VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Phủ Na

那山洞府 · Na Sơn Động Phủ

Một chuỗi đền điện bám theo sườn núi, nơi lớp thờ Mẫu của người Việt gặp lớp tín ngưỡng bản địa của người Mường.

Khởi dựng
Chưa rõ
không có bia ký; một số tài liệu nêu năm 1909
Vị thờ chính
Mẫu Thượng Ngàn
Nhạc phủ, sắc xanh, trong Tam toà Thánh Mẫu
Xếp hạng
Di tích cấp tỉnh
theo bảng của thư viện; nguồn địa phương ghi cấp quốc gia năm 1993

Con đường vào Phủ Na không dẫn tới một ngôi đền mà dẫn tới một chuỗi. Từ chỗ gửi xe, quý vị đi lên theo bậc đá, hai bên là cây rừng, và cứ lên một quãng lại gặp một ban thờ: có nơi chỉ là một mái nhỏ dựa vào vách, có nơi là một toà điện đủ mái đủ cửa. Không có một trục dọc nào ở đây; nơi thờ tự bám theo độ dốc của sườn núi mà rải ra.

Chỗ đông người nhất lại không phải đền trên cao mà là đền Cô Chín, nơi có dòng nước từ trong núi chảy xuống. Người đi lễ xếp hàng hứng nước ấy vào chai, gọi là nước thánh. Cái nhịp ấy nói đúng đặc điểm của nơi này: một quần thể thờ Mẫu nằm ở chân một dãy núi lớn, lấy nước núi làm vật linh.

Mẫu Thượng Ngàn Và Cô Chín

Chữ phủ ở đây chỉ nơi thờ Mẫu, khác chùa của nhà Phật và khác đền thờ nhân thần. Tên chữ của nơi này là Na Sơn Động Phủ, nghĩa là phủ ở động núi Na. Bốn chữ Hán đặt ở đầu trang là cách chúng tôi ghi lại tên chữ ấy theo tư liệu, không phải chép nguyên từ một tấm hoành phi trong phủ.

Nơi này thờ nhiều vị, nhưng hai vị được người đi lễ tìm đến nhiều nhất là Mẫu Thượng NgànCô Chín. Ngoài ra các tài liệu di tích còn nêu ban thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, ban thờ Bà Triệu và ban thờ Triệu Quốc Đạt.

Theo giáo nghĩa

Theo cách tín ngưỡng thờ Mẫu tự nói về mình, thế giới chia làm bốn phủ, mỗi phủ một vị Mẫu và một sắc riêng: Thiên phủ là miền trời sắc đỏ, Nhạc phủ là miền rừng núi sắc xanh, Thoải phủ là miền sông nước sắc trắng, Địa phủ là miền đất sắc vàng. Trên hàng Mẫu là Vua cha; dưới hàng Mẫu lần lượt là Ngũ vị Tôn quan, Thập nhị Chầu bà, Thập vị Ông hoàng, Tứ phủ Thánh cô và Tứ phủ Thánh cậu. Mỗi vị mang một phủ, một sắc áo và một bản chầu văn riêng.

Mẫu Thượng Ngàn đứng trong Tam toà Thánh Mẫu, cai quản Nhạc phủ, tức miền rừng núi, sắc xanh; vị này còn được gọi là Lâm Cung Thánh Mẫu, thần tích quen dùng nhất là La Bình công chúa. Trong ba vị của Tam toà, Mẫu Thượng Ngàn gắn với rừng, với cây và với nguồn nước từ núi, nên ban thờ của Mẫu bày lễ vật của rừng và lấy sắc xanh làm chủ. Chính vì thế một quần thể dựa vào núi như Phủ Na lấy Mẫu Thượng Ngàn làm vị chính, chứ không lấy Mẫu Thượng Thiên như nhiều phủ ở đồng bằng.

Cô Chín thuộc hàng Tứ phủ Thánh cô, lớp thần linh trẻ tuổi hầu cận các Mẫu và các Quan, được coi là gần người nhất trong hệ Tứ Phủ. Vì gần người, hàng Cô là chỗ người đi lễ hay cầu việc cụ thể.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, tài liệu di tích của địa phương đều mô tả Phủ Na là chỗ lớp thờ Mẫu của người Việt gặp lớp tín ngưỡng bản địa của người Mường. Đây là nhận định dựa trên quan sát nghi thức và thành phần cộng đồng, không phải kết luận dựa trên văn bản cổ, xin quý vị đọc nó ở mức ấy.

