VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Quả Sơn

Đền Quả, đền Uy Minh Vương

Ngôi đền đứng thứ hai trong bốn đền thiêng xứ Nghệ, thờ vị hoàng tử nhà Lý được người Nghệ An nhớ như người mở đất.

Vị được thờ
Lý Nhật Quang
con thứ tám của Lý Thái Tổ, tri châu Nghệ An
Quy mô xưa
7 toà
gỗ lim, các nguồn ghi 24 gian, 40 gian hoặc 42 gian
Xếp hạng
Di tích quốc gia
nguồn ghi năm 1998, nguồn ghi năm 1999

Từ bờ sông Lam nhìn vào, quý vị thấy một khối núi thấp tròn trịa nổi lên giữa đồng, dân trong vùng gọi là núi Quả. Đền dựa vào chân núi ấy, mặt hướng ra phía nước. Qua cổng tam quan và nghi môn là ba lớp điện nối nhau, hạ điện, trung điện rồi thượng điện, hai bên có tả vu hữu vu, phía sau còn một khu lăng mộ, tất cả gọn trong dải đất rộng hơn bốn hecta.

Người xứ Nghệ có câu nhất Cờn, nhị Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng để kể bốn ngôi đền thiêng của vùng, và đền Quả Sơn đứng ở chữ nhị. Nhưng chỗ riêng của nơi này không nằm ở thứ bậc ấy. Ba ngôi kia thờ thần biển, thờ tướng, thờ người cầm quân, riêng đền Quả Sơn thờ một người được nhớ trước hết vì việc mở đất, tức việc khai khẩn, lập ấp và dựng nghề cho cả một xứ.

Chưa có ảnh giấy phép mở · Cần đóng góp ảnh: Địa điểm này hiện chưa có ảnh chụp mang giấy phép mở trong các kho lưu trữ công cộng. Nếu quý vị từng tới thăm và có ảnh tự chụp tại chỗ, xin gửi đóng góp ảnh tại mục Đóng góp bên dưới để thư viện đăng tải và ghi công chính danh.

IUy Minh Vương Lý Nhật Quang

Vị được thờ là một người thật, có tên trong chính sử là Lý Nhật Quang, con thứ tám của vua Lý Thái Tổ, tức Lý Công Uẩn, và là em của Lý Thái Tông. Tước hiệu Uy Minh Vương mà đời sau quen gọi là tước ngài nhận về cuối đời làm quan ở xứ Nghệ. Sự nghiệp của ngài gọn trong một địa bàn là châu Nghệ An của thế kỷ 11, tức vùng Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay. Xin nói rõ rằng ba chữ Quả Sơn Từ mà thư viện ghi ở đầu bài là chữ Hán do thư viện suy từ tên gọi tiếng Việt, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể nào.

Theo sử liệu

Đường làm quan của ngài theo ba bậc. Năm 1039 ngài vào Nghệ An coi việc thu thuế, mang danh hiệu Uy Minh thái tử. Năm 1041 ngài được bổ làm tri châu Nghệ An, tước Uy Minh hầu, chọn đất Bạch Đường làm lỵ sở. Năm 1044, sau khi góp lương thảo cho việc phương nam, ngài được tiến lên tước vương và ban Tiết Việt.

Về năm ngài hóa thì nguồn vênh nhau, tư liệu của địa phương Đô Lương cũ ghi năm 1057, một khảo cứu khác ghi năm 1055, và thư viện ghi cả hai. Ngày 17 tháng Chạp âm lịch hằng năm là ngày lễ chạp đền, tức lễ giỗ của ngài. Tên ngài có trong Đại Việt sử ký toàn thư, còn lớp thần tích về ngài thì chép trong Việt điện u linh. Hai nguồn ấy thuộc hai loại, một là sử biên niên, một là truyện thần, quý vị nên giữ tách bạch.

Công tích khai khẩn và lập ấp

Việc mà người xứ Nghệ nhớ về ngài không phải một chiến công mà là một chuỗi việc làm ăn.

