VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Bà Đanh

寶山寺 · Bảo Sơn Tự

Ngôi chùa quay cổng ra mặt sông Đáy, thờ Phật cùng Tứ Pháp, và mang cái tiếng vắng vẻ đã thành một câu ví cả nước đều thuộc.

Quy mô lớn
đời Lê Hy Tông
niên hiệu Vĩnh Trị, khoảng các năm 1676 tới 1680
Khuôn viên
khoảng 10 hecta
tựa núi Ngọc, ba mặt hướng ra sông Đáy
Xếp hạng
Di tích quốc gia
chùa Bà Đanh và núi Ngọc, năm 1994

Từ bờ bên kia sông Đáy nhìn sang, quý vị thấy một dải tre và một mái ngói thấp nép dưới chân núi Ngọc, không có phố xá nào chạy tới tận cổng. Cây cầu bắc qua sông là thứ mới; trước đó, muốn vào chùa thì phải xuống đò, rồi đi thêm một quãng đường đất giữa cây cối rậm rạp. Cổng chùa quay thẳng ra mặt nước, bậc đá đổ xuống bến, và bến sông ấy mới là lối vào chính của ngôi chùa này suốt mấy trăm năm.

Tên chữ của chùa là Bảo Sơn Tự, nghĩa là chùa núi báu, gọi theo ngọn núi sau lưng. Nhưng cả nước biết nơi này qua một cái tên khác và đúng một câu: vắng như chùa Bà Đanh. Hiếm ngôi chùa nào nổi tiếng vì chính sự vắng vẻ của mình như vậy, và cũng hiếm nơi nào mà cái tiếng ấy còn chưa ngã ngũ đến thế.

Tên Gọi, Câu Ví Và Vị Được Thờ

Ngôi chùa này mang hai lớp tên. Lớp thứ nhất là tên chữ Bảo Sơn Tự, thuộc văn bản, gọi theo thế đất tựa núi. Lớp thứ hai là tên dân gian chùa Bà Đanh, gọi theo làng: chùa dựng trên đất thôn Đanh Xá, nên người quanh vùng gọi là chùa Đức Bà làng Đanh, lâu ngày rút gọn thành chùa Bà Đanh. Cách đặt tên ấy rất thường gặp ở Bắc Bộ, nơi tên chữ dùng để ghi bia còn tên nôm dùng để gọi hằng ngày. Chữ Hán ghi ở đầu bài là do thư viện chuyển tự từ tên chữ ấy, không phải chép lại từ một bức hoành phi cụ thể trong chùa.

Theo giáo nghĩa

Chùa thờ Phật theo lối Bắc tông, đồng thời thờ Tứ Pháp. Tứ Pháp là bốn vị thần được thờ dưới hình tướng nhà Phật: Pháp Vân là mây, Pháp Vũ là mưa, Pháp Lôi là sấm, Pháp Điện là chớp, đúng bốn thứ mà một xã hội trồng lúa nước phải ngóng suốt cả năm. Chữ pháp vốn là chữ nhà Phật, nghĩa là giáo pháp; ghép nó vào mây mưa sấm chớp tức là lấy ngôn ngữ của đạo Phật khoác lên các vị thần thời tiết đã được thờ từ trước.

Ở đây, vị thờ trong thượng đường là Pháp Vũ, tức thần mưa, mà người trong vùng gọi là Bà Đanh. Với một vùng chiêm trũng ven sông Đáy, chọn thần mưa làm vị chủ của ngôi chùa lớn nhất vùng là điều dễ hiểu.

Theo sử liệu

Hệ Tứ Pháp không phải của riêng nơi này. Gốc của nó ở vùng Dâu thuộc Luy Lâu cũ, nay là đất Bắc Ninh, gắn với truyện Man Nương và với bốn ngôi chùa thờ bốn vị; quý vị có thể đọc lớp gốc ấy ở bài chùa Dâu. Từ vùng Dâu, tín ngưỡng này lan theo châu thổ sông Hồng xuống phía nam, và chùa Bà Đanh là một trong những điểm xa nhất về phía nam còn giữ được lối thờ ấy tương đối rõ.

