VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Hoằng Phúc

Am Tri Kiến, Kính Thiên Tự, chùa Kính Thiên, chùa Quan, chùa Trạm

Ngôi chùa được coi là cổ bậc nhất miền Trung, dựng lại trên nền cũ bên dòng Kiến Giang và giữ nguyên chiếc cổng tam quan rêu phong của lớp chùa trước.

Trần Nhân Tông ghé lại
1301
theo Thánh Đăng Ngữ Lục và Tam Tổ Thực Lục
Xếp hạng
Di tích quốc gia
quyết định cuối năm 2015, đón bằng tháng 1 năm 2016
Đại hồng chung
80 kg
cao 1,1 m, đường kính chừng 0,5 m

Quý vị tới chùa Hoằng Phúc sẽ gặp hai công trình đứng cạnh nhau mà chênh nhau hàng trăm năm. Thứ nhất là một chiếc cổng tam quan cũ, tường rêu, gạch sờn, mái đã bạc, đứng lẻ giữa khoảng sân như một cánh cửa không còn nhà. Thứ hai, phía sau nó, là cả một khu chùa mới dựng trên khuôn viên rộng gần mười nghìn mét vuông, cột gỗ lim còn thẳng, ngói còn đều, tam bảo và nhà thờ tổ xếp theo trục dọc quen thuộc của chùa Việt.

Chiếc cổng cũ ấy là lý do người ta về đây. Khu chùa mới được dựng lại trên đúng nền chùa xưa, còn chiếc cổng thì được giữ nguyên chứ không làm lại, nên nó thành mối nối trực tiếp giữa ngôi chùa hôm nay và một lớp lịch sử được tính từ trước thời nhà Nguyễn, trước cả thời chúa Nguyễn, lùi tới tận đời Trần.

Chùa Hoằng Phúc
Chùa Hoằng Phúc. Ảnh: Genghiskhan, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITên Gọi Và Danh Xưng Cổ Nhất Miền Trung

Nơi này đã mang ít nhất bốn tên trong lịch sử, và mỗi tên ứng với một lớp thời gian. Lớp xưa nhất là am Tri Kiến, một cái am chứ không phải một ngôi chùa lớn. Sang thời các chúa Nguyễn, nơi đây mang tên Kính Thiên Tự. Tới thời Nguyễn, tên Hoằng Phúc Tự được đặt và giữ tới nay. Bên cạnh các tên chữ ấy, dân trong vùng còn gọi là chùa Trạm và chùa Quan, hai cái tên nói lên việc chùa từng nằm cạnh một trạm dịch trên đường thiên lý và từng là chỗ các quan ghé lại.

Chữ Hán 弘福寺 đặt ở đầu bài là chữ thư viện ghi theo nghĩa của tên gọi, tức hoằng là rộng lớn, phúc là phúc lành, chứ không phải chép từ một tấm hoành phi cụ thể. Quý vị nên coi đó là phần dịch nghĩa, không phải phần tư liệu.

Theo giáo nghĩa

Chữ am trong am Tri Kiến cần được hiểu đúng. Theo nếp nhà Phật, am là một nơi tu nhỏ, thường chỉ đủ cho một hoặc vài người ở, khác với tự tức chùa, là cơ sở có tam bảo, có tăng chúng và có việc thờ tự cho cả một vùng. Nhiều ngôi chùa lớn ở nước ta khởi đầu là một cái am như vậy, rồi mới lớn dần theo số người tới.

Còn Phật hoàng là danh hiệu người đời sau dùng cho Trần Nhân Tông, vị vua nhường ngôi rồi xuất gia, lập nên Thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền mang dấu ấn Việt rõ nét trong lịch sử Phật giáo nước ta. Việc một nơi tu hành được ngài ghé lại, theo cách nhìn của nhà chùa, là một mối liên hệ với dòng thiền ấy.

Theo sử liệu

Việc Trần Nhân Tông tới am Tri Kiến năm 1301, trên đường vào Chiêm Thành, không phải chuyện truyền miệng suông mà được chép trong Thánh Đăng Ngữ Lục và Tam Tổ Thực Lục, hai bộ sách của nhà Phật thuộc lớp tư liệu sớm. Nhưng chỗ cần dè dặt nằm ở việc định vị, vì các sách ấy chép tên am ở phủ Tân Bình chứ không chép bản đồ chi tiết. Học giới phải làm thêm một bước là đối chiếu địa danh, và bước ấy còn ý kiến khác nhau.