Cũng theo tài liệu địa phương, vùng núi Nưa gắn với lớp truyền tụng về Bà Triệu, và đó là lý do quần thể có ban thờ Bà cùng ban thờ Triệu Quốc Đạt. Hai ban ấy cho thấy nơi thờ này không đóng kín trong hệ Tứ Phủ mà nhận thêm lớp thờ nhân thần của vùng đất.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, Phủ Na không nằm trên đỉnh núi Nưa. Nhiều người nghe chữ núi Nưa rồi hiểu Phủ Na và khu Am Tiên là một, hoặc hiểu Phủ Na là chặng dưới của đường lên Am Tiên. Thực ra đây là hai di tích khác nhau, có hồ sơ riêng và hai địa bàn khác nhau. Phủ Na nằm ở xã Xuân Du, thuộc huyện Như Thanh cũ, phía sườn và chân dãy núi. Khu núi Nưa, đền Nưa và Am Tiên nằm ở xã Tân Ninh, xếp hạng di tích quốc gia ngày 27 tháng 3 năm 2009, phạm vi khoảng 100 hecta, trong đó đền Nưa dưới chân núi thờ Bà Triệu dưới tên hiệu Lệ Hải Bà Vương, còn Am Tiên cùng giếng Tiên và chỗ được gọi là huyệt đạo thì ở trên đỉnh.

Thứ hai, đền Cô Chín ở Phủ Na không phải đền Cô Chín gốc. Trong hệ thờ Mẫu, nơi thờ Cô Chín được nhắc tới nhiều nhất là đền Sòng Sơnđền Chín Giếng ở Bỉm Sơn, cùng tỉnh Thanh Hóa. Danh xưng của vị này có nhiều dị bản: Cô Chín Sòng Sơn, Cô Chín Giếng, Cô Chín Thượng Ngàn, và các bản văn không thống nhất về phủ mà Cô mang. Đền Cô Chín ở Phủ Na là một ban thờ trong quần thể, không phải chỗ phát tích của việc thờ Cô.

Một Niên Đại Chưa Có Mốc Chắc

Phải nói thẳng ngay: niên đại khởi dựng của Phủ Na chưa có mốc chắc. Chúng tôi không tra được bia ký, sắc phong hay văn bản đương thời nào cho biết năm dựng. Bảng dữ kiện của thư viện vì thế ghi trường niên đại là chưa rõ, và đó là cách ghi đúng với tình trạng tư liệu hiện nay.

  • Chưa rõKhởi dựng
    Không có bia ký hay văn bản đương thời cho biết năm dựng phủ. Mọi con số đang lưu hành đều dẫn lại từ tài liệu giới thiệu di tích.
  • 1909Mốc được nhiều tài liệu nêu
    Một số tài liệu giới thiệu di tích ghi Phủ Na được dựng năm 1909 theo lối kiến trúc thời Nguyễn. Đây là mốc hay được dẫn nhất, nhưng chưa thấy nguồn nào nói rõ căn cứ.
  • 1993Xếp hạng di tích
    Nguồn địa phương ghi Phủ Na được công nhận di tích lịch sử văn hóa và thắng cảnh ngày 28 tháng 1 năm 1993. Cấp xếp hạng thì các nguồn ghi khác nhau, chi tiết nêu ngay dưới đây.
  • Thế kỷ 20Các toà điện dựng thêm dần
    Quần thể hôm nay là kết quả của nhiều lần dựng thêm và tu bổ nối nhau, nên các toà không cùng một lớp niên đại.
  • 2009Khu Am Tiên được xếp hạng riêng
    Ngày 27 tháng 3 năm 2009, khu núi Nưa, đền Nưa và Am Tiên ở xã Tân Ninh được xếp hạng di tích quốc gia. Đây là di tích khác, không phải một phần của Phủ Na.
  • 2016UNESCO ghi danh
    Ngày 1 tháng 12 năm 2016, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Điều được ghi danh là tập quán thực hành, không phải một cơ sở thờ tự.
Theo sử liệu

Hai chỗ nguồn vênh nhau, xin ghi thẳng.