Cần nói cho đúng: chùa Bà Đanh không thuộc bộ bốn chùa Tứ Pháp gốc. Đây là điểm thờ riêng một vị trong hệ ấy, theo cách nhiều làng châu thổ đã làm khi rước một vị Tứ Pháp về lập chùa cho làng mình. Quan hệ giữa hai nơi là quan hệ gốc và nhánh.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất ở đây là câu ví vắng như chùa Bà Đanh. Người ta thường tưởng câu ấy có một lời giải duy nhất đã được xác định. Thực ra các nguồn vẫn đưa ra mấy cách giải thích khác nhau, và chưa cách nào được chứng minh bằng tư liệu dứt điểm. Chúng tôi ghi đủ để quý vị tự cân nhắc.

Cách thứ nhất, giải thích bằng đường đi. Chùa nằm biệt lập bên sông Đáy, ba mặt là nước, phía sau là núi, chung quanh không có xóm làng liền kề. Trước năm 1945, đường vào là đường độc đạo cắt qua vùng cây cối rậm rạp; muốn tới thì phải qua đò, và người đi lễ ban đêm còn phải mang đuốc cùng thanh la để xua thú rừng. Một ngôi chùa tới được đã khó như vậy thì vắng là chuyện đương nhiên. Đây là cách được nhắc nhiều nhất và cũng dễ kiểm chứng nhất về mặt địa thế.

Cách thứ hai, giải thích bằng sự kiêng dè. Một số tài liệu chép lệ truyền trong vùng rằng nơi này rất thiêng, ai đến mà buông lời bất kính thì mang vạ, nên dân quanh vùng chỉ lui tới vào ngày rằm và mùng một. Cách này thuộc lớp truyền ngôn, không có văn bản đương thời nào đỡ lưng.

Cách thứ ba, cho rằng câu ví vốn nói về một chùa Bà Đanh khác. Theo thuyết này, chùa trong câu ví là một ngôi ở kinh thành Thăng Long xưa, thuộc làng Thụy Chương, tức khu vực Thụy Khuê của Hà Nội cũ, gắn với ngôi chùa mang tên chữ Châu Lâm. Chuyện kể rằng dưới đời Lê Thánh Tông, một nhóm cư dân người Chiêm được đưa ra định cư ở ấp Châu Lâm ven hồ và lập chùa riêng theo nếp của họ; chùa được gọi theo tên người đàn bà trông coi, thành chùa Bà Đanh. Về sau lớp cư dân ấy thưa dần rồi tản đi, chùa hoang phế, mà vùng ấy khi đó còn là ruộng đồng chưa có phố xá.

Ba cách trên không loại trừ nhau; có thể câu ví khởi từ một nơi rồi được gán sang nơi kia vì trùng tên. Điều chắc chắn duy nhất là chưa thuyết nào được chứng minh. Chúng tôi nêu cả ba chứ không chọn bừa một cách giải thích, và cũng không phê phán ai đã kể theo cách nào.

Từ Miếu Nhỏ Bên Sông Đến Bảo Sơn Tự

Lịch sử ở đây chia làm hai lớp rõ rệt. Lớp thứ nhất là lớp truyền ngôn, kể về một ngôi miếu nhỏ thờ Tứ Pháp dựng rất sớm bên bờ sông. Lớp thứ hai có tư liệu đỡ lưng, bắt đầu từ thế kỷ 17, khi ngôi miếu ấy được dựng lại thành một quần thể lớn mang tên chữ Bảo Sơn Tự.