Hai điểm đáng nêu. Thứ nhất, hai chữ Tri Kiến được viết theo hai lối chữ Hán khác nhau trong các tư liệu, một lối là Tri Kiến (知見) tức thuật ngữ nhà Phật chỉ sự thấy biết trong cụm tri kiến Phật, một lối là Trì Kiến mang nghĩa dựng lập. Chọn lối nào thì cách hiểu địa danh cũng khác. Thứ hai, nhà nghiên cứu Đào Duy Anh đặt am Tri Kiến vào đất huyện Lệ Thủy cũ, và đó là căn cứ chính để nối am Tri Kiến với chùa Kính Thiên rồi chùa Hoằng Phúc. Sự nối ấy là một kết luận của nghiên cứu, không phải một dòng chép sẵn trong sách xưa.

Chỗ hay hiểu lầm

Danh xưng cổ nhất miền Trung hay đệ nhất cổ tự miền Trung được báo chí dùng rất rộng, nên xin nói rõ nó dựa vào đâu. Nó dựa vào mốc 1301, tức năm Trần Nhân Tông ghé am Tri Kiến, cộng với lập luận rằng am ấy phải có trước khi ngài tới. Hai điều cần phân biệt.

Một, 1301 là năm được chép việc ghé lại, không phải năm dựng, còn năm dựng am thì không tư liệu nào nói. Vì vậy con số hơn bảy trăm năm mà các bài báo hay dùng là tính từ mốc ghé lại. Hai, danh xưng ấy ngầm coi am Tri Kiến và chùa Hoằng Phúc là một dòng liên tục trên cùng một chỗ đất, điều mà nghiên cứu đưa ra bằng cách đối chiếu địa danh chứ chưa có hiện vật tại chỗ chứng cho niên đại Trần. Thư viện ghi như vậy để quý vị biết giới hạn của con số, không nhằm bác bỏ danh xưng đã quen dùng.

IISáu Triều Và Những Lần Đổi Tên

Các tư liệu thường tóm lịch sử nơi này bằng câu rằng chùa đi qua sáu triều, từ Trần, Hồ, Hậu Lê, Mạc, Tây Sơn tới Nguyễn. Câu ấy gọn nhưng che mất một điều quan trọng, là suốt chặng dài đó công trình nhiều lần hư hại và nhiều lần được dựng lại, nên cái đi liền không phải bộ khung gỗ mà là chỗ đất và cái tên.

  • 1301Trần Nhân Tông ghé am Tri Kiến
    Trên đường vào Chiêm Thành, Thượng hoàng Trần Nhân Tông ở lại am Tri Kiến và thuyết pháp tại đây. Mốc này được chép trong Thánh Đăng Ngữ Lục và Tam Tổ Thực Lục.
  • 1609Chúa Nguyễn Hoàng dựng chùa Kính Thiên
    Các nguồn ghi năm Kỷ Dậu 1609, chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho dựng lại chùa quy mô hơn trên nền am cũ bên hữu ngạn sông Kiến Giang và đặt tên là Kính Thiên Tự.
  • 1716Chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển ngạch
    Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu cho trùng tu chùa Kính Thiên, ngự đề biển Kính Thiên Tự và bức hoành Vô song phúc địa (Mảnh đất phúc khôn sánh) cùng các câu đối.
  • 1821Đổi tên thành Hoằng Phúc Tự
    Theo phần lớn nguồn báo chí, vua Minh Mạng trong chuyến ngự giá Bắc tuần năm 1821 đã ghé thăm chùa và cho đổi tên thành Hoằng Phúc Tự, tục gọi là chùa Trạm hay chùa Quan. Riêng một bài khảo cứu trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi việc đổi tên diễn ra năm Minh Mạng thứ bảy (1826).
  • 1826 và 1842Triều Nguyễn cấp tiền trùng tu
    Vua Minh Mạng (năm 1826) và vua Thiệu Trị (năm 1842, ban 300 lạng bạc) đều cấp ngân khố cho việc trùng tu lớn ngôi chùa.
  • Thế kỷ 20Công trình cũ sụp đổ sau bão
    Ngôi chùa cũ hư hại nặng qua thời gian và trận bão lớn năm 1985, trên nền chùa chỉ còn lại cổng tam quan, một phần nền móng và một số pháp khí.
  • 2014 tới 2016Dựng lại trên nền cũ
    Công trình được khởi công phục dựng từ ngày 30 tháng 11 năm 2014 theo lối chùa cổ thời Trần và hoàn thành vào tháng 1 năm 2016. Cổng tam quan cũ được giữ nguyên tại chỗ.
  • 2015 và 2016Di tích lịch sử quốc gia
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia vào cuối năm 2015, và lễ khánh hạ đón nhận bằng di tích diễn ra ngày 16 tháng 1 năm 2016.
Theo sử liệu