Về cấp xếp hạng. Bảng dữ kiện của thư viện ghi Phủ Na là di tích cấp tỉnh. Trong khi đó nhiều tài liệu giới thiệu và báo địa phương ghi đây là di tích lịch sử văn hóa và thắng cảnh cấp quốc gia, công nhận ngày 28 tháng 1 năm 1993. Chúng tôi chưa tra được quyết định gốc để nói dứt điểm, nên nêu cả hai cách ghi và không chọn bừa.

Về năm 1909. Con số này xuất hiện trong nhiều bài giới thiệu nhưng không bài nào dẫn nguồn. Có khả năng đó là năm của một đợt dựng lại chứ không phải năm khởi dựng, vì lối kiến trúc được mô tả là lối thời Nguyễn, phù hợp với một công trình làm lại vào đầu thế kỷ 20 trên một nơi thờ có thể đã có trước.

Một Quần Thể Rải Theo Sườn Núi

Phủ Na không có bố cục một trục như đền miếu đồng bằng. Tài liệu di tích mô tả nơi này là một hệ gồm nhiều đền, điện và miếu bao quanh khu vực động núi, nối nhau bằng đường bậc. Người đi lễ theo lệ thường đi hết các ban, và thứ tự các ban đi theo hệ Tứ Phủ chứ không theo một trục kiến trúc.

Đền Thánh Mẫu và đền Thượng

Toà thờ chính là đền Thánh Mẫu, nơi thờ hàng Mẫu với Mẫu Thượng Ngàn giữ vị chủ. Lên cao hơn là đền Thượng; theo lệ chung của các quần thể thờ Mẫu vùng núi, toà trên cao dành cho hàng vị cao trong hệ thần linh. Lối làm là lối thời Nguyễn: mái cong, cột gỗ, bờ nóc có trang trí, quy mô từng toà không lớn vì bị giới hạn bởi mặt bằng trên sườn dốc.

Đáng chú ý là cách các toà ăn vào địa hình: toà nào cũng dựa vào một thế đất có sẵn, có toà gối lưng vào vách đá, có toà đứng trên một khoảnh bằng hẹp. Người xưa thuận theo núi thay vì sửa núi cho vừa mái.

Đền Cô Chín và dòng nước

Đền Cô Chín là chỗ tập trung người nhất trong cả quần thể, lý do nằm ở một mạch nước ngầm từ núi chảy xuống ngay cạnh đền. Nước ấy được người đi lễ gọi là nước thánh và mang về. Đây là nét rất đáng ghi: vật linh người đi lễ nhận về không phải lá ấn hay tờ giấy mà là nước, thứ do chính quả núi sinh ra.

Việc một ban thờ hàng Cô đông hơn ban thờ hàng Mẫu nghe như trái thứ bậc, nhưng là chuyện thường trong thực hành thờ Mẫu: hàng vị càng gần người thì người cầu càng nhiều, còn hàng vị càng cao thì càng thuộc phần tế lễ chung.

Các ban thờ khác trong khuôn viên

Ngoài hai khối trên, tài liệu di tích còn nêu ban thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, ban thờ Bà Triệu, ban thờ Triệu Quốc Đạt, cùng các miếu nhỏ và một cây si cổ trong khuôn viên. Đi hết Phủ Na vì thế là đi qua hai lớp tín ngưỡng: lớp thờ Mẫu với hệ thần linh nhiều tầng, và lớp thờ nhân thần của vùng đất.

Đền Thánh Mẫu

Toà thờ chính, thờ hàng Mẫu với Mẫu Thượng Ngàn giữ vị chủ. Đây là nơi diễn ra phần lễ trọng của quần thể.

Đền Thượng

Toà ở chỗ cao trong quần thể, theo lệ chung của các nơi thờ Mẫu vùng núi thì dành cho hàng vị cao trong hệ thần linh.

Đền Cô Chín

Ban thờ hàng Cô, đông người nhất trong quần thể, có mạch nước ngầm từ núi chảy xuống bên cạnh mà người đi lễ gọi là nước thánh.

Ban thờ Bà Triệu và Triệu Quốc Đạt

Hai ban thờ nhân thần gắn với lớp truyền tụng của vùng núi Nưa, nằm trong cùng khuôn viên với các ban thờ Mẫu.

