VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Thầy

天福寺 · Thiên Phúc Tự

Ngôi chùa dưới chân núi Sài Sơn, nơi người đi lễ gặp Phật trước rồi mới gặp Thánh, và vị Thánh ấy là một con người có thật.

Khởi dựng
thời Lý
am Hương Hải, mở rộng dưới đời Lý Nhân Tông
Hai cầu ngói
năm 1602
Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2408 ngày 31 tháng 12 năm 2014

Đứng ở sân trước cửa chùa, quay mặt ra hồ, quý vị thấy một nhà thủy đình hai tầng tám mái dựng ngay giữa mặt nước, không có lối đi bộ nào nối vào bờ. Bên trái và bên phải, hai cây cầu lợp ngói bắc cong từ sân chùa ra hai phía. Sau lưng chùa là vách đá núi Sài Sơn dựng đứng, trên đó còn vài mái chùa nhỏ nép vào hốc núi. Cả cụm ấy nằm gọn trong một khoảng chưa tới một cây số.

Chùa mang tên chữ là Thiên Phúc Tự, nhưng cả vùng xứ Đoài chỉ gọi là chùa Thầy. Điều làm nơi này khác các chùa Bắc Bộ khác không nằm ở quy mô mà nằm ở cách thờ: đi từ ngoài vào, quý vị gặp Phật trước rồi mới gặp Thánh, và vị Thánh ấy là một con người có thật, Thiền sư Từ Đạo Hạnh, người mà dân trong vùng gọi bằng chữ Thầy.

Chùa Thầy
Chùa Thầy. Ảnh: Hoài Dương Phạm, giấy phép CC BY 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

Thiền Sư Từ Đạo Hạnh Và Lối Tiền Phật Hậu Thánh

Người được thờ ở lớp trong cùng của chùa là Từ Đạo Hạnh, một thiền sư sống dưới đời Lý. Ông tu ở chính vách núi này, và theo tư liệu di tích thì thuộc dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi, đời thứ hai mươi tư. Dân trong vùng không gọi ông bằng pháp hiệu mà gọi bằng một chữ gọn hơn: Thầy.

Theo giáo nghĩa

Tiền Phật hậu Thánh là tên gọi của một lối bố trí thờ tự, không phải tên một tông phái. Theo lối ấy, phần trước của chùa thờ Phật đúng như mọi ngôi chùa Bắc tông, còn phần sau, ở chỗ sâu nhất và cao nhất, thờ một vị Thánh là người có thật đã được dân tôn lên. Lối này chỉ thấy ở một số ít chùa gắn với các vị cao tăng thời Lý, và chùa Thầy là trường hợp còn giữ được đầy đủ nhất.

Hai lớp ấy không tranh chỗ của nhau: lớp Phật giữ phần giáo pháp, lớp Thánh giữ phần công đức của một con người với một vùng đất cụ thể. Trong cách nghĩ cổ truyền, một vị sư đắc đạo thì đứng được ở cả hai hàng.

Theo sử liệu

Về thân thế, các nguồn thống nhất rằng Từ Đạo Hạnh là người đời Lý, tu tại núi Sài Sơn, giỏi thuốc, dạy chữ cho dân quanh vùng và được coi là tổ sư của nghề múa rối nước. Về niên đại thì nguồn vênh nhau: hồ sơ di tích của cơ quan quản lý ghi ông sống trong khoảng 1072 tới 1117, trong khi một số tư liệu Phật học ghi năm mất là 1116. Chúng tôi ghi cả hai chứ không chọn bừa một con số.

Lớp truyền thuyết đi xa hơn lớp sử. Theo thần tích lưu tại chùa, Từ Đạo Hạnh trút xác tại hang trên núi rồi đầu thai làm con Sùng Hiền hầu, đứa trẻ ấy về sau lên ngôi là vua Lý Thần Tông. Chuyện này không phải sử biên niên, nhưng nó giải thích vì sao trong điện Thánh của một ngôi chùa lại có tượng một ông vua ngồi ngai.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nằm ngay ở cái tên. Nhiều người nghe hai chữ chùa Thầy rồi hiểu đây là chùa của một ông thầy dạy học, hoặc hiểu chữ thầy theo nghĩa trường lớp, thậm chí có người tìm tới đây để cầu việc thi cử vì tưởng vậy.