  • Khai khẩn đất hoang. Ngài tập hợp dân phiêu tán cùng binh lính đồn trú thành lực lượng mở ruộng. Tư liệu địa phương nêu tên các vùng được khai phá thời ấy ở đất Cự Đồn, trong đó có Khe Diêm, Khe Choăng nay thuộc xã Châu Khê, Khe Thơi nay thuộc xã Lạng Khê của huyện Con Cuông cũ, tức những thung lũng thượng nguồn chứ không phải đất đồng bằng dễ làm.
  • Lập làng ấp mới. Đất mở ra thì phải có người ở, nên việc lập làng lập ấp đi liền với việc khai khẩn. Đây là lý do tên ngài còn gắn với rất nhiều làng dọc thượng nguồn sông Lam.
  • Trị thủy và mở đường. Ngài cho đắp đê ven sông Lam, khơi đường thủy, mở đường bộ nối các vùng, trong đó có tuyến thượng đạo khởi công năm 1046 từ Đô Lương lên vùng biên viễn phía tây và tuyến nối ra Thăng Long. Đất bồi ven sông không có đê thì mỗi mùa nước là mất một mùa lúa, nên việc đắp đê là phần tiếp của việc khai khẩn.
  • Dựng chợ và dựng nghề. Chợ được lập để dân đổi được thứ mình làm ra, nghề trồng dâu nuôi tằm cùng một số nghề thủ công như rèn sắt, đóng thuyền được đưa vào, cho dân có việc ngoài mùa vụ.
  • Mở trường học. Tư liệu địa phương truyền rằng thời ngài coi châu Nghệ An, ngài cho mở nhiều trường học và xứ này bắt đầu có nhiều người đỗ đạt khoa bảng, dù trong chính sử các khoa thi đại khoa của triều Lý mở muộn hơn vào năm 1075.
  • Quân Nghiêm Thắng. Đạo quân lập theo phép ngụ binh ư nông, thời bình người lính về làm ruộng, giữ được sức người cho đồng ruộng mà vẫn có lực lượng phòng giữ.

Gộp lại, đó là công việc của một người cai trị đi mở đất. Chính vì vậy mà người dân nhiều đời sau vẫn thờ ngài như người sinh ra ruộng, sinh ra làng của mình.

Theo giáo nghĩa

Xét theo lối thờ tự cổ truyền, đây là hình thức thờ nhân thần, tức người thật được thờ như thần, thuộc lớp thần có công khai mở đất đai. Hệ thần này khác hẳn hệ thần linh Đạo Giáo hay hệ Tứ Phủ vì không lấy thân thế huyền thoại làm gốc, mà có mộ, có niên đại, có việc làm chép trong sử. Người ta thờ để tạ một việc đã xảy ra. Tư liệu địa phương cho biết có hơn năm mươi nơi thờ Lý Nhật Quang trên địa bàn Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, trong đó đền Quả Sơn được coi là đền chính, vì đền dựng ngay chỗ ngài hóa.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm. Trong các khảo cứu về Quan Hoàng Mười của hệ Tứ Phủ, có nguồn nêu thuyết cho rằng vị thánh ấy chính là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, và từ đó một số người đi lễ hiểu đền Quả Sơn là một cửa đền Tứ Phủ. Thực tế thì không phải vậy, nơi đây thờ Lý Nhật Quang như một nhân thần có công mở đất, nghi thức là tế lễ theo lối thờ người có công, không có hàng Mẫu, hàng Quan, hàng Cô hàng Cậu, và không phải chốn hầu đồng. Thuyết ấy cũng chỉ là một trong nhiều thuyết về thân thế vị thánh, chưa thuyết nào được chứng minh, xin đọc thêm ở trang đền Ông Hoàng Mười.

IINghìn năm bên núi Quả

Lịch sử của nơi này chia hai đoạn không liền nhau. Đoạn thứ nhất là một ngôi đền cổ dựng từ thế kỷ 11, giữ được quy mô lớn qua nhiều triều. Đoạn thứ hai bắt đầu từ giữa thế kỷ 20, khi đền chỉ còn phế tích, rồi được dựng lại từ nền cũ.

