Từ bờ sông Lam nhìn vào, quý vị thấy một khối núi thấp tròn trịa nổi lên giữa đồng, dân trong vùng gọi là núi Quả. Đền dựa vào chân núi ấy, mặt hướng ra phía nước. Qua cổng tam quan và nghi môn là ba lớp điện nối nhau, hạ điện, trung điện rồi thượng điện, hai bên có tả vu hữu vu, phía sau còn một khu lăng mộ, tất cả gọn trong dải đất rộng hơn bốn hecta.
Người xứ Nghệ có câu nhất Cờn, nhị Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng để kể bốn ngôi đền thiêng của vùng, và đền Quả Sơn đứng ở chữ nhị. Nhưng chỗ riêng của nơi này không nằm ở thứ bậc ấy. Ba ngôi kia thờ thần biển, thờ tướng, thờ người cầm quân; riêng đền Quả Sơn thờ một người được nhớ trước hết vì việc mở đất, tức việc khai khẩn, lập ấp và dựng nghề cho cả một xứ.
壹Uy Minh Vương Lý Nhật Quang
Vị được thờ là một người thật, có tên trong chính sử: Lý Nhật Quang, con thứ tám của vua Lý Thái Tổ, tức Lý Công Uẩn, và là em của Lý Thái Tông. Tước hiệu Uy Minh Vương mà đời sau quen gọi là tước ngài nhận về cuối đời làm quan ở xứ Nghệ. Sự nghiệp của ngài gọn trong một địa bàn: châu Nghệ An của thế kỷ 11, tức vùng Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay. Xin nói rõ: ba chữ Quả Sơn Từ mà thư viện ghi ở đầu bài là chữ Hán do chúng tôi suy từ tên gọi tiếng Việt, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể nào.
Đường làm quan của ngài theo ba bậc. Năm 1039 ngài vào Nghệ An coi việc thu thuế, mang danh hiệu Uy Minh thái tử. Năm 1041 ngài được bổ làm tri châu Nghệ An, tước Uy Minh hầu. Năm 1044, sau khi góp lương thảo cho việc phương nam, ngài được tiến lên tước vương.
Về năm ngài hóa thì nguồn vênh nhau: tư liệu của địa phương Đô Lương cũ ghi năm 1057, một khảo cứu khác ghi năm 1055, và chúng tôi ghi cả hai. Tên ngài có trong Đại Việt sử ký toàn thư; lớp thần tích về ngài thì chép trong Việt điện u linh. Hai nguồn ấy thuộc hai loại, một là sử biên niên, một là truyện thần, quý vị nên giữ tách bạch.
Công tích khai khẩn và lập ấp
Việc mà người xứ Nghệ nhớ về ngài không phải một chiến công mà là một chuỗi việc làm ăn.
- Khai khẩn đất hoang. Ngài tập hợp dân phiêu tán cùng binh lính đồn trú thành lực lượng mở ruộng. Tư liệu địa phương nêu tên các vùng được khai phá thời ấy, trong đó có Khe Diêm, Khe Choăng nay thuộc xã Châu Khê, Khe Thơi nay thuộc xã Lạng Khê, tức những thung lũng thượng nguồn chứ không phải đất đồng bằng dễ làm.
- Lập làng ấp mới. Đất mở ra thì phải có người ở, nên việc lập làng lập ấp đi liền với việc khai khẩn. Đây là lý do tên ngài còn gắn với rất nhiều làng dọc thượng nguồn sông Lam.
- Trị thủy và mở đường. Ngài cho đắp đê ven sông Lam, khơi đường thủy, mở đường bộ nối các vùng. Đất bồi ven sông không có đê thì mỗi mùa nước là mất một mùa lúa, nên việc đắp đê là phần tiếp của việc khai khẩn.
- Dựng chợ và dựng nghề. Chợ được lập để dân đổi được thứ mình làm ra; nghề trồng dâu nuôi tằm cùng một số nghề thủ công được đưa vào, cho dân có việc ngoài mùa vụ.
- Mở trường học. Tư liệu địa phương ghi rằng thời ngài coi châu Nghệ An, xứ này có bốn người đỗ tiến sĩ cùng nhiều người đỗ các bậc dưới, con số đáng kể với một vùng biên viễn của thế kỷ 11.