Chữ Thầy ở đây là tiếng dân vùng Sài Sơn dùng để gọi chính Thiền sư Từ Đạo Hạnh, giống như cách người Việt gọi một vị sư mình kính là Thầy. Ông được gọi như thế vì với dân trong vùng, ông vừa là người tu hành, vừa là thầy thuốc, vừa là người dạy chữ và dạy trò rối. Nghĩa là chữ Thầy chỉ một con người, không chỉ một nghề dạy học, và cũng không nói gì về chức năng trường lớp của ngôi chùa. Tên chữ của chùa vẫn là Thiên Phúc Tự; chùa Thầy là tên dân gian gọi theo người, đúng như cách gọi đền Cô, đền Cậu ở nhiều nơi khác.

Từ Am Nhỏ Tới Cụm Chùa Trong Núi

Lịch sử ở đây đi theo lối quen của chùa Bắc Bộ: một am tu nhỏ có trước, rồi triều đình cho mở rộng, rồi các thế kỷ sau bồi thêm từng hạng mục. Điều ít quen là chính những hạng mục bồi thêm ấy lại làm nên cái nhìn mà hôm nay người ta nhớ nhất về nơi này.

  • Trước thời LýAm Hương Hải
    Theo tư liệu di tích, khởi đầu chỉ là một am nhỏ trong vách núi mang tên Hương Hải am, chỗ tu của Từ Đạo Hạnh. Nơi này còn được chép dưới các tên Bồ Đề viện và Phật Tích.
  • 1072 tới 1117Đời Thiền sư Từ Đạo Hạnh
    Khoảng đời của vị thiền sư theo hồ sơ di tích; một số tư liệu Phật học ghi năm mất là 1116. Ông tu tại núi Sài Sơn, làm thuốc, dạy chữ và được tôn là tổ sư nghề múa rối nước.
  • Đời Lý Nhân TôngMở rộng thành cụm chùa
    Am nhỏ được dựng lại thành quy mô lớn hơn, tách làm hai cụm: chùa trên núi và chùa dưới chân núi, tức chùa Cả hiện nay.
  • 1602Dựng hai cầu ngói
    Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều được dựng, tương truyền do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan đứng ra làm sau khi đi sứ về. Cả hai theo lối thượng gia hạ kiều, tức trên là nhà dưới là cầu.
  • Thế kỷ 17Lớp tượng và bia đá còn lại
    Bộ tượng Di Đà Tam Tôn được tạc trong khoảng đầu thế kỷ này, giáo sư Hà Văn Tấn xác định niên đại 1607. Chùa còn giữ nhiều tấm bia đá thế kỷ 17 ghi việc dựng và sửa.
  • 2014Di tích quốc gia đặc biệt
    Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật chùa Thầy cùng khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách được xếp hạng theo Quyết định số 2408 ngày 31 tháng 12 năm 2014.
  • 2015Bảo vật quốc gia
    Bộ tượng Di Đà Tam Tôn chùa Thầy được công nhận bảo vật quốc gia theo Quyết định số 53 ngày 14 tháng 1 năm 2015, được coi là bộ tượng Di Đà Tam Tôn bằng gỗ cổ nhất còn lại ở nước ta.
  • 2024Lễ hội thành di sản phi vật thể quốc gia
    Hội chùa Thầy được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, lễ đón bằng tổ chức trong mùa hội tháng Ba năm ấy.
Theo sử liệu

Cần phân biệt hai lớp niên đại. Niên đại của việc thờ tự gắn với đời Từ Đạo Hạnh ở thế kỷ 11 và 12, dựa vào thần tích và tư liệu chép muộn. Niên đại của vật liệu đang đứng thì khác: bộ khung gỗ, hai cầu ngói, thủy đình, bia đá và phần lớn tượng pháp đều thuộc thế kỷ 16 tới thế kỷ 19. Ngôi chùa hôm nay là công trình thời Lê và thời Nguyễn dựng trên một nền thờ tự có từ thời Lý.

Ba Lớp Thờ, Hai Cầu Và Nhà Thủy Đình

Khu chùa dưới chân núi, quen gọi là chùa Cả, dựng theo lối mà hồ sơ di tích ghi là nội tiền công hậu nhất ngoại quốc, tức ba nếp nhà chính chạy song song và được hai dãy hành lang khép lại thành khung vuông. Ba nếp ấy là chùa Hạ, chùa Trungchùa Thượng, cao dần từ ngoài vào.

Ba lớp thờ đọc từ ngoài vào

Đây là phần cốt lõi của ngôi chùa, và cũng là phần dễ đi lướt nếu không biết trước.

