VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Dư Hàng

福林寺 · Phúc Lâm Tự

Chốn tổ của Phật giáo đất cảng, nơi giữ bộ mộc bản in kinh Tràng A Hàm cùng một vườn tháp chín ngôi ngay giữa lòng phố Hải Phòng.

Khởi dựng
thời Tiền Lê
theo truyền ngôn và tư liệu muộn, không có văn bản đương thời
Mộc bản
290 ván khắc
bộ ván in kinh Tràng A Hàm giữ tại chùa
Xếp hạng
Di tích quốc gia
năm 1986

Từ ngoài phố nhìn vào, thứ nhô lên trước nhất là một gác chuông ba tầng, mái đao uốn, đứng cao hơn hẳn các mái nhà chung quanh. Qua tam quan, quý vị vào một khoảng sân rộng có cây lâu năm, bên phải là toà phật điện bảy gian, phía sau là một vườn tháp gạch xám thấp lô nhô dưới bóng cây. Đây là một khuôn viên chùa cổ còn nguyên đủ các phần của nó, giữa một khu nội thành đã kín nhà.

Tên chữ của chùa là Phúc Lâm Tự, nghĩa là chùa rừng phúc; bốn chữ Phúc Lâm tự chung còn khắc trên quả đại hồng chung treo ở gác chuông. Người Hải Phòng quen gọi ngắn là chùa Hàng, gọi theo tên làng Dư Hàng cũ. Trong các ngôi chùa của thành phố này, đây là nơi được giới nhà chùa gọi là chốn tổ.

Chùa Dư Hàng
Chùa Dư Hàng. Ảnh: Ditichlichsu, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Chốn Tổ Của Phật Giáo Đất Cảng

Chùa thờ Phật theo lối Bắc tông, đồng thời thờ tổ và thờ Mẫu trong hai nếp nhà riêng, theo nếp chùa làng Bắc Bộ. Nhưng danh hiệu khiến nơi này được nhắc trước các chùa khác của Hải Phòng là hai chữ chốn tổ. Chữ Hán ghi ở đầu bài là chuyển tự của tên chữ Phúc Lâm Tự, tên đã khắc trên quả chuông của chùa.

Theo giáo nghĩa

Chốn tổ, hay tổ đình, trong nhà Phật không phải danh hiệu về tuổi hay về quy mô. Nó chỉ ngôi chùa mà từ đó một dòng truyền thừa được mở ra: nơi có vị tổ khai sơn, nơi giữ nhà thờ tổ và mộ tháp của các vị tổ, và nơi các chùa nhỏ trong vùng nhận là gốc của mình. Một ngôi chùa rất to mà không có dòng truyền thừa thì không phải chốn tổ; một ngôi chùa vừa phải mà giữ được mạch tổ thì vẫn là chốn tổ.

Về tông phái, tài liệu bia tháp của chùa cho biết nơi này thuộc sơn môn Lâm Tế, một dòng thiền truyền vào nước ta từ thế kỷ 17, đồng thời có mối liên hệ trước đó với thiền phái Trúc Lâm thời Trần. Dấu của mối liên hệ ấy còn ở ngay trong vườn tháp và ở các ngày húy nhật mà chùa giữ, sẽ nói tới ở phần lễ tiết.

Theo sử liệu

Vị được nhắc nhiều nhất trong lịch sử chùa là Nguyễn Đình Sách, tự là Chân Huyền, đạo hiệu Minh Tông lão tăng, người bỏ chức quan đi tu và trụ trì chùa dưới đời Lê Gia Tông. Tư liệu của chùa chép rằng năm 1672 ông phát tâm quyên góp gia tài, mua thêm đất ruộng và dựng lại chùa thành một quy mô lớn, đủ gác chuông, nhà thờ tổ, nhà tăng.

Mốc 1672 quan trọng vì đây là mốc sớm nhất có tư liệu đỡ lưng trong toàn bộ lịch sử của chùa. Mọi điều trước đó đều thuộc lớp truyền ngôn. Nói cách khác, Nguyễn Đình Sách không phải người khai sơn theo truyền thuyết, nhưng là người đầu tiên mà ta biết được tên và biết được việc làm cụ thể; cái tư cách chốn tổ của chùa, trên phương diện khảo được, bắt đầu từ ông.