Mấy chỗ nguồn ghi khác nhau, xin nêu thẳng. Thứ nhất là năm đổi tên Hoằng Phúc Tự. Báo Nhân Dân và Thông tấn xã Việt Nam ghi năm 1821 khi vua Minh Mạng ngự giá Bắc tuần, còn năm 1826 là năm nhà vua ban tiền trùng tu, trong khi bài nghiên cứu Về am Tri Kiến trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học lại ghi việc đổi tên sang Hoằng Phúc Tự diễn ra vào năm Minh Mạng thứ bảy, tức năm 1826. Thứ hai là năm xếp hạng di tích quốc gia. Thông tấn xã Việt Nam ghi năm 2015 là năm Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký quyết định công nhận, còn báo Quảng Trị ghi năm 2016, tức tính theo lễ khánh thành và đón bằng ngày 16 tháng 1 năm 2016.

Thứ ba là tuổi chùa. Cùng một nơi mà có bài ghi hơn bảy trăm năm, có bài ghi hơn bảy trăm mười năm, có bài ghi hơn bảy trăm mười lăm năm. Cả ba đều tính từ mốc 1301 nhưng viết ở những thời điểm khác nhau và làm tròn khác nhau. Cách đọc gọn nhất là bám lấy mốc 1301 rồi tự tính, thay vì tin một con số tuổi cố định.

IIICổng Tam Quan Cũ Và Khu Chùa Dựng Lại

Khu chùa hôm nay nằm trên khuôn viên rộng gần 10.000 mét vuông, dàn theo một trục dọc từ tam quan ngoại, tam quan nội, tới tam bảo tức chính điện theo lối tiền Phật hậu Tổ, hai bên có tả hữu hành lang, gác chuông, gác trống, và trong khuôn viên còn tháp Phật. Tòa Tam bảo dựng theo kiểu ba gian hai chái bằng gỗ lim, rộng 18 mét, dài 28 mét, làm theo lối chùa cổ truyền thống.

Cổng tam quan cũ

Hiện vật kiến trúc quan trọng bậc nhất còn lại của lớp chùa trước. Cổng được giữ nguyên trạng, gạch và vữa để mộc, không tô lại, có rễ cây đa cổ thụ ôm quanh, đứng riêng một chỗ trong khuôn viên. Nó là mốc cho biết nền chùa xưa ở đâu.

Đại hồng chung

Quả chuông đồng cao khoảng 1,1 mét, đường kính chừng 0,5 mét, nặng khoảng 80 kilôgam, thân chuông chạm nổi hình rồng và hoa văn tinh xảo, được đúc từ thời vua Minh Mạng.

Tượng và đồ thờ cũ

Nhóm hiện vật gốc còn giữ được gồm tượng Phật, tượng Bồ Tát Quán Thế Âm bằng đồng, lư hương, đỉnh đồng, đế nến, bình hoa, chiếc mõ và một tòa sen gỗ. Số lượng không nhiều, nhưng đây là phần vật chất thật của ngôi chùa trước khi dựng lại.

Tam bảo và nhà thờ tổ

Khối nhà chính của khu chùa mới dựng trên nền cũ theo bố cục tiền Phật hậu Tổ, bộ khung gỗ lim sơn son thếp vàng, mái lợp ngói mũi hài. Nhân lễ khánh hạ tháng 1 năm 2016, chùa còn cung nghinh ngọc xá lợi Phật từ chùa Shwedagon ở Myanmar về an vị.

Tháp Phật

Ngọn bảo tháp trong khuôn viên thuộc các hạng mục dựng trong đợt phục dựng năm 2014 tới 2016. Tháp đặt ở một bên trục chính, không chắn lối vào tam bảo.

