. Nguồn: Tài liệu giới thiệu di tích của địa phương Hà Tĩnh và các bản tin khai hội chùa Hương Tích..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Đầu tháng GiêngKhai hội đầu nămLễ mở đầu mùa hành hương của chùa, nối vào lệ đi lễ đầu xuân của cả vùng Nghệ Tĩnh. Những năm gần đây tỉnh Hà Tĩnh chọn chùa làm nơi mở đầu mùa du lịch trong năm.
Suốt tháng Giêng và tháng HaiMùa hành hươngKhoảng đông người nhất trong năm. Khách đi theo đường lên núi, dừng lễ lần lượt ở miếu cửa rừng, các am và các điểm dọc đường trước khi tới thượng điện.
Ngày 18 tháng HaiChính lễ, ngày Diệu Thiện hóaNgày lễ trọng nhất, tưởng niệm việc công chúa Diệu Thiện đắc đạo hóa thành Quan Âm theo thần tích của chùa.
Ngày 19 tháng HaiLệ ngày Quan Âm đản sinhNgày Quán Thế Âm theo lệ chung của nhà Phật Bắc tông, liền ngay sau chính lễ của chùa, nên hai ngày thường được người đi lễ tính chung một chuyến.
Rằm tháng TưLễ Phật đảnLễ chung của nhà Phật, tiến hành tại chùa theo nghi thức Bắc tông.
Mùng 1 và ngày rằm hằng thángLệ thường kỳNhịp lui tới đều đặn quanh năm của người trong vùng.

Một nét riêng của kỳ hội ở đây là việc leo. Khác quần thể chùa Hương ngoài Bắc, nơi chặng đầu đi bằng thuyền trên suối, ở non Hồng thì suốt tuyến là đường núi. Hội vì thế mang nhịp của một cuộc đi bộ đường dài: người ta dừng nhiều chặng, lễ nhiều điểm nhỏ, và tới thượng điện là chặng cuối chứ không phải chặng đầu, đúng mạch của sự tích được thờ vốn là chuyện một người bỏ chốn cũ mà đi lên.

Theo giáo nghĩa

Theo lệ nhà Phật Bắc tông, trong năm có ba ngày dành cho Quán Thế Âm, ứng với ba mốc là đản sinh, thành đạo và xuất gia, đều tính theo âm lịch và đều rơi vào ngày mười chín của các tháng Hai, tháng Sáu và tháng Chín. Ngày chính lễ của chùa Hương Tích là ngày 18 tháng Hai, tức liền trước ngày mười chín tháng Hai ấy. Cách đặt ngày lễ như vậy cho thấy lệ riêng của chùa, vốn tính theo thần tích Diệu Thiện, đã được xếp khít vào lệ chung của nhà Phật chứ không đứng ngoài.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Núi Hồng Lĩnh, xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc cũ, tỉnh Hà Tĩnh
Đường tới
Chùa nằm trên núi Hồng Lĩnh, xã Thiên Lộc thuộc huyện Can Lộc cũ, tỉnh Hà Tĩnh. Từ chân núi lên chùa là một tuyến đường núi dài chừng bốn cây số, nên quý vị nên tính trọn một buổi cho chặng lên và chặng xuống.
Toạ độ
18.45, 105.7333
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ trong điện Tam Bảo, không chạm tay vào các pho tượng gỗ và hiện vật đồng, đặt tiền vào hòm công đức. Đường lên là dốc núi men theo khe, mùa hội thường ẩm và trơn, nên giày bám tốt là thứ đáng lo hơn cả. Trong động và ở các am nhỏ dọc đường, lối đi hẹp, xin quý vị đi một chiều để khỏi vướng người khác.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Hương Tích Hà Tĩnh thờ ai

Thờ Quán Thế Âm Bồ Tát theo lối Phật giáo Bắc tông, gắn với thần tích công chúa Diệu Thiện tu hành tại núi này rồi hóa thành Quan Âm. Trong quần thể còn có đền Thiên Vương mà tài liệu địa phương cho biết thờ Hồng Sơn Đại Vương, tức thần của chính dãy núi, cùng am Thánh Mẫu và nhiều am nhỏ khác.

Chùa Hương Tích Hà Tĩnh có phải là chùa Hương ở Hà Nội không

Không, đó là hai ngôi chùa khác nhau. Một nằm trên dãy núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh, một nằm trong vùng núi đá vôi Hương Sơn ở Hà Nội. Hai nơi cùng thờ Quán Thế Âm và cùng có một hang mang tên Hương Tích, nhưng là hai quần thể riêng, hai mùa hội riêng, hai bộ hiện vật riêng.

Có phải chùa Hương ngoài Bắc lấy tên từ chùa Hương Tích Hà Tĩnh

Đó là một thuyết, chưa được chứng minh. Thuyết này dựa vào việc chùa Hương Tích Hà Tĩnh được ghi khởi dựng thế kỷ 13 còn quần thể chùa Hương ở Hà Nội được ghi xây dựng quãng 1680 tới 1704, và dựa vào cách kể rằng người Nghệ Tĩnh ra kinh muốn có một nơi lễ gần hơn. Cho tới nay chưa có văn bản đương thời nào chép việc ấy, nên thư viện ghi thuyết này mà không kết luận.

Công chúa Diệu Thiện là ai theo sự tích ở đây

Theo thần tích của chùa, Diệu Thiện là con gái Sở Trang Vương, bị cha ép gả nên trốn vào vùng núi này tu hành. Khi vua cha mắc bệnh nặng, nàng tự hiến mắt và tay để cứu cha và được Phật hoàn lại, rồi đắc đạo hóa thành Quan Âm. Đây là thần tích thuộc lớp truyền tụng, không phải sử biên niên.

Trên đường lên chùa có những điểm nào

Tuyến hành hương rải nhiều điểm, mỗi điểm một tên lấy từ sự tích Diệu Thiện, trong đó có miếu cửa rừng, trạm nghỉ Phật Bà, khe Quỷ Khốc, thác Giải Oan, miếu Cô, am Giác Phổ, am Dược Sư, am Bát Cảnh, nền Trang Vương, am Diệu Thiện, am Thánh Mẫu, động Hương Tích, rồi tới thượng điện với điện Tam Bảo giữ năm mươi bốn pho tượng gỗ cổ.

Đọc Tiếp