Cây si cổ và các miếu nhỏ

Cây si trong khuôn viên cùng các miếu nhỏ rải theo đường bậc. Trong thờ Mẫu, cây cổ thụ thường được coi là một phần của nơi thờ chứ không chỉ là cảnh.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều rõ nhất ở đây là sự trùng khớp giữa hành của đất và hành của vị được thờ. Phủ Na dựa vào dãy núi Nưa, còn vị chủ của phủ là Mẫu Thượng Ngàn, vị cai quản Nhạc phủ, tức miền rừng núi. Đặt một nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn vào chân một dãy núi lớn là đặt vị thần đúng vào hành của mình, và trong phong thủy sự trùng khớp ấy gọi là đắc vị. Đây là điểm khiến Phủ Na khác các phủ Mẫu ở đồng bằng, nơi phải lấy mặt nước hay đột đất giữa đồng làm chỗ tựa.

Thứ hai là mạch nước. Trong phép xem đất, núi là nơi khởi mạch còn nước là nơi dẫn khí; một quả núi có nguồn nước chảy ra được xem là núi còn sống, khác với núi đá khô. Dòng nước ngầm bên đền Cô Chín vì thế không chỉ là một tiện dụng cho người đi lễ, mà theo lối nhìn cổ truyền là bằng chứng rằng mạch núi ở đây còn thông.

Thứ ba là cách rải theo sườn dốc. Một quần thể không có trục dọc nghe như thiếu quy củ, nhưng đọc theo phong thủy thì đây là lối tuần mạch, tức các điểm thờ đặt theo chỗ mạch đi chứ không theo đường thẳng do người vạch. Lối ấy buộc người đi lễ phải leo, phải nghỉ, phải đi theo nhịp của đất, và cái nhịp đó là một phần của lễ.

Cuối cùng là chỗ đứng của Phủ Na trong cả dãy núi. Dãy Nưa có hai điểm thờ tự lớn nằm ở hai đầu và ở hai độ cao khác nhau: trên đỉnh là Am Tiên cùng chỗ mà dân gian gọi là huyệt đạo, ở sườn và chân là Phủ Na. Đọc hai nơi cùng lúc thì thấy một cấu trúc quen của phong thủy cổ truyền: điểm trên đỉnh là chỗ tụ, kín và ít người, dành cho việc đối trời; điểm dưới sườn là chỗ phát, mở và đông người, dành cho việc của đời sống. Xin nói rõ rằng chữ huyệt đạo ở đây là cách gọi của dân gian và của tài liệu du lịch địa phương, không phải một khái niệm có trong hồ sơ di tích; chúng tôi nêu lại như một dữ kiện về niềm tin, không xác nhận nội dung của nó.

Hai Kỳ Hội Và Nghi Thức Hầu Đồng

Phủ Na có hai kỳ hội trong năm, một vào đầu xuân và một vào tháng Tám, cả hai tính theo âm lịch. Kỳ xuân là kỳ đông nhất, và nhịp của nó khác lệ hội làng: không dồn vào vài ngày mà kéo gần suốt tháng Giêng.

Các mốc lệ chính trong năm của quần thể. Nguồn: Tài liệu giới thiệu di tích của địa phương và các bản tin về lễ hội Phủ Na..
Thời điểm âm lịchLệNội dung
Từ trước giao thừa tới hết tháng GiêngKỳ hội xuânKỳ hội chính và đông người nhất trong năm, gồm dâng hương tại các đền trên sườn núi và lấy nước tại đền Cô Chín.
Mùng 2 Tết tới rằm tháng GiêngCao điểm kỳ xuânKhoảng thời gian tập trung nhất của kỳ hội xuân theo tài liệu địa phương.
Mùng 1 tới 16 tháng 8Kỳ hội thuKỳ hội thứ hai trong năm, quy mô gọn hơn kỳ xuân nhưng giữ đủ phần tế và dâng hương.
Tháng HaiMùa lễ nối tiếpMột số tài liệu nêu thêm tháng Hai âm lịch là mùa lễ của di tích, nối tiếp kỳ hội xuân.
Rải rác trong nămCác vấn hầuCác buổi hầu đồng do thanh đồng và bản hội tổ chức, có dàn cung văn đi kèm; thời điểm tùy từng bản hội.