Niên Đại Và Chỗ Nguồn Vênh Nhau

Chùa Dư Hàng vẫn được gọi là ngôi chùa cổ nhất Hải Phòng, với niên đại khởi dựng đặt vào thời Tiền Lê, tức khoảng các năm 980 tới 1009. Quý vị nên biết rõ con số ấy đến từ đâu, và đây là chỗ phải nói thẳng.

  • Thời Tiền LêThảo am ban đầu
    Theo truyền ngôn và tư liệu chép muộn của chùa, khởi đầu nơi đây chỉ là một thảo am nhỏ, dựng trong khoảng các năm 980 tới 1009. Không có văn bản đương thời nào xác nhận.
  • Thời TrầnMối liên hệ với Trúc Lâm
    Tư liệu của chùa gắn nơi này với thiền phái Trúc Lâm và chép việc các vị tổ Trúc Lâm từng giảng pháp tại đây. Đây cũng là lớp truyền ngôn, nhưng để lại dấu trong nếp thờ tổ và trong vườn tháp.
  • 1672Nguyễn Đình Sách dựng lớn
    Đời Lê Gia Tông, Thiền sư Nguyễn Đình Sách tự Chân Huyền mua thêm đất ruộng và dựng lại chùa thành quy mô lớn, đủ gác chuông, nhà thờ tổ, nhà tăng. Đây là mốc sớm nhất có tư liệu đỡ lưng.
  • 1899Trùng tu lớn
    Đợt trùng tu do vị trụ trì đương thời chủ trì, nối tiếp bộ khung dựng từ thế kỷ 17.
  • 1917Định hình quy mô hiện còn
    Đợt dựng lại đưa chùa về quy mô và bố cục còn thấy hôm nay. Phần chạm khắc gỗ trong toà thượng điện được chép là do thợ vùng Hà Nam Ninh làm, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn giai đoạn cuối.
  • Niên hiệu Bảo ĐạiTrùng tân tháp Phổ Đồng
    Tư liệu bia tháp của chùa ghi việc trùng tân tháp Phổ Đồng vào năm Bảo Đại thứ mười bốn, tức năm Ất Mão theo cách ghi của bia.
  • 1986Xếp hạng di tích quốc gia
    Chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.
  • 2007Xác lập kỷ lục về mộc bản
    Bộ ván khắc in kinh Tràng A Hàm của chùa được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam ghi nhận là bộ lưu giữ bản kinh này nhiều nhất trong các chùa ở nước ta, với 290 ván khắc.
Theo sử liệu

Niên đại thời Tiền Lê không có trong bộ sử biên niên đương thời nào. Nó đến từ truyền ngôn trong vùng và từ tư liệu do chính chùa chép, mà lớp tư liệu cổ nhất còn giữ được, gồm bia và tháp, cũng chỉ thuộc thế kỷ 17 trở về sau, tức sau sự kiện được chép chừng bảy trăm năm. Cách ghi thận trọng hơn, vẫn thấy trong các tài liệu di tích, là chỉ nói chùa có nguồn gốc từ thời Tiền Lê chứ không nói dựng năm nào.

Về hiện vật thì tình hình khác hẳn, và ở đây ta nói được chắc. Toàn bộ kiến trúc đang đứng trên mặt đất hôm nay thuộc hai lớp: lớp bộ khung do Nguyễn Đình Sách dựng từ năm 1672 trở đi, tức thời Lê Trung Hưng, và lớp hoàn thiện của các đợt 1899 và 1917, tức cuối thời Nguyễn sang đầu thế kỷ 20. Phần chạm gỗ trong thượng điện thuộc lớp sau. Không một cấu kiện nào chứng được cho niên đại thế kỷ thứ mười.

Một chỗ vênh nữa, nhỏ hơn nhưng nên biết: tên bộ kinh giữ tại chùa được các nguồn ghi cả hai cách, Tràng A HàmTrường A Hàm. Đây là hai cách đọc cùng một chữ, chỉ bộ A Hàm phần dài, tức tập kinh dài trong nhóm A Hàm; chúng tôi ghi cả hai chứ không sửa của nguồn nào.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm ở đây là hai chữ cổ nhất. Danh xưng ngôi chùa cổ nhất Hải Phòng thường được người đọc hiểu thành ngôi chùa có công trình cổ nhất, rồi từ đó tưởng rằng những gì đang thấy trong chùa là vật từ thời Tiền Lê còn lại. Không phải vậy.