Lớp thứ nhất là Phật. Chùa Hạ và chùa Trung thờ Phật theo lối Bắc tông, có Tam Thế, có bộ Di Đà Tam Tôn, có ban Đức Ông và ban Thánh Hiền. Bộ Di Đà Tam Tôn ở đây chính là bảo vật quốc gia, tạc bằng gỗ mít sơn son thếp vàng, đầu thế kỷ 17; pho Quan Âm cao khoảng 1,48 mét, pho Đại Thế Chí cao khoảng 1,22 mét. Ai chỉ dừng ở hai nếp nhà này thì sẽ bỏ mất phần còn lại.

Lớp thứ hai là Thánh. Chùa Thượng, cũng gọi là điện Thánh, là một gian hai chái lớn, theo hồ sơ di tích dài chừng 14,7 mét, rộng 11,7 mét, cao 6 mét. Ở đây thờ Từ Đạo Hạnh dưới hai dạng: pho tạc ông trong dáng thiền định, và pho tạc ông ở dạng đã thành Thánh, ngồi trên bệ đá hoa sen thời Lý có sư tử đội. Bệ đá ấy là một trong ít cấu kiện còn lại mang niên đại sớm của chùa.

Lớp thứ ba là Vua. Trong điện Thánh còn một pho tượng nữa, tạc vua Lý Thần Tông đội mũ bình thiên, ngồi ngai. Theo thần tích, vị vua này là hậu thân của Từ Đạo Hạnh sau khi ngài trút xác. Ba pho ấy vì thế không phải ba nhân vật mà là ba chặng của một chuyện kể: người tu hành, vị thánh và ông vua.

Tư liệu về chùa còn nhắc rằng pho tượng thiền định vốn được làm có khớp cử động nối bằng dây, để khi mở cửa khám thì tượng đứng dậy cúi chào, về sau bộ máy ấy bị tháo bỏ. Đây là ghi chép truyền lại, không kiểm chứng được bằng hiện vật.

Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều

Hai cây cầu lợp ngói bắc từ sân chùa ra hai bên hồ, dựng năm 1602, tương truyền do Phùng Khắc Khoan đứng ra làm sau chuyến đi sứ. Cả hai theo lối thượng gia hạ kiều, nghĩa là bên dưới là thân cầu, bên trên là một nếp nhà có mái ngói và có sàn ngồi dọc hai bên.

  • Nhật Tiên Kiều ở phía bên trái nhìn từ chùa ra, nối sang một gò đất nhỏ giữa hồ, trên gò có đền thờ Tam Phủ.
  • Nguyệt Tiên Kiều ở phía bên phải, nối sang chân núi, là lối bắt đầu của đường leo lên các chùa trên cao.

Tên hai cầu lấy chữ nhật là mặt trời và nguyệt là mặt trăng, đặt cân xứng hai bên một trục; công dụng của chúng cũng cân xứng như vậy, một cầu dẫn ra nước, một cầu dẫn lên núi.

Thủy đình giữa hồ

Giữa mặt hồ trước chùa là nhà thủy đình, một công trình thời Hậu Lê, hai tầng tám mái, dựng trên nền đá nổi giữa nước. Đây không phải một vọng lâu ngắm cảnh mà là một sân khấu: buồng trò của phường rối đặt trong lòng đình, người điều khiển đứng khuất sau mành, con rối chạy trên mặt nước phía trước, khán giả ngồi trên bờ và trên hai cầu ngói.

Mặt hồ ấy mang tên Long Chiểu, tức ao rồng; hồ sơ di tích lại ghi là Long Trì, cùng nghĩa nhưng dùng chữ khác, nên quý vị gặp cách ghi nào cũng không sai. Việc tổ sư nghề rối nước được thờ ngay sau lưng sân khấu rối nước là một trùng khớp hiếm gặp giữa nghề và nơi thờ nghề.

Các chùa trên núi

Chùa Cao

Tên chữ là Đỉnh Sơn Tự, nằm lưng chừng núi, được coi là chỗ tu ban đầu của Từ Đạo Hạnh. Gần đó là hang Thánh Hóa, nơi thần tích chép rằng ngài trút xác.

Chùa Một Mái

Tên chữ là Bối Am Tự. Chùa dựa hẳn vào vách đá, chỉ có một mái đổ ra phía ngoài, phía trong lấy luôn vách núi làm tường và làm nóc. Cái tên nói đúng hình dáng.

