Từ phía Kinh thành đi về hướng tây nam, qua một đoạn phố lên dốc, quý vị gặp một khoảng sân rộng bậc nhất trong các chùa Huế. Sân không có cây to che, chỉ có nắng và một mặt gạch bằng phẳng; bên phải sân, một ngọn tháp bát giác bảy tầng vươn lên; bên trái, một cây bồ đề tán rộng, gốc đã to tới mấy người ôm. Chính điện nằm cuối sân, mái ba tầng theo lối chùa Huế, cửa mở suốt chiều ngang.
Cái sân rộng ấy nói ra một điều về ngôi chùa này. Phần lớn chùa cổ ở Huế dựng kín trong vườn, quay vào trong, lấy sự tĩnh làm chính. Từ Đàm thì mở ra, và nó mở ra vì trong suốt thế kỷ 20 nơi đây là chỗ hội họp của giới tăng sĩ và cư sĩ xứ Huế. Nhưng lớp cổ hơn của ngôi chùa nằm ở một cái tên khác, cái tên đầu tiên của nó: Ấn Tôn.

壹Ấn Tôn Và Dòng Thiền Liễu Quán
Gọi Từ Đàm là tổ đình chứ không gọi là chùa thường, vì đây là nơi phát xuất một dòng truyền thừa. Tên đầu tiên của chùa là Ấn Tôn Tự, lấy từ câu dĩ tâm ấn vi tông, nghĩa là lấy việc truyền tâm làm tông chỉ. Cái tên ấy là tuyên ngôn của một tông phái, và người đặt nó là Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung, vị tăng người Trung Hoa sang Đàng Trong vào cuối thế kỷ 17 và khai sơn ngôi chùa này. Chữ Hán của tên chùa nêu trong bài là chữ theo tư liệu chữ nghĩa, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể trong chùa.
Lâm Tế là một trong năm tông phái lớn của Thiền tông Trung Hoa. Đặc điểm của lối dạy Lâm Tế là dùng công án, tức một câu hỏi hoặc một mẩu đối thoại không giải được bằng suy luận, giao cho người học cầm lấy mà tham cứu tới khi bật ra chỗ thấy. Thầy không giảng nghĩa, chỉ ấn khả, tức xác nhận, khi người học đã thật thấy. Cái tên Ấn Tôn nói đúng phép ấy: tâm truyền cho tâm, như in một con dấu.
Trong Thiền tông, dòng truyền thừa được ghi bằng bài kệ, một bài thơ chữ Hán mà mỗi chữ ứng với một đời; người xuất gia lấy chữ của đời mình làm chữ đầu trong pháp danh, nên nghe pháp danh là biết người ấy thuộc đời thứ bao nhiêu. Thiền sư Liễu Quán về sau tự làm một bài kệ truyền thừa riêng, mở đầu bằng bốn chữ Thật tế đại đạo, và bài kệ ấy là căn cứ để nói tới một dòng thiền Liễu Quán.
Chuyện quan trọng nhất từng xảy ra ở ngôi chùa này là chuyện của một người học. Năm 1702, Thiền sư Liễu Quán, người gốc Phú Yên, tìm tới chùa Ấn Tôn cầu học với Hòa thượng Tử Dung. Công án được giao là: muôn pháp về một, một về chỗ nào. Liễu Quán cầm công án ấy đi, tham cứu suốt bảy tám năm mà chưa vỡ. Rồi một lần đọc ngữ lục của các vị tổ, ông gặp câu chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ, nghĩa là chỉ ngay vào vật mà truyền tâm, chỗ người ta không hiểu được, thì bật ra chỗ thấy. Ông trở lại trình thầy và được thầy ấn khả.
Niên đại lần ấn khả này nguồn ghi vênh nhau. Bộ sách của Hòa thượng Thích Thanh Từ ghi Liễu Quán trở về trình sở đắc vào mùa xuân năm 1708; nhiều tài liệu khác lấy năm 1712, năm hai thầy trò có cuộc pháp chiến công khai tại một đại giới đàn ở Quảng Nam. Nhiều khả năng đây là hai việc khác nhau, một lần xác nhận riêng và một lần công nhận trước chúng, nhưng chưa có tài liệu nào nói dứt điểm nên chúng tôi ghi cả hai.
Liễu Quán thuộc đời pháp thứ 35 của tông Lâm Tế. Năm sinh có nguồn ghi 1667, có nguồn ghi 1668; năm tịch có nguồn ghi 1742, có nguồn ghi 1743, vào ngày hai mươi hai tháng mười một âm lịch. Sau khi ông tịch, nhà vua ban thụy hiệu Chính Giác Viên Ngộ Hòa thượng. Điều đáng nói nhất là: từ ông, nhánh Lâm Tế ở miền Trung và miền Nam mang tên một người Việt, và phần lớn các chùa xứ Huế hôm nay đều thuộc dòng truyền thừa này.
Hai chỗ hay lẫn về ngôi