Hai thực hành gắn với nơi này là hát chầu vănhầu đồng. Chầu văn là lối hát nghi lễ, dàn nhạc gồm đàn nguyệt, trống, phách và cảnh, lời hát kể sự tích từng vị trong hệ Tứ Phủ. Hầu đồng là nghi lễ trong đó thanh đồng lần lượt trình các giá ứng với từng vị, mỗi giá có khăn áo theo sắc của phủ, có điệu múa và bản văn riêng.

Theo sử liệu

Nhìn ở góc nhân học, một vấn hầu là một chỉnh thể gồm âm nhạc, trang phục, vũ đạo, ngôn ngữ nghi lễ và quan hệ cộng đồng, tiến hành theo trình tự đã quy ước qua nhiều đời. Chính tính chỉnh thể ấy là lý do thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh ngày 1 tháng 12 năm 2016. Điều được ghi danh là tập quán thực hành, không phải một phán xét về niềm tin.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Xã Xuân Du, huyện Như Thanh cũ, tỉnh Thanh Hóa
Đường tới
Nằm ở xã Xuân Du, thuộc huyện Như Thanh cũ, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa chừng ba mươi cây số. Đây là phía sườn và chân dãy núi Nưa, không phải đường lên đỉnh Am Tiên ở xã Tân Ninh.
Toạ độ
19.6717, 105.6236
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động và rất đông vào tháng Giêng, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào cung thờ, đi nhẹ nói khẽ, không đặt tiền lẻ lên đồ thờ mà bỏ vào hòm công đức. Đường trong quần thể là đường bậc lên dốc, nên quý vị nên chọn giày đi được bậc. Nếu gặp một vấn hầu, xin đứng ngoài phạm vi chiếu hầu và không đi cắt ngang giữa thanh đồng với ban thờ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Phủ Na thờ ai

Vị chủ của phủ là Mẫu Thượng Ngàn, vị cai quản Nhạc phủ tức miền rừng núi, sắc xanh, trong Tam toà Thánh Mẫu. Bên cạnh đó là đền Cô Chín thuộc hàng Tứ phủ Thánh cô, cùng ban thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, ban thờ Bà Triệu và ban thờ Triệu Quốc Đạt theo tài liệu di tích.

Phủ Na có từ năm nào

Chưa có mốc chắc. Không có bia ký hay văn bản đương thời nào cho biết năm dựng. Nhiều tài liệu giới thiệu ghi năm 1909 theo lối kiến trúc thời Nguyễn, nhưng không dẫn nguồn, nên con số ấy có thể là năm của một đợt dựng lại chứ không phải năm khởi dựng.

Phủ Na có phải Am Tiên trên đỉnh núi Nưa không

Không. Đây là hai di tích khác nhau, hồ sơ riêng và địa bàn riêng. Phủ Na ở xã Xuân Du, thuộc huyện Như Thanh cũ, nằm phía sườn và chân dãy núi. Khu núi Nưa, đền Nưa và Am Tiên ở xã Tân Ninh, được xếp hạng di tích quốc gia ngày 27 tháng 3 năm 2009.

Mẫu Thượng Ngàn đứng ở đâu trong hệ Tứ Phủ

Mẫu Thượng Ngàn là một trong Tam toà Thánh Mẫu, cai quản Nhạc phủ là miền rừng núi, sắc xanh, còn gọi là Lâm Cung Thánh Mẫu với thần tích quen dùng là La Bình công chúa. Trên hàng Mẫu là Vua cha, dưới hàng Mẫu là Ngũ vị Tôn quan, Thập nhị Chầu bà, Thập vị Ông hoàng, Tứ phủ Thánh cô và Tứ phủ Thánh cậu.

Lễ hội Phủ Na vào ngày nào

Có hai kỳ hội theo âm lịch. Kỳ xuân kéo từ trước giao thừa tới hết tháng Giêng, cao điểm từ mùng 2 Tết tới rằm tháng Giêng. Kỳ thu diễn ra từ mùng 1 tới ngày 16 tháng 8. Một số tài liệu nêu thêm tháng Hai âm lịch là mùa lễ nối tiếp kỳ xuân.

Đọc Tiếp