Hang Cắc Cớ

Hang đá sâu trong lòng núi, cửa hẹp, lối xuống tối và trơn. Hang gắn với nhiều câu ca dao của vùng.

Đền Thượng và chợ Trời

Các điểm trên đỉnh núi Sài Sơn. Chợ Trời là một khoảng đá bằng trên cao, tên lấy theo phiên chợ trong truyền thuyết chứ không phải chợ có thật.

Chùa Thầy vì thế không phải một ngôi chùa mà là một chuỗi: từ mặt nước lên sân, từ sân qua cầu, từ cầu lên vách đá, mỗi chặng một nơi thờ. Khu di tích được xếp hạng cũng lấy trọn cả núi đá chứ không chỉ lấy ngôi chùa dưới chân.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là thế tựa. Khác hầu hết chùa ở đồng bằng châu thổ, nơi không có núi nên phải lấy mặt nước hoặc gò đất làm chỗ dựa, chùa Thầy có núi thật. Núi Sài Sơn, còn gọi là núi Phật Tích, nổi lên giữa một vùng ruộng phẳng, và ngôi chùa nép đúng vào chân phía nam của nó. Đây là thế hậu chẩm đầy đủ theo nghĩa sách vở: lưng có đá tựa, mặt có nước tụ. Một khối núi đá cô lập giữa đồng bằng như vậy trong phép xem đất được coi là quý, vì khí không tán về đâu được.

Kế đến là thế thủy. Hồ Long Chiểu nằm ngay trước sân, không chảy đi đâu, làm thành một minh đường có thủy tụ. Trên mặt nước ấy lại có ba thứ: nhà thủy đình ở giữa, hai cầu ngói bắc sang hai bên. Chúng chia mặt hồ thành các phần cân xứng quanh một trục, khiến minh đường không phải một vũng nước trống mà là một khoảng có tâm.

Người trong vùng từ lâu đọc cả cụm này theo hình rồng: dải núi là thân, chỗ chùa Cả là đầu, hai cầu ngói là hai râu vươn ra, nhà thủy đình giữa hồ là viên ngọc trước miệng rồng. Chúng tôi ghi lại như một lối giải thích dân gian đã thành nếp, không như một kết luận khảo được. Nhưng cái trục mà nó mô tả là có thật: mọi hạng mục của chùa đều xoay quanh một đường thẳng đi từ mặt nước vào tới điện Thánh.

Về hướng, khu chùa chính quay mặt phía nam, lưng dựa núi phía bắc, là hướng chùa chiền Bắc Bộ chuộng nhất vì đón nắng ấm và tránh gió lạnh mùa đông. Cái hiếm ở đây là hướng ấy trùng đúng với thế đất tự nhiên, nên người dựng chùa không phải bẻ hướng để lấy nắng, cũng không phải bẻ thế để lấy hướng.

Sau cùng là lối lên cao. Ba nếp nhà chùa Cả cao dần từ ngoài vào, rồi từ đó có đường lên chùa Cao và chùa Một Mái trên vách đá. Đọc theo lối cũ, đây là một trục đi lên liên tục: nước ở dưới cùng, Phật ở lớp giữa, Thánh ở lớp trong, chỗ tu hành ban đầu của vị Thánh ấy nằm cao hơn tất cả. Bố cục thờ tự trùng khít bố cục địa hình, và sự trùng khít ấy trong phép cũ gọi là đắc thế.

Hội Chùa Thầy Tháng Ba

Hội mở trong ba ngày, từ mùng 5 tới mùng 7 tháng Ba âm lịch, ngày trọng nhất là mùng 7. Câu ca của vùng nói gọn cả thời điểm lẫn tiếng tăm của hội: nhất vui là hội chùa Thầy, tháng ba ngày bảy nhớ ngày mà đi. Hội gồm phần nghi lễ trong chùa và phần trò diễn ngoài sân hồ.