Cách làm ở đây đáng chú ý về mặt bảo tồn. Khi một ngôi chùa cổ chỉ còn cổng và nền, người ta có hai lựa chọn là dựng một công trình mới thay hẳn, hoặc dựng mới nhưng giữ lại phần cũ làm chứng. Hoằng Phúc chọn cách thứ hai, và vì thế chiếc cổng rêu phong không bị sửa cho đồng màu với khu chùa mới. Đứng ở sân, quý vị đọc được hai niên đại cùng lúc, và đó là điều mà một công trình phục dựng toàn phần không cho được.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm là bộ khung gỗ và mái ngói mà quý vị thấy hôm nay không phải kiến trúc thời Trần còn lại. Đó là công trình dựng trong hai năm 2014 tới 2016, làm theo lối chùa cổ. Phần thật cổ chỉ gồm cổng tam quan, nền móng và nhóm hiện vật kể trên. Nói ngôi chùa cổ bậc nhất miền Trung là nói về lớp lịch sử của chỗ đất và của dòng tên gọi, không phải nói về tuổi của gỗ và ngói đang đứng.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Chùa nằm trên dải đất cao bên hữu ngạn dòng Kiến Giang, con sông chảy giữa vùng đồng trũng Lệ Thủy cũ, một vùng thấp nổi tiếng nhiều nước. Trong phép xem đất ở đồng bằng, nơi không có núi làm hậu chẩm thì chỗ dựa được thay bằng dải đất nổi cao hơn ruộng chung quanh, còn dòng sông giữ vai trò dẫn khí. Một mảnh đất vừa nổi cao hơn đồng vừa kề sông lớn là dạng đất mà sách cũ xếp vào hạng thuận, vì không úng, có đường nước ra vào, và có thể tụ người.

Yếu tố thứ hai là đường bộ. Hai cái tên dân gian là chùa Trạm và chùa Quan cho biết nơi này nằm cạnh một trạm dịch trên tuyến đường thiên lý xuyên qua vùng. Theo lối đọc cũ, đó là thế giao lộ, tức chỗ có cả đường nước lẫn đường bộ đi qua thì khách dừng chân được, và một cơ sở thờ tự ở chỗ ấy thịnh lên nhờ nằm trên mạch người đi. Việc các vị vua chúa đi ngang có thể ghé lại được, rồi cho sửa sang và đổi tên chùa, chính là hệ quả của thế đất này.

Về hướng và bố cục, khu thờ chính dàn theo trục dọc từ tam quan ngoại vào tới nhà thờ tổ, tức lối bố cục mà phong thủy cổ truyền coi là dẫn khí đi sâu. Người bước vào phải qua từng lớp cửa, mỗi lớp một lần thu hẹp tầm nhìn, để tới tam bảo thì tâm đã lắng. Ngọn tháp Phật đặt lệch sang một bên chứ không chắn giữa sân, nên trục ấy không bị cắt.

Sau cùng là lớp nghĩa của nền cũ. Trong cách nghĩ cổ truyền, đất đã nhiều lần được chọn cho việc thờ tự là đất có duyên với việc thờ tự, và dựng lại đúng trên nền xưa là cách giữ lấy cái duyên ấy. Việc lần phục dựng năm 2014 không chọn một khu đất mới rộng rãi hơn mà quay về đúng nền chùa cũ, kèm việc giữ nguyên chiếc cổng tam quan, xét theo con mắt ấy là giữ đúng cái tâm của khu đất. Thư viện ghi nhận xét này đúng như một cách đọc cổ truyền, và dừng ở đó.

VLễ Hội Tháng Giêng

Lễ hội của chùa mở vào tháng Giêng, nhưng khác phần lớn hội chùa, ngày khai hội ở đây không cố định vào một ngày âm lịch cố định mà có năm mở vào giữa tháng, có năm mở vào hạ tuần tháng Giêng. Vì vậy bảng dưới đây ghi theo trình tự nghi thức thay vì gán cứng từng ngày.

Trình tự hội tháng Giêng. Ngày khai hội thay đổi theo từng năm trong tháng Giêng chứ không cố định vào một ngày âm lịch. Nguồn: Bản tin khai hội của báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, cổng thông tin tỉnh và báo Quảng Trị..
Trình tựNghi thứcNội dung
Trước hoặc đầu hộiLễ rước nước và cầu mưa thuận gió hòaNghi thức lấy nước thiêng từ vực An Sinh và lễ cầu mưa thuận gió hòa tại đền Trôốc Vực trên dòng Kiến Giang rước về chùa, gắn với cư dân nông nghiệp vùng đồng trũng.
Ngày khai hộiLễ cầu quốc thái dân anNghi lễ chính của hội, cầu cho mùa vụ và cho dân trong vùng một năm yên ổn.
Ngày khai hộiLễ khai ấnNghi thức đóng ấn của chùa, một lệ ít thấy ở chùa Bắc Bộ nhưng được giữ tại đây.
Trong hộiThuyết pháp và quy y Tam bảoPhần nhà chùa giảng pháp cho người về dự, kèm lễ quy y cho những người xin nhận làm đệ tử tại gia.
Trong hộiPhóng sinh, thả cá, thả hoa đăngCác nghi thức mang tính cầu phúc như phóng sinh, thả cá đầu xuân xuống dòng Kiến Giang và đêm hội hoa đăng cầu nguyện.