- Quân Nghiêm Thắng. Đạo quân lập theo phép ngụ binh ư nông, thời bình người lính về làm ruộng, giữ được sức người cho đồng ruộng mà vẫn có lực lượng phòng giữ.
Gộp lại, đó là công việc của một người cai trị đi mở đất. Chính vì vậy mà người dân nhiều đời sau vẫn thờ ngài như người sinh ra ruộng, sinh ra làng của mình.
Xét theo lối thờ tự cổ truyền, đây là hình thức thờ nhân thần, tức người thật được thờ như thần, thuộc lớp thần có công khai mở đất đai. Hệ thần này khác hẳn hệ thần linh Đạo Giáo hay hệ Tứ Phủ: không lấy thân thế huyền thoại làm gốc, mà có mộ, có niên đại, có việc làm chép trong sử. Người ta thờ để tạ một việc đã xảy ra. Tư liệu địa phương cho biết có hơn năm mươi nơi thờ Lý Nhật Quang trên địa bàn Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, trong đó đền Quả Sơn được coi là đền chính, vì đền dựng ngay chỗ ngài hóa.
Một chỗ hay hiểu lầm. Trong các khảo cứu về Quan Hoàng Mười của hệ Tứ Phủ, có nguồn nêu thuyết cho rằng vị thánh ấy chính là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, và từ đó một số người đi lễ hiểu đền Quả Sơn là một cửa đền Tứ Phủ. Thực tế thì không: nơi đây thờ Lý Nhật Quang như một nhân thần có công mở đất, nghi thức là tế lễ theo lối thờ người có công, không có hàng Mẫu, hàng Quan, hàng Cô hàng Cậu, và không phải chốn hầu đồng. Thuyết ấy cũng chỉ là một trong nhiều thuyết về thân thế vị thánh, chưa thuyết nào được chứng minh; xin đọc thêm ở trang đền Ông Hoàng Mười.
貳Nghìn Năm Bên Núi Quả
Lịch sử của nơi này chia hai đoạn không liền nhau. Đoạn thứ nhất là một ngôi đền cổ dựng từ thế kỷ 11, giữ được quy mô lớn qua nhiều triều. Đoạn thứ hai bắt đầu từ giữa thế kỷ 20, khi đền chỉ còn phế tích, rồi được dựng lại từ nền cũ.
- 1039 tới 1044Từ coi việc thuế tới tước vươngVào Nghệ An năm 1039, làm tri châu năm 1041 với tước Uy Minh hầu, tiến tước Uy Minh Vương năm 1044.
- 1055 hoặc 1057Ngài hóa tại Quả SơnNguồn ghi năm mất khác nhau, chỗ 1055, chỗ 1057. Theo thần tích, ngài hóa ở chân núi Quả và dân lập đền ngay tại đó.
- Thế kỷ 11Dựng đềnĐền lập ngay sau khi ngài hóa, quy mô cũ được mô tả là bảy toà gỗ lim theo phong cách Lý Trần, thuộc hạng đền do triều đình dựng và giữ lệ thờ.
- Các triều Lê NguyễnSắc phong và lệ thờĐền nhận sắc phong qua nhiều triều, giữ được bộ đồ tế khí gồm ngai, lọng, kiệu, đại tự, bát bửu, lư hương.
- Giữa thế kỷ 20Đền thành phế tíchToàn bộ kiến trúc cũ bị hủy hoại, chỉ còn nền và một phần hiện vật; lệ lễ hội cũng gián đoạn từ năm 1953.
- 1996Khôi phục đềnĐền được dựng lại trên nền cũ bằng công đức của dân trong vùng cùng hỗ trợ của ngân sách; phần lớn kiến trúc hôm nay thuộc lớp này.
- 1998Di tích quốc giaĐền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Nguồn địa phương ghi năm 1998, một trang khác ghi năm 1999; chúng tôi nêu cả hai.
- 2018Lễ hội thành di sản quốc giaLễ hội đền Quả Sơn được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3325 ngày 4 tháng 9 năm 2018.