  • 1039 tới 1044Từ coi việc thuế tới tước vương
    Vào Nghệ An năm 1039, làm tri châu năm 1041 với tước Uy Minh hầu, tiến tước Uy Minh Vương năm 1044.
  • 1055 hoặc 1057Ngài hóa tại Quả Sơn
    Nguồn ghi năm mất khác nhau, chỗ 1055, chỗ 1057. Theo thần tích, ngài hóa ở chân núi Quả và dân lập đền ngay tại đó.
  • Thế kỷ 11Dựng đền và miễn tô vùng Bạch Đường
    Đền lập ngay sau khi ngài hóa, thuộc hạng quốc tế quốc tạo, tức triều đình dựng và giữ lệ tế. Năm 1073, Lý Đạo Thành vào làm tri châu Nghệ An đã dâng sớ xin miễn tô thuế vùng này để dân chăm lo hương khói cho đền.
  • Các triều Lê NguyễnSắc phong và lệ thờ
    Đền nhận sắc phong qua nhiều triều, giữ được bộ đồ tế khí gồm ngai, lọng, kiệu, đại tự, bát bửu, lư hương.
  • Giữa thế kỷ 20Đền thành phế tích
    Khoảng năm 1952 tới 1953, toàn bộ kiến trúc gỗ cổ bị hủy hoại. Người dân trong vùng rước di tượng Uy Minh Vương cùng ngai vị Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương và đồ tế khí về cất giữ ở chùa Nhân Bồi và nhà dân, lệ hội cũng gián đoạn từ năm 1953.
  • 1996Khôi phục đền
    Đền được dựng lại trên nền cũ bằng công đức của dân trong vùng cùng hỗ trợ của ngân sách, các đồ tế khí cũ được rước trở lại đền.
  • 1998 tới 1999Di tích quốc gia
    Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Cổng thông tin Đô Lương ghi ngày 12 tháng 2 năm 1998, trong khi các nguồn dẫn Quyết định số 05/1999/QĐ-BVHTT ghi ngày 12 tháng 2 năm 1999.
  • 2018Lễ hội thành di sản quốc gia
    Lễ hội đền Quả Sơn được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3325/QĐ-BVHTTDL ngày 4 tháng 9 năm 2018.
Theo sử liệu

Về quy mô cũ của đền đầu thế kỷ 20, các nguồn ghi vênh nhau và thư viện không chọn bừa. Các tài liệu đều nói đền xưa có bảy toà gỗ lim mang phong cách Lý Trần, nhưng số gian thì một nguồn báo chí ghi 24 gian, cổng thông tin huyện Đô Lương ghi 40 gian, còn một bài khác ghi 42 gian. Khoảng chênh này có thể do cách đếm gồm hay không gồm các nếp nhà phụ như tả vu, hữu vu, lầu ca vũ, nhà hỏa, nhưng đó là suy đoán của thư viện chứ không phải điều đã được xác nhận. Vì kiến trúc cũ không còn, hiện chưa có cách nào đối chiếu các con số ấy với thực địa.

IIIBa điện dưới chân núi

Bố cục hiện nay dàn theo một trục dọc đi từ mặt nước vào chân núi, tức lối quen của đền miếu miền Trung, người lễ càng vào sâu thì càng lên cao và càng vào chỗ kín. Khuôn viên rộng hơn bốn hecta, gồm cả phần sân, phần điện và phần lăng mộ.

Cổng tam quan và nghi môn

Hai lớp cổng nối nhau. Tam quan mở vào khuôn viên, nghi môn đứng trong hơn, đánh dấu chỗ bắt đầu phần thờ tự và làm chậm bước chân người vào.

Hạ điện

Toà ngoài cùng trong ba lớp điện, nơi tiếp nhận người lễ. Phần lớn nghi thức dâng hương thường ngày diễn ra ở đây.

Trung điện

Lớp giữa, đặt hương án và bộ đồ tế khí, cũng là chỗ tiến hành phần tế trong các kỳ lễ lớn.

Thượng điện

Lớp trong cùng, đặt di tượng cổ bằng gỗ sơn son thếp vàng thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, hẹp và tối hơn hai lớp ngoài theo đúng nhịp dẫn của lối thờ tự cổ. Tư liệu địa phương cho biết nơi đây còn phối thờ hai vị hoàng tử nhà Lý là Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương.