Xin phân ra cho rõ ba lớp khác nhau. Lớp đất và nếp thờ có thể rất xưa, và truyền ngôn nói về thời Tiền Lê thuộc lớp này. Lớp dòng truyền thừa bắt đầu có tên người và có việc làm cụ thể từ năm 1672. Lớp công trình thì trẻ hơn cả hai, phần lớn thuộc các đợt 1899 và 1917. Ba lớp ấy không cùng một tuổi, và gộp chúng lại thành một con số là chỗ sinh ra hiểu lầm. Chúng tôi nói điều này bằng giọng sử liệu, không phải để bớt đi cái quý của chùa: một bộ mộc bản 290 ván còn nguyên và một vườn tháp còn đủ mạch tổ đã là thứ hiếm, không cần dựa vào niên đại xa mới thành quý.

Gác Chuông, Phật Điện Và Vườn Tháp

Khu thờ chính dựng theo lối chữ Đinh, tức toà ngang phía trước nối vào toà dọc phía sau thành hình chữ đinh, hai bên là nhà thờ tổ và nhà thờ Mẫu. Trục nhìn từ tam quan vào bị gác chuông chiếm mất chỗ cao nhất, nên trong một khuôn viên bằng phẳng giữa phố, chính gác chuông đóng vai trò cột mốc của cả khu.

Tam quan

Cổng mở ra phía phố, dẫn vào khoảng sân rộng có cây lâu năm. Sân giữ vai trò làm chậm bước chân, đưa người từ nhịp phố về nhịp thờ tự.

Gác chuông ba tầng

Năm gian, ba tầng, mái đao uốn, treo quả đại hồng chung khắc bốn chữ Phúc Lâm tự chung. Gác chuông ba tầng là dạng ít gặp ở chùa Bắc Bộ, nơi gác chuông thường chỉ hai tầng tám mái.

Toà phật điện

Bảy gian, bộ khung gỗ, phần chạm trong thượng điện làm ở đợt năm 1917 theo phong cách thời Nguyễn giai đoạn cuối. Trong điện có bộ tượng Tam Thế, toà Cửu Long và hệ tượng Thập Điện.

Nhà tổ, nhà Mẫu, nhà tăng

Các nếp nhà phụ trợ đứng hai bên và phía sau khu thờ chính, cùng một gian dùng làm nơi giữ sách và ván khắc. Nhà tổ là chỗ cho thấy rõ nhất tư cách chốn tổ của chùa.

Vườn tháp

Khu tháp mộ phía sau, gồm chín ngôi. Trong đó có các ngôi tháp Phổ Đồng cùng ba bảo tháp dựng theo mạch Trúc Lâm, và một tháp mới xây cao chừng hai mươi mốt mét.

Bộ mộc bản

290 ván khắc gỗ dùng để in bộ kinh Tràng A Hàm, giữ tại chùa. Ván khắc là bản in gốc, mỗi tấm chạm ngược chữ trên hai mặt, và một bộ còn đủ như vậy là hiện vật hiếm.

Hai chữ Phổ Đồng trên tháp nên được giải thích, vì người đi chùa hay tưởng đó là tên riêng của một vị tổ. Theo lối gọi trong nhà chùa, tháp phổ đồng là tháp chung, nơi an trí tro cốt của nhiều người cùng một chốn tổ chứ không của riêng một vị, khác với bảo tháp dựng riêng cho một vị tổ. Một vườn tháp có cả hai loại, như ở đây, là vườn tháp của một chùa có dòng truyền thừa nhiều đời và có đông đồ chúng.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thuỷ cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều phải nói trước: ở đây không có núi và không có sông lớn trong tầm mắt. Chùa nằm trên đất bằng của làng Dư Hàng cũ, vùng bãi bồi cửa biển, nay đã thành khu nội thành. Đọc thế đất một nơi như vậy thì không thể tìm hậu chẩm và minh đường theo sách vở, mà phải xem người xưa đã tạo ra chúng bằng cách nào.