Trình tự chính của hội chùa Thầy. Hội được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2024. Nguồn: Tư liệu về nghi lễ mộc dục và trình tự lễ hội chùa Thầy trên báo chí trong nước..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Trước ngày khai hộiLễ mộc dụcCòn gọi là lễ tắm tượng, làm với tượng Đức Thánh Từ Đạo Hạnh. Người được cử vào làm lễ phải là người có đức, được dân làng tín nhiệm và gia đình êm ấm.
Mùng 5 tháng BaKhai hội, phục nghinh bài vị và cúng yên vịRước bài vị Đức Thánh ra vị trí hành lễ rồi làm lễ an vị, mở đầu ba ngày hội.
Mùng 6 tháng BaLễ tế và lễ rướcĐội tế của các làng trong vùng vào tế tại điện Thánh; đám rước đi quanh khu chùa với kiệu, cờ quạt và phường bát âm.
Mùng 7 tháng BaChính hộiNgày trọng nhất, dâng hương và tế tại chùa Cả, dân các làng quanh núi Sài Sơn cùng về.
Suốt ba ngày hộiMúa rối nước tại thủy đìnhPhường rối của vùng diễn trên mặt hồ Long Chiểu, khán giả ngồi trên bờ và trên hai cầu ngói. Đây là phần gắn trực tiếp với việc Từ Đạo Hạnh được tôn làm tổ sư nghề rối nước.

Ngoài kỳ hội tháng Ba, chùa còn đông vào dịp đầu xuân và các ngày rằm mùng một. Nhiều người giữ lệ đi hết một vòng: lễ ở chùa Cả trước, rồi qua Nguyệt Tiên Kiều leo lên chùa Cao và chùa Một Mái, xuống bằng lối khác.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Chân núi Sài Sơn, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai cũ, Hà Nội
Đường tới
Chùa nằm dưới chân núi Sài Sơn, xã Sài Sơn thuộc huyện Quốc Oai cũ, Hà Nội, cách trung tâm thành phố chừng hai mươi lăm cây số về phía tây nam. Đi cùng tuyến có thể ghé chùa Tây Phương ở núi Câu Lậu.
Toạ độ
21.0113, 105.5322
Khi tới nơi

Vài lệ của chính nơi này. Ăn mặc kín đáo và bỏ mũ khi vào ba nếp nhà chùa Cả. Điện Thánh là lớp trong cùng, xin đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào các pho tượng và vào bệ đá hoa sen. Hai cầu ngói có tuổi, quý vị đi một chiều và đừng ngồi tựa lan can. Đường lên chùa Cao và chùa Một Mái là bậc đá, trơn sau mưa. Vào hang Cắc Cớ phải có đèn và không đi một mình. Mùa hội tháng Ba xin nhường đường cho kiệu.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao gọi là chùa Thầy

Chữ Thầy là tiếng dân vùng Sài Sơn gọi Thiền sư Từ Đạo Hạnh, người tu tại núi này, làm thuốc, dạy chữ và được tôn là tổ sư nghề múa rối nước. Chữ ấy chỉ một con người chứ không mang nghĩa thầy dạy học, và không nói gì về chức năng trường lớp của ngôi chùa. Tên chữ của chùa là Thiên Phúc Tự.

Chùa Thầy thờ ai

Thờ ba lớp. Chùa Hạ và chùa Trung thờ Phật theo lối Bắc tông, trong đó có bộ Di Đà Tam Tôn là bảo vật quốc gia. Chùa Thượng, tức điện Thánh, thờ Từ Đạo Hạnh ở dạng thiền định và dạng đã thành Thánh. Cùng trong điện Thánh còn tượng vua Lý Thần Tông, vị mà thần tích coi là hậu thân của ngài.

Tiền Phật hậu Thánh nghĩa là gì

Là lối bố trí thờ tự chứ không phải tên một tông phái. Phần trước của chùa thờ Phật như mọi chùa Bắc tông, phần sau và trong cùng thờ một vị Thánh vốn là người có thật. Lối này chỉ thấy ở một số ít chùa gắn với các cao tăng thời Lý, và chùa Thầy giữ được đầy đủ nhất.

Hai cầu ngói ở chùa Thầy do ai dựng

Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều dựng năm 1602, tương truyền do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan đứng ra làm sau chuyến đi sứ. Cả hai theo lối thượng gia hạ kiều, trên là nhà lợp ngói dưới là thân cầu. Nhật Tiên Kiều dẫn ra gò có đền Tam Phủ, Nguyệt Tiên Kiều dẫn sang chân núi để lên chùa trên cao.

Hội chùa Thầy mở ngày nào

Hội mở ba ngày từ mùng 5 tới mùng 7 tháng Ba âm lịch, ngày trọng nhất là mùng 7. Có lễ mộc dục tức tắm tượng Đức Thánh, lễ phục nghinh bài vị và cúng yên vị, lễ tế và lễ rước, cùng các buổi múa rối nước tại thủy đình giữa hồ. Hội vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2024.

Đọc Tiếp