Tả vu và hữu vu

Hai dãy nhà hai bên sân, dùng cho việc sắp lễ và các ban thờ phụ, khép sân thành một khoảng kín tách khỏi đường đi bên ngoài.

Khu lăng mộ

Phần đáng chú ý nhất về mặt ý nghĩa, cạnh mộ có nhà bia và nhà ngựa. Đền vừa là nơi đặt bài vị đồng thời là nơi có mộ, và chính điều ấy khiến đây được coi là đền chính trong hơn năm mươi nơi thờ Lý Nhật Quang.

Về hiện vật, đền giữ được di tượng cổ cùng bộ đồ tế khí gồm ngai, lọng, kiệu, đại tự, bát bửu, lư hương. Bộ kiệu ở đây không phải hiện vật trưng bày mà được dùng thật trong cuộc rước lên chùa Bà Bụt. Cũng xin nói rõ cho quý vị khỏi trông đợi sai, vì kiến trúc gỗ cũ không còn, cái đáng xem ở đền Quả Sơn hôm nay không phải chạm khắc cổ mà là chỗ đất và nếp lễ, một ngôi đền dựng lại đúng trên nền nghìn năm, giữ nguyên trục thờ và giữ nguyên cuộc rước.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Thế đất ở đây rõ tới mức không cần diễn giải nhiều, đền lưng tựa núi Quả, mặt hướng sông Lam, đúng lối chuẩn mực gọi tựa sơn hướng thủy. Núi làm hậu chẩm, tức chỗ gối đầu, giữ cho khí không tán về sau lưng, còn sông làm minh đường, tức khoảng trống trước mặt để khí tụ lại. Phần lớn đền lớn ở đồng bằng Bắc Bộ không có được cả hai thứ ấy cùng lúc, ở đây cả hai đều là của tự nhiên.

Hình thế ngọn núi cũng đáng để ý. Núi Quả là khối thấp, tròn và đầy, không có sống nhọn hay vách dựng, trong cách phân loại cổ truyền, dạng núi ấy thuộc hành Thổ, nặng và ổn định, ứng với sự nuôi dưỡng. Đặt một nơi thờ người có công mở đất, lập làng, dựng nghề vào chân một ngọn núi hành Thổ là sự trùng khớp mà phép cũ gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ, ngay cái tên Quả, nghĩa là trái, cũng nằm cùng mạch nghĩa ấy. Còn dòng sông trước mặt thì chảy rộng và chậm, được đọc là dòng hữu tình, nước đi qua mà còn ngoái lại. Điều đáng nói hơn là dòng sông ấy chính là thứ ngài trị, đắp đê, khơi luồng, mở bến. Nơi thờ đặt đúng trước dòng nước ấy là một lớp nghĩa nữa của chỗ đất này.

Sau cùng là bố cục vùng, và đây mới là chỗ hay nhất. Cách đền chừng bốn cây số về phía thượng lưu, trên cùng mạch đất và cùng dòng sông, là chùa Bà Bụt tựa vào chân núi Hội. Theo lệ hội truyền thống, kiệu từ đền được rước ngược lên chùa rồi rước trở về. Đọc theo con mắt phong thủy thì hai điểm ấy làm thành một trục có chiều, đền ở hạ, chùa ở thượng, và cuộc rước là việc nối hai đầu trục lại. Rộng ra nữa, bốn ngôi đền trong câu nhất Cờn, nhị Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng cũng không rải tùy ý, đền Cờn ở cửa biển phía bắc, đền Quả Sơn ở trung lưu sông Lam, hai ngôi kia ở vùng thượng nguồn hơn và ven cửa biển phía nam. Đọc bốn ngôi cùng lúc thì thấy người xưa đặt nơi thờ theo mạch nước của cả một xứ, từ cửa biển vào tới vùng núi.