Cách thứ nhất là dùng chiều cao. Trong phép xem đất, nơi thiếu núi thì một khối cao do người dựng có thể thay vai trò cột mốc, giữ cho khí không tán trên một mặt bằng trơ trọi. Gác chuông ba tầng ở đây làm đúng việc ấy: nó là điểm cao nhất của cả khuôn viên, và tiếng chuông từ trên gác vốn là thứ định giới hạn của vùng đất chùa trong tai người làng, còn rõ hơn cả bờ tường.

Cách thứ hai là dùng vườn tháp và vườn cây. Vườn tháp nằm phía sau khu thờ chính, các khối tháp gạch thấp xếp thành một dải, cây lâu năm phủ lên trên. Đọc theo lối cũ, đó là một hậu chẩm nhân tạo: chỗ dựa sau lưng được làm bằng vật thay cho núi. Lớp cây quanh khuôn viên thì làm vòng che, giữ cho khoảng trong tách khỏi nhịp phố. Ở một ngôi chùa đô thị, vòng cây ấy làm việc của cả hai hàng tay long tay hổ trong sách.

Cách thứ ba là khoảng sân. Sân trước toà phật điện rộng và bằng, không bị chắn, và đó là minh đường của chùa, một minh đường thu vào trong thay vì mở ra ngoài. Cái nhịp mà quý vị đi qua, từ tam quan vào sân, từ sân vào phật điện, từ phật điện ra vườn tháp, là một nhịp đi từ ngoài vào lõi rồi lùi ra phía sau. Trục ấy không dài, nhưng đủ để tách hẳn bên trong với bên ngoài.

Sau cùng, xin lưu ý rằng việc chùa nằm giữa phố không phải do chùa đi vào phố mà do phố tiến đến chùa. Khi chùa được dựng lớn, đây còn là đất làng Dư Hàng. Đọc theo lối cũ, những ngôi chùa bị đô thị vây lại như vậy giữ được khí hay không tuỳ vào chỗ vòng trong còn nguyên hay đã bị lấn; ở đây vòng trong còn khá đủ, với sân, cây và vườn tháp, nên cái tách biệt mà người bước qua tam quan cảm được vẫn còn.

Lễ Tiết Và Ngày Húy Nhật Các Tổ

Là một chốn tổ, chùa giữ hai loại lệ song song: lệ chung của nhà Phật theo ngày vía và tiết, và lệ riêng theo ngày húy nhật các vị tổ. Loại thứ hai là chỗ phân biệt một chốn tổ với một ngôi chùa thường, vì chỉ nơi có dòng truyền thừa mới có bảng ngày húy nhật để giữ.

Các mốc lệ chính trong năm của chùa. Nguồn: Tư liệu bia tháp của chùa và các bài khảo về hai vị tổ chùa Phúc Lâm..
Thời điểm âm lịchLệNội dung
Ngày 23 tháng GiêngHúy nhật Thiền sư Huyền QuangTư liệu bia tháp của chùa ghi ngày này là húy nhật của Huyền Quang tức Lý Đạo Tái, một trong các vị tổ của mạch Trúc Lâm được chùa thờ.
Ngày mùng 1 tháng Mười MộtHúy nhật Điều Ngự Giác HoàngHúy nhật của vị tổ đầu mạch Trúc Lâm, được chùa giữ lệ tưởng niệm. Tư liệu bia tháp của chùa ghi ngày này là mùng 2, chúng tôi nêu cả hai cách ghi.
Rằm tháng TưLễ Phật đảnLễ theo lịch hiện hành của nhà chùa. Theo lệ cổ ở Bắc Bộ, ngày này vốn tính vào mùng 8 tháng Tư, và nhiều nơi còn giữ cả hai.
Rằm tháng BảyLễ Vu LanKỳ lễ lớn trong năm, gắn với việc cầu siêu cho người đã mất. Ở một chốn tổ có vườn tháp, kỳ này cũng là kỳ lễ tại các tháp mộ.
Mùng 1 và ngày rằm hằng thángLệ thường kỳNhịp lui tới đều đặn quanh năm của người trong vùng, đông nhất vào dịp đầu xuân và rằm tháng Giêng.

Một điều đáng để ý về bảng trên: các ngày húy nhật mà chùa giữ trỏ về mạch Trúc Lâm thời Trần, trong khi tài liệu bia tháp lại xác định chùa thuộc sơn môn Lâm Tế. Hai điều ấy không trái nhau. Ở nhiều chùa Bắc Bộ, dòng truyền thừa đang thực hành là một dòng, còn các vị tổ được tưởng niệm lại thuộc lớp xa hơn và được cả nước tôn; giữ cả hai là nếp thường, không phải sự lẫn lộn. Chính chỗ này cho thấy hai lớp lịch sử của chùa vẫn cùng tồn tại trong nếp thờ hằng năm.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 121 phố Dư Hàng, phường Hồ Nam, quận Lê Chân cũ, Hải Phòng
Đường tới
Chùa nằm ở phố Chùa Hàng, phường Dư Hàng Kênh, thuộc quận Lê Chân cũ, thành phố Hải Phòng, trong khu nội thành và đi bộ được từ các phố lân cận. Một số tài liệu ghi địa chỉ theo cách cũ là phố Dư Hàng thuộc phường Hồ Nam.
Toạ độ
20.8478, 106.6836
Khi tới nơi

Đây là chùa đang hoạt động, có tăng chúng ở và có khoá lễ, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào phật điện, đi nhẹ nói khẽ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên tượng. Lễ dâng theo lệ là lễ chay. Bộ mộc bản và các bản kinh là hiện vật gốc, chỉ được xem khi nhà chùa cho phép, xin quý vị đừng tự ý chạm. Trong vườn tháp thì đi theo lối, không tựa hay leo lên thân tháp.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Dư Hàng ở đâu và còn gọi là gì

Chùa ở phố Chùa Hàng, phường Dư Hàng Kênh, thuộc quận Lê Chân cũ, thành phố Hải Phòng. Tên chữ là Phúc Lâm Tự, bốn chữ Phúc Lâm tự chung còn khắc trên quả đại hồng chung ở gác chuông. Người trong vùng quen gọi ngắn là chùa Hàng, gọi theo tên làng Dư Hàng cũ.

Vì sao gọi chùa Dư Hàng là chốn tổ

Vì đây là ngôi chùa mở ra một dòng truyền thừa của Phật giáo Hải Phòng: có nhà thờ tổ, có vườn tháp chín ngôi giữ mộ tháp các vị tổ, và được các chùa trong vùng nhận là gốc. Chốn tổ là danh hiệu về mạch truyền thừa, không phải về tuổi hay về quy mô công trình.

Chùa Dư Hàng có thật dựng từ thời Tiền Lê không

Niên đại thời Tiền Lê, khoảng các năm 980 tới 1009, đến từ truyền ngôn và tư liệu do chính chùa chép về sau, không có văn bản đương thời nào xác nhận. Mốc sớm nhất có tư liệu đỡ lưng là năm 1672. Toàn bộ kiến trúc hiện còn thuộc lớp thế kỷ 17 cùng các đợt trùng tu năm 1899 và 1917.

Nguyễn Đình Sách là ai

Là vị trụ trì được nhắc nhiều nhất trong lịch sử chùa, tự là Chân Huyền, đạo hiệu Minh Tông lão tăng, người bỏ chức quan đi tu dưới đời Lê Gia Tông. Tư liệu của chùa chép rằng năm 1672 ông quyên góp gia tài, mua thêm đất ruộng và dựng lại chùa với đủ gác chuông, nhà thờ tổ và nhà tăng.

Bộ mộc bản Tràng A Hàm ở chùa Dư Hàng là gì

Là bộ 290 ván khắc gỗ dùng để in bộ kinh Tràng A Hàm, giữ tại chùa và được ghi nhận là bộ lưu giữ bản kinh này nhiều nhất trong các chùa ở nước ta. Tên bộ kinh được các nguồn ghi cả hai cách là Tràng A Hàm và Trường A Hàm, vốn là hai cách đọc cùng một chữ.

Đọc Tiếp