Về quy mô cũ của đền, các nguồn ghi vênh nhau và chúng tôi không chọn bừa. Cả hai đều nói đền xưa có bảy toà gỗ lim mang phong cách Lý Trần, nhưng số gian thì một nguồn ghi 24 gian, một nguồn khác ghi 42 gian. Khoảng chênh này có thể do cách đếm gồm hay không gồm các nếp nhà phụ, nhưng đó là suy đoán của chúng tôi chứ không phải điều đã được xác nhận. Vì kiến trúc cũ không còn, hiện chưa có cách nào đối chiếu hai con số ấy với thực địa.
參Ba Điện Dưới Chân Núi
Bố cục hiện nay dàn theo một trục dọc đi từ mặt nước vào chân núi, tức lối quen của đền miếu miền Trung: người lễ càng vào sâu thì càng lên cao và càng vào chỗ kín. Khuôn viên rộng hơn bốn hecta, gồm cả phần sân, phần điện và phần lăng mộ.
Hai lớp cổng nối nhau. Tam quan mở vào khuôn viên, nghi môn đứng trong hơn, đánh dấu chỗ bắt đầu phần thờ tự và làm chậm bước chân người vào.
Toà ngoài cùng trong ba lớp điện, nơi tiếp nhận người lễ. Phần lớn nghi thức dâng hương thường ngày diễn ra ở đây.
Lớp giữa, đặt hương án và bộ đồ tế khí, cũng là chỗ tiến hành phần tế trong các kỳ lễ lớn.
Lớp trong cùng, thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, hẹp và tối hơn hai lớp ngoài theo đúng nhịp dẫn của lối thờ tự cổ. Một số tài liệu cho biết nơi đây còn thờ hai vị hoàng tử nhà Lý là Dực Thánh Vương và Đông Chinh Vương.
Hai dãy nhà hai bên sân, dùng cho việc sắp lễ và các ban thờ phụ, khép sân thành một khoảng kín tách khỏi đường đi bên ngoài.
Phần đáng chú ý nhất về mặt ý nghĩa. Đền không chỉ là nơi đặt bài vị mà còn là nơi có mộ, và chính điều ấy khiến đây được coi là đền chính trong hơn năm mươi nơi thờ Lý Nhật Quang.
Về hiện vật, đền giữ được bộ đồ tế khí cổ gồm ngai, lọng, kiệu, đại tự, bát bửu, lư hương. Bộ kiệu ở đây không phải hiện vật trưng bày: mỗi năm nó được dùng thật, trong cuộc rước lên chùa Bà Bụt. Cũng xin nói rõ cho quý vị khỏi trông đợi sai: vì kiến trúc gỗ cũ không còn, cái đáng xem ở đền Quả Sơn hôm nay không phải chạm khắc cổ mà là chỗ đất và nếp lễ, một ngôi đền dựng lại đúng trên nền nghìn năm, giữ nguyên trục thờ và giữ nguyên cuộc rước.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Thế đất ở đây rõ tới mức không cần diễn giải nhiều: đền lưng tựa núi Quả, mặt hướng sông Lam, đúng lối chuẩn mực gọi tựa sơn hướng thủy. Núi làm hậu chẩm, tức chỗ gối đầu, giữ cho khí không tán về sau lưng; sông làm minh đường, tức khoảng trống trước mặt để khí tụ lại. Phần lớn đền lớn ở đồng bằng Bắc Bộ không có được cả hai thứ ấy cùng lúc; ở đây cả hai đều là của tự nhiên.
Hình thế ngọn núi cũng đáng để ý. Núi Quả là khối thấp, tròn và đầy, không có sống nhọn hay vách dựng; trong cách phân loại cổ truyền, dạng núi ấy thuộc hành Thổ, nặng và ổn định, ứng với sự nuôi dưỡng. Đặt một nơi thờ người có công mở đất, lập làng, dựng nghề vào chân một ngọn núi hành Thổ là sự trùng khớp mà phép cũ gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ; ngay cái tên Quả, nghĩa là trái, cũng nằm cùng mạch nghĩa ấy. Còn dòng sông trước mặt thì chảy rộng và chậm, được đọc là dòng hữu tình, nước đi qua mà còn ngoái lại. Điều đáng nói hơn: dòng sông ấy chính là thứ ngài trị, đắp đê, khơi luồng, mở bến. Nơi thờ đặt đúng trước dòng nước ấy là một lớp nghĩa nữa của chỗ đất này.