VLễ hội tháng Giêng và cuộc rước lên chùa Bà Bụt

Kỳ hội mở vào tháng Giêng âm lịch, và phần khiến nó khác mọi kỳ hội khác trong vùng là cuộc rước đi ra ngoài khuôn viên đền, ngược sông lên một ngôi chùa. Về số ngày thì nguồn vênh nhau, hồ sơ di sản ghi từ ngày 18 tới 20 tháng Giêng, trang thông tin của huyện ghi hai ngày chính hội là 19 và 20 tháng Giêng, còn một bài viết khác ghi ba ngày từ 19 tới 21. Thư viện ghi cả ba cách chép.

Muốn hiểu cuộc rước thì phải biết trước sự tích. Chùa Bà Bụt, tên chữ Tiên Tích Tự, nằm dưới chân núi Hội ở thôn Thượng Thọ, xã Lam Sơn cũ, nay cùng thuộc xã Bạch Ngọc, cách đền chừng bốn cây số về phía thượng lưu. Thần tích kể rằng Bà Bụt là vị tiên nữ đã nhiều lần linh ứng phù trợ Lý Nhật Quang trong việc trị nhậm, giữ cõi và chỉ cho ngài biết Quả Sơn là nơi địa linh có thể hóa thân. Ngài theo lời mà hóa, dân lập đền tại chỗ. Vì vậy di tượng của ngài được rước từ đền lên chùa để lễ tạ ơn Bà Bụt, dân gian gọi là lễ Hạ linh hay tích con về thăm mẹ. Một số nguồn du lịch ghi lễ rước lớn tổ chức hai năm một lần vào các năm chẵn âm lịch.

Trình tự nghi thức chính của lễ hội. Lệ hội gián đoạn từ năm 1953 và được khôi phục từ cuối thập niên 1990 với quy mô lớn. Nguồn: Hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về lễ hội đền Quả Sơn và tư liệu của địa phương Đô Lương cũ..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Ngày 18 tháng GiêngLễ khai quang, tẩy uế và yết cáoNghi thức mở đầu, làm sạch không gian thờ tự và trình báo lên vị được thờ về việc mở hội.
Ngày 19 tháng GiêngLễ chính tế và duyệt bộ binhLễ tế lớn theo nghi thức cổ truyền, kèm nghi thức lộn quân của đội chính binh và dân binh quanh sân đền.
Đêm 19 tháng GiêngLễ xuất thầnRước di tượng và long ngai từ thượng điện ra, chuẩn bị cho cuộc hành rước sáng hôm sau.
Sáng 20 tháng GiêngRước thủy và rước bộ lên chùa Bà BụtĐoàn rước chia hai cánh, cánh thủy gồm đoàn thuyền rồng chèo vòng tại vùng nước Động Ngự rồi ngược sông Lam, cánh bộ gồm kiệu thánh cùng đội chính binh và đội dân binh, mỗi đội khoảng chín mươi người mặc áo lụa đỏ và vàng, cùng tiến về chùa cách đền bốn cây số.
Trưa 20 tháng GiêngLễ tạ ơn tại chùa Bà BụtLễ dâng cỗ tạ ơn Bà Bụt theo thần tích, phần cốt lõi và cũng là lý do tồn tại của cả cuộc rước.
Chiều 20 tháng GiêngRước hoàn cung và lễ tạDi tượng được rước về an vị tại đền, khép lại vòng đi và về của kỳ hội.