Ngoài hội tháng Giêng, chùa giữ các ngày lễ chung của nhà Phật theo âm lịch, gồm rằm tháng Tư là lễ Phật đản, rằm tháng Bảy là lễ Vu Lan, cùng các ngày rằm và mùng một hằng tháng. Hội tháng Giêng vẫn là dịp đông người nhất trong năm, kết hợp cả phần lễ Phật giáo và phần hội dân gian như bài chòi, hò khoan Lệ Thủy.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Thuận Trạch, xã Tân Mỹ (xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy cũ), tỉnh Quảng Trị
Đường tới
Chùa ở thôn Thuận Trạch, xã Tân Mỹ (xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy cũ), tỉnh Quảng Trị, bên hữu ngạn dòng Kiến Giang. Sau đợt sắp xếp địa giới năm 2025, tỉnh Quảng Bình cũ hợp nhất vào tỉnh Quảng Trị và xã Mỹ Thủy hợp nhất thành xã Tân Mỹ. Chùa nằm cách phường Đồng Hới chừng bốn mươi cây số về phía nam, đi theo tuyến quốc lộ 1 rồi rẽ vào đường về Lệ Thủy.
Toạ độ
17.1992, 106.8139
Khi tới nơi

Vài lệ của chính nơi này cần lưu ý, gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào tam bảo, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào nhóm hiện vật cũ như quả chuông, tòa sen và các đồ thờ. Riêng chiếc cổng tam quan cũ là hiện vật gốc đã yếu, xin quý vị không leo, không tựa và không đặt đồ lên bậc cổng. Mùa hội tháng Giêng có đám rước nước đi qua sân, xin nhường đường cho đoàn rước.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Hoằng Phúc

Contribute photos, information or video for Hoằng Phúc Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Hoằng Phúc ở đâu và nay thuộc tỉnh nào

Chùa ở thôn Thuận Trạch, xã Tân Mỹ (xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy cũ), bên hữu ngạn dòng Kiến Giang. Sau lần sắp xếp địa giới năm 2025, nơi này thuộc tỉnh Quảng Trị vì tỉnh Quảng Bình cũ đã hợp nhất vào Quảng Trị, và địa bàn xã nay mang tên Tân Mỹ. Nhiều tư liệu cũ vẫn ghi địa chỉ theo tỉnh Quảng Bình.

Chùa Hoằng Phúc có phải chùa cổ nhất miền Trung không

Đây là danh xưng được báo chí dùng rộng rãi, dựa vào mốc năm 1301 khi Trần Nhân Tông ghé am Tri Kiến, cộng với lập luận rằng cái am phải có trước đó. Cần phân biệt rằng 1301 là năm được chép việc ghé lại chứ không phải năm dựng, và việc nối am Tri Kiến với chùa Hoằng Phúc là kết luận của nghiên cứu qua đối chiếu địa danh.

Trần Nhân Tông tới đây năm nào và sách nào chép

Năm 1301, trên đường vào Chiêm Thành, Thượng hoàng Trần Nhân Tông ở lại am Tri Kiến và thuyết pháp tại đây. Việc này được chép trong Thánh Đăng Ngữ Lục và Tam Tổ Thực Lục, hai bộ sách của nhà Phật. Riêng việc xác định am Tri Kiến ở chỗ nào thì thuộc phần đối chiếu địa danh của các nhà nghiên cứu.

Chùa từng mang những tên nào

Lớp xưa nhất là am Tri Kiến. Năm 1609 chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho dựng chùa đặt tên Kính Thiên Tự, năm 1716 chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển Kính Thiên Tự và hoành phi Vô song phúc địa. Năm 1821 (có nguồn ghi 1826), vua Minh Mạng ghé lại và cho đổi tên thành Hoằng Phúc Tự, tên giữ tới nay. Dân trong vùng còn gọi là chùa Trạm và chùa Quan vì chùa nằm cạnh một trạm dịch trên đường thiên lý.

Phần nào ở chùa là kiến trúc cổ thật

Phần cổ thật gồm chiếc cổng tam quan được giữ nguyên trạng, phần nền móng và nhóm hiện vật gồm quả đại hồng chung nặng chừng 80 kilôgam đúc thời Minh Mạng, tượng Phật, tượng Quán Thế Âm bằng đồng, lư hương, đế nến, bình hoa, mõ và một tòa sen. Toàn bộ tam bảo, nhà thờ tổ và tháp Phật là công trình dựng lại trong hai năm 2014 tới 2016 theo lối chùa cổ.

›Đọc Tiếp