Sau cùng là bố cục vùng, và đây mới là chỗ hay nhất. Cách đền chừng bốn cây số về phía tây, trên cùng mạch đất và cùng dòng sông, là chùa Bà Bụt. Mỗi năm một lần, kiệu từ đền được rước ngược lên chùa rồi rước trở về. Đọc theo con mắt phong thủy thì hai điểm ấy làm thành một trục có chiều: đền ở hạ, chùa ở thượng, và cuộc rước là việc nối hai đầu trục lại. Rộng ra nữa, bốn ngôi đền trong câu nhất Cờn, nhị Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng cũng không rải tùy ý: đền Cờn ở cửa biển phía bắc, đền Quả Sơn ở trung lưu sông Lam, hai ngôi kia ở vùng hạ lưu và ven biển phía nam. Đọc bốn ngôi cùng lúc thì thấy người xưa đặt nơi thờ theo mạch nước của cả một xứ, từ cửa biển vào tới thượng nguồn.
伍Lễ Hội Tháng Giêng Và Cuộc Rước Lên Chùa Bà Bụt
Kỳ hội mở vào tháng Giêng âm lịch, và phần khiến nó khác mọi kỳ hội khác trong vùng là cuộc rước đi ra ngoài khuôn viên đền, ngược sông lên một ngôi chùa. Về số ngày thì nguồn vênh nhau: hồ sơ di sản và trang thông tin của tỉnh ghi hai ngày, 19 và 20 tháng Giêng, một bài viết khác ghi ba ngày, từ 19 tới 21. Chúng tôi ghi cả hai.
Muốn hiểu cuộc rước thì phải biết trước sự tích. Chùa Bà Bụt, tên chữ Tiên Tích Tự, nằm ở thôn Thượng Thọ, xã Lam Sơn thuộc huyện Đô Lương cũ, cách đền chừng bốn cây số về phía tây. Thần tích kể rằng khi Lý Nhật Quang bị trọng thương, một bà Tiên ở chùa ấy báo cho ngài biết Quả Sơn là nơi địa linh, muôn đời có thể hóa thân ở xứ đó. Ngài theo lời mà hóa, dân lập đền tại chỗ. Vì vậy mỗi năm di tượng của ngài được rước từ đền lên chùa để lễ tạ ơn bà Tiên đã chỉ đường.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Trước chính hội | Lễ khai quang, tẩy uế | Nghi thức mở đầu, làm sạch và khai mở không gian thờ tự. |
| Trước chính hội | Lễ yết cáo | Trình báo lên vị được thờ về việc mở hội. |
| 19 tháng Giêng | Lễ chính tế | Lễ tế lớn nhất trong năm, theo nghi thức tế cổ truyền của lối thờ người có công. |
| 19 tháng Giêng | Lễ xuất thần | Rước di tượng từ thượng điện ra, chuẩn bị cho cuộc hành rước sáng hôm sau. |
| Sáng 20 tháng Giêng | Rước thủy và rước bộ lên chùa Bà Bụt | Đoàn rước chia hai cánh, một đi đường bộ, một đi thuyền ngược sông Lam, cùng tiến về chùa cách đền bốn cây số. Cánh bộ chia đội chính binh và đội dân binh, mỗi đội khoảng chín mươi người, mặc áo lụa đỏ và vàng. |
| 20 tháng Giêng | Lễ tạ ơn tại chùa Bà Bụt | Lễ tạ bà Tiên theo thần tích, phần cốt lõi và cũng là lý do tồn tại của cả cuộc rước. |
| Sau lễ tạ | Rước hoàn cung | Di tượng được rước về an vị tại đền, khép lại vòng đi và về của kỳ hội. |
Ngoài phần lễ, kỳ hội có các phần diễn của làng: duyệt quân bộ, duyệt thủy quân, đua thuyền, múa võ và các trò chơi cổ truyền. Theo hồ sơ di sản, lễ hội liên quan tới bảy làng thuộc ba xã, nghĩa là đây là việc chung của cả một vùng, mỗi làng giữ một phần việc trong cuộc rước.