Ngoài phần lễ, kỳ hội có các phần diễn của làng như duyệt quân bộ, duyệt thủy quân, đua thuyền bơi chải trên sông Lam, múa võ, hát ví giặm và các trò chơi cổ truyền. Theo hồ sơ di sản, lễ hội liên quan tới bảy làng gồm Thanh Xuân, Trạc Thanh, Tập Phúc, Nhân Bồi, Phúc Hậu, Nhân Trung và Phúc Yên thuộc ba xã Ngọc Sơn, Lam Sơn và Bồi Sơn cũ, nay đều thuộc xã Bạch Ngọc, nghĩa là đây là việc chung của cả vùng Bạch Đường xưa, mỗi làng giữ một phần việc trong cuộc rước.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay nhầm nữa. Nhiều người nghe cuộc rước rồi hiểu chùa Bà Bụt là một hạng mục trong khu đền Quả Sơn. Không phải vậy. Đó là hai di tích riêng, cách nhau chừng bốn cây số, thuộc hai loại khác nhau, một bên là đền thờ nhân thần, một bên là chùa thờ Phật lưu giữ pho tượng cổ Đầu người đội Phật, và hai nơi được xếp hạng ở hai cấp khác nhau, trong đó chùa Bà Bụt là di tích cấp tỉnh. Cái nối hai nơi lại không phải khuôn viên mà là thần tích và cuộc rước. Người đi lễ theo lệ cũ thường đi cả hai, đúng chiều đền trước chùa sau.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Chân núi Quả, xã Bạch Ngọc (xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương cũ), tỉnh Nghệ An
Đường tới
Đền nằm dưới chân núi Quả, xã Bạch Ngọc (xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương cũ), tỉnh Nghệ An, bên bờ sông Lam. Đi cùng tuyến nên tính ghé thêm chùa Bà Bụt dưới chân núi Hội cách đền chừng bốn cây số về phía thượng lưu.
Toạ độ
18.9356, 105.2804
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ, ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp điện, đi nhẹ nói khẽ ở thượng điện, không chạm vào bộ đồ tế khí và bộ kiệu, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên hương án. Khu lăng mộ phía sau là chỗ trang nghiêm nhất trong khuôn viên, xin quý vị vào lễ chứ không đi vãn cảnh. Sáng 20 tháng Giêng có đoàn rước cắt ngang sân, xin nhường đường cho kiệu.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Quả Sơn

Contribute photos, information or video for Qua Son Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Quả Sơn thờ ai

Thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con thứ tám của vua Lý Thái Tổ, tri châu Nghệ An từ năm 1041 và được tiến tước vương năm 1044. Tư liệu địa phương cho biết trong đền còn phối thờ hai vị hoàng tử nhà Lý là Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương. Đây là lối thờ nhân thần, không thuộc hệ Tứ Phủ.

Lý Nhật Quang có công gì với đất Nghệ An

Ngài khai khẩn đất hoang và lập làng ấp mới ở nhiều vùng thượng nguồn sông Lam, cho đắp đê ven sông, khơi luồng, mở đường thượng đạo, dựng chợ, đưa vào nghề trồng dâu nuôi tằm và rèn sắt đóng thuyền, mở trường học, và lập đạo quân Nghiêm Thắng theo phép ngụ binh ư nông. Người xứ Nghệ nhớ ngài như người mở đất.

Nhất Cờn nhị Quả tam Bạch Mã tứ Chiêu Trưng là gì

Là câu người xứ Nghệ dùng để kể bốn ngôi đền thiêng của vùng theo thứ bậc. Đền Cờn ở cửa biển phía bắc đứng đầu, đền Quả Sơn bên sông Lam đứng thứ hai, sau đó là đền Bạch Mã và đền Chiêu Trưng. Bốn ngôi rải theo mạch nước của cả xứ, từ cửa biển vào tới vùng núi.

Vì sao có lễ rước thần từ đền lên chùa Bà Bụt

Theo thần tích, Bà Bụt ở chùa Bà Bụt, tên chữ là Tiên Tích Tự, đã linh ứng phù trợ Lý Nhật Quang và chỉ cho ngài biết Quả Sơn là nơi địa linh có thể hóa thân. Ngài theo lời mà hóa ở chân núi Quả. Vì vậy sáng 20 tháng Giêng, di tượng của ngài được rước bằng thuyền rồng và kiệu bộ ngược lên chùa để lễ tạ ơn, rồi rước hoàn cung về đền.

Lễ hội đền Quả Sơn mở vào ngày nào

Hội mở vào tháng Giêng âm lịch, hồ sơ di sản ghi từ ngày 18 tới 20 tháng Giêng, trong đó ngày 19 có lễ chính tế và lễ xuất thần, sáng ngày 20 có cuộc rước thủy bộ lên chùa Bà Bụt, một số nguồn ghi hội kéo tới ngày 21. Lễ hội vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018.

›Đọc Tiếp