  • Thế kỷ 7Miếu nhỏ thờ Tứ Pháp
    Theo truyền ngôn trong vùng, khởi đầu nơi đây chỉ là một ngôi miếu nhỏ thờ Tứ Pháp bên bờ sông Đáy. Niên đại này thuộc lớp truyền thuyết, không có văn bản đương thời xác nhận.
  • Trước thế kỷ 17Rước Pháp Vũ về lập chùa làng
    Lớp truyền ngôn chép việc dân Đanh Xá rước một vị trong hệ Tứ Pháp về thờ và dựng chùa cho làng, theo nếp lan toả của tín ngưỡng này từ vùng Dâu xuống phía nam.
  • Niên hiệu Vĩnh TrịDựng lớn đời Lê Hy Tông
    Mốc được các tài liệu di tích nhắc nhiều nhất. Chùa được dựng lớn trong niên hiệu Vĩnh Trị đời Lê Hy Tông, khoảng các năm 1676 tới 1680, từ một ngôi miếu nhỏ thành nơi thờ tự chính của cả vùng.
  • Thế kỷ 18 tới 19Mở rộng dần các nếp nhà
    Quần thể lớn dần thành gần bốn chục gian nhà lớn nhỏ nối nhau, gồm tam quan, bái đường, trung đường, thượng đường, nhà tổ, phủ thờ Mẫu và nhà khách.
  • Trước năm 1945Thời kỳ biệt lập nhất
    Giai đoạn các tài liệu mô tả chùa nằm xa khu dân cư, chung quanh cây cối rậm rạp, lối vào phải qua đò. Đây là bối cảnh mà cách giải thích thứ nhất dựa vào.
  • 1994Xếp hạng di tích quốc gia
    Chùa Bà Đanh cùng núi Ngọc được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Hai đối tượng nằm chung một hồ sơ, nên đi một nơi mà bỏ nơi kia là mới thấy nửa phần.
Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói thẳng. Về niên đại khởi dựng, một số bài phổ thông ghi chùa có gốc từ thế kỷ thứ bảy dưới dạng một ngôi đền nhỏ thờ Tứ Pháp; các tài liệu di tích thì chỉ nói chắc về mốc dựng lớn đời Lê Hy Tông. Không có cấu kiện hay bia ký nào trên mặt đất chứng được cho niên đại thế kỷ thứ bảy, nên chúng tôi ghi rõ đó là truyền ngôn.

Vênh nhau thứ hai nằm ở ngôi vị của vị được thờ. Phần lớn tài liệu ghi tượng Bà Đanh là Pháp Vũ, tức thần mưa. Một số bài lại ghi Bà Chúa Đanh ứng với Pháp Phong, tức thần gió, và kê bốn vị thành Pháp Phong, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện thay cho bộ bốn quen thuộc có Pháp Vân đứng đầu. Lại có bài gọi vị chủ của chùa là Phật Mẫu Man Nương. Chúng tôi chưa tra được bản kiểm kê nào nói dứt điểm; cách được nhiều nguồn dùng nhất, cũng là cách hợp với vùng chiêm trũng cần nước, là Pháp Vũ.

Bố Cục Quay Ra Mặt Sông

Điều đầu tiên cần nhớ về kiến trúc nơi này: chùa quay cổng ra sông chứ không quay ra đường. Tam quan nhìn thẳng xuống bến, bậc đá nối từ cổng xuống mép nước. Cách đặt ấy hợp với một ngôi chùa lấy đường thuỷ làm đường chính, nhưng khiến người thời nay đi đường bộ tới thường vào chùa từ phía sau lưng, tức đi ngược trục thờ tự.

Tam quan

Cổng ba gian hai tầng, tầng trên làm gác chuông, quay ra phía sông Đáy, phía trước có sân và bậc đá dẫn xuống bến.

Nhà bái đường

Năm gian, hai đầu bít đốc, lợp ngói nam, trên bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt nguyệt. Nếp nhà người vào lễ gặp trước nhất.

Trung đường và thượng đường

Hai lớp nhà phía trong, nối vào bái đường thành một khối liên hoàn. Thượng đường là nơi đặt pho tượng Bà Đanh, vị Tứ Pháp được thờ chính tại chùa.

Nhà tổ và phủ thờ Mẫu

Hai hạng mục đứng riêng trong khuôn viên. Phủ thờ Mẫu là dấu của lớp tín ngưỡng thờ Mẫu nhập vào khuôn viên nhà chùa, rất thường gặp ở chùa làng Bắc Bộ.

Tượng Bà Đanh

Tạc trong tư thế toạ thiền trên ngai gỗ sẫm bóng, nét mặt hiền hoà và nữ tính, không mang tướng nghiêm của tượng Phật thường thấy. Đây là chỗ thấy rõ nhất việc một vị thần thời tiết được tạc theo dáng nhà Phật.

Núi Ngọc

Ngọn núi đất đá thấp ngay sau lưng chùa, nằm chung một hồ sơ di tích với chùa. Trên núi có cây lâu năm và lối lên nhìn ra khúc sông trước mặt.

Khuôn viên rộng chừng mười hecta, các nếp nhà lớn nhỏ cộng lại tới gần bốn chục gian. Con số ấy lớn so với một chùa làng, cho biết vào thời cực thịnh đây là trung tâm thờ tự của cả vùng ven sông chứ không phải nơi thờ riêng của một thôn. Một ngôi chùa vắng người mà có quy mô như vậy nghe qua thì mâu thuẫn, nhưng chỉ nói rằng cái vắng là vắng của đường đi.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thuỷ cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Thế đất ở đây thuộc loại sách vở gọi là tựa sơn hướng thuỷ, và hiếm khi nào thế ấy lại hiện ra gọn gàng đến vậy giữa một vùng đồng bằng. Lưng chùa dựa vào núi Ngọc, ngọn núi thấp nhưng đủ làm hậu chẩm, tức chỗ dựa phía sau. Mặt chùa nhìn ra sông Đáy, dòng nước lớn của cả vùng, và mặt sông ấy đóng vai trò minh đường. Ở châu thổ Bắc Bộ, nơi thiếu núi, một điểm hội đủ cả hai điều kiện thì được coi là quý.

Xét theo ngũ hành, đây là thế Thổ tựa Thuỷ triều: núi là Thổ, sông là Thuỷ, mà vị được thờ chính lại là Pháp Vũ, thần mưa, thuộc hành Thuỷ. Thần thuộc Thuỷ toạ trên đất có nước bao ba mặt, trong lối cũ gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ. Cả vùng Đanh Xá là đất chiêm trũng sống bằng nước trời và nước sông, nên việc đặt thần mưa ở đúng khúc sông này là chọn lựa của người xưa chứ không phải chuyện ngẫu nhiên.

Về hướng, chùa quay mặt về phía nam, hướng mà chùa chiền Bắc Bộ chuộng nhất vì đón nắng ấm và tránh gió lạnh mùa đông. Điểm riêng là hướng nam ấy trùng với hướng ra sông, nên trục thờ tự và trục đi lại xưa nhập làm một.

Sau cùng, xin nói về chính cái vắng. Đọc theo lối cũ, một huyệt đất bị nước vây ba mặt và núi chắn một mặt là huyệt tụ khí rất tốt, nhưng đồng thời là huyệt khó tới, vì cái vòng nước giữ khí lại cũng là cái vòng ngăn chân người. Hai mặt ấy là một. Chính cái thế đất khiến nơi này được coi là thiêng lại là cái thế đất khiến nó vắng; câu ví của dân gian và lời bình của phép xem đất, ở đây, nói cùng một điều bằng hai giọng.

Hội Chùa Và Lệ Trong Năm

Hội chính mở vào ngày mười bảy tháng hai âm lịch, trước lúc vụ chiêm bước vào chặng cần nước nhất. Nếu quý vị nhớ vị được thờ ở đây là thần mưa thì thời điểm ấy không còn là ngẫu nhiên: đây vốn thuộc lớp hội cầu mưa cầu mùa của nhà nông châu thổ, dù phần lễ đã theo nghi thức nhà chùa từ lâu.

Các mốc lệ chính trong năm của chùa. Nguồn: Các bản tin về lễ hội chùa Bà Đanh và tài liệu giới thiệu di tích..
Thời điểm âm lịchLệNội dung
Ngày 17 tháng HaiHội chínhNgày trọng nhất trong năm. Phần lễ gồm dâng hương lễ Phật và lễ ban Tứ Pháp tại thượng điện, cầu cho mưa thuận gió hoà.
Trong những ngày hộiTrò diễn và trò chơi của làngCác nguồn ghi nhận chọi gà, kéo co, cờ tướng, đua thuyền trên khúc sông trước chùa, cùng hát chèo cổ và các làn điệu dân ca.
Mùng 1 và ngày rằm hằng thángLệ thường kỳHai ngày chùa có người tới lễ đều đặn quanh năm. Tài liệu cũ chép rằng trước đây dân trong vùng chủ yếu chỉ lên chùa vào hai ngày này.
Dịp đầu xuânLễ đầu nămTừ mùng một Tết tới rằm tháng Giêng, chùa đông hơn các thời điểm khác trong năm, theo nếp đi lễ đầu xuân chung của Bắc Bộ.

Một điều đáng để ý: dù vị chủ của chùa thuộc hệ Tứ Pháp, hội chùa Bà Đanh không có lệ rước bốn vị về một chỗ như hội vùng Dâu. Lý do nằm ở chỗ đã nói bên trên, rằng đây là một nhánh chứ không phải một phần của cụm bốn chùa gốc. Vị Tứ Pháp ở đây được thờ độc lập trong khuôn khổ một ngôi chùa làng, và hội vì thế gọn trong phạm vi làng cùng các thôn lân cận.

Nói thêm cho đủ, cái tiếng vắng vẻ ngày nay đã khác xa lúc câu ví ra đời. Từ khi có đường bộ và cầu qua sông, ngày hội và dịp đầu xuân nơi đây không còn vắng. Câu ví thì vẫn còn trong tiếng nói hằng ngày của cả nước, sống lâu hơn cái cảnh đã sinh ra nó.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng cũ, tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Chùa nằm ở thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, thuộc huyện Kim Bảng cũ, tỉnh Ninh Bình, bên hữu ngạn sông Đáy và cách thành phố Phủ Lý chừng bảy cây số. Nay đã có đường bộ và cầu qua sông tới sát cổng chùa, không còn phải đi đò như trước.
Toạ độ
20.5433, 105.8797
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc ở chính nơi này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào bái đường và thượng đường, không chạm tay vào pho tượng Bà Đanh cùng ngai thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban. Lễ dâng ban Phật và ban Tứ Pháp theo lệ là lễ chay. Lối lên núi Ngọc phía sau là đường đất có chỗ trơn, xin quý vị liệu sức.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Bà Đanh ở đâu

Chùa ở thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, thuộc huyện Kim Bảng cũ, bên hữu ngạn sông Đáy, cách thành phố Phủ Lý chừng bảy cây số. Sau lần sắp xếp địa giới năm 2025, địa bàn này thuộc tỉnh Ninh Bình do tỉnh Hà Nam cũ đã nhập vào.

Vì sao lại có câu vắng như chùa Bà Đanh

Có mấy cách giải thích và chưa cách nào được chứng minh. Cách được nhắc nhiều nhất dựa vào địa thế: chùa nằm biệt lập bên sông Đáy, đường vào xưa phải qua đò rồi đi tiếp qua vùng cây cối rậm rạp. Cách thứ hai nói dân kiêng dè vì cho là nơi rất thiêng. Cách thứ ba cho rằng câu ví vốn chỉ một chùa Bà Đanh khác ở Hà Nội cũ.

Chùa Bà Đanh thờ ai

Chùa thờ Phật theo lối Bắc tông, đồng thời thờ Tứ Pháp. Vị thờ trong thượng đường là Pháp Vũ, tức thần mưa, mà người trong vùng gọi là Bà Đanh. Một số tài liệu ghi vị này là Pháp Phong hoặc gọi là Phật Mẫu Man Nương; nguồn ở điểm này chưa thống nhất.

Tứ Pháp ở chùa Bà Đanh có liên hệ gì với chùa Dâu

Hệ Tứ Pháp gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện có gốc ở vùng Dâu thuộc Luy Lâu cũ, gắn với truyện Man Nương, mà chùa Dâu là ngôi đứng đầu. Chùa Bà Đanh thờ một vị trong hệ ấy nhưng không thuộc bộ bốn chùa gốc; đây là quan hệ gốc và nhánh khi tín ngưỡng này lan xuống phía nam.

Hội chùa Bà Đanh mở vào ngày nào

Hội chính mở vào ngày mười bảy tháng hai âm lịch, gồm phần lễ dâng hương tại thượng đường và phần hội với chọi gà, kéo co, cờ tướng, đua thuyền trên khúc sông trước chùa cùng hát chèo cổ. Ngoài ngày hội, chùa có người tới lễ đều vào mùng một và ngày rằm.

Đọc Tiếp