Một chỗ hay nhầm nữa. Nhiều người nghe cuộc rước rồi hiểu chùa Bà Bụt là một hạng mục trong khu đền Quả Sơn. Không phải. Đó là hai di tích riêng, cách nhau chừng bốn cây số, thuộc hai loại khác nhau: một bên là đền thờ nhân thần, một bên là chùa thờ Phật, và hai nơi được xếp hạng ở hai cấp khác nhau, chùa Bà Bụt do tỉnh Nghệ An công nhận. Cái nối hai nơi lại không phải khuôn viên mà là thần tích và cuộc rước mỗi năm một lần. Người đi lễ theo lệ cũ thường đi cả hai, đúng chiều đền trước chùa sau.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Chân núi Quả, xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương cũ, tỉnh Nghệ An
- Đường tới
- Đền nằm dưới chân núi Quả, xã Bồi Sơn thuộc huyện Đô Lương cũ, tỉnh Nghệ An, bên bờ sông Lam. Đi cùng tuyến nên tính ghé thêm chùa Bà Bụt cách đền chừng bốn cây số về phía tây.
- Toạ độ
- 18.9333, 105.3167
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp điện, đi nhẹ nói khẽ ở thượng điện, không chạm vào bộ đồ tế khí và bộ kiệu, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên hương án. Khu lăng mộ phía sau là chỗ trang nghiêm nhất trong khuôn viên, xin quý vị vào lễ chứ không đi vãn cảnh. Sáng 20 tháng Giêng có đoàn rước cắt ngang sân, xin nhường đường cho kiệu.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Quả Sơn thờ ai
Thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con thứ tám của vua Lý Thái Tổ, tri châu Nghệ An từ năm 1041 và được tiến tước vương năm 1044. Một số tài liệu cho biết trong đền còn thờ hai vị hoàng tử nhà Lý là Dực Thánh Vương và Đông Chinh Vương. Đây là lối thờ nhân thần, không thuộc hệ Tứ Phủ.
Lý Nhật Quang có công gì với đất Nghệ An
Ngài khai khẩn đất hoang và lập làng ấp mới ở nhiều vùng thượng nguồn sông Lam, cho đắp đê ven sông, khơi luồng, mở đường, dựng chợ, đưa vào nghề trồng dâu nuôi tằm, mở trường học, và lập đạo quân Nghiêm Thắng theo phép ngụ binh ư nông. Người xứ Nghệ nhớ ngài như người mở đất.
Nhất Cờn nhị Quả tam Bạch Mã tứ Chiêu Trưng là gì
Là câu người xứ Nghệ dùng để kể bốn ngôi đền thiêng của vùng theo thứ bậc. Đền Cờn ở cửa biển phía bắc đứng đầu, đền Quả Sơn bên sông Lam đứng thứ hai, sau đó là đền Bạch Mã và đền Chiêu Trưng. Bốn ngôi rải theo mạch nước của cả xứ, từ cửa biển vào tới trung lưu.
Vì sao mỗi năm phải rước thần từ đền lên chùa Bà Bụt
Theo thần tích, khi Lý Nhật Quang bị trọng thương, một bà Tiên ở chùa Bà Bụt, tên chữ là Tiên Tích Tự, đã báo cho ngài biết Quả Sơn là nơi địa linh có thể hóa thân. Ngài theo lời mà hóa ở chân núi Quả. Vì vậy sáng 20 tháng Giêng, di tượng của ngài được rước ngược lên chùa để lễ tạ ơn, rồi rước hoàn cung về đền.
Lễ hội đền Quả Sơn mở vào ngày nào
Hội mở vào tháng Giêng âm lịch quanh hai ngày 19 và 20: ngày 19 có lễ chính tế và lễ xuất thần, sáng ngày 20 có cuộc rước thủy bộ lên chùa Bà Bụt. Nguồn vênh nhau về số ngày, hồ sơ di sản ghi hai ngày, một bài khác ghi ba ngày. Lễ hội vào danh mục di sản phi vật thể quốc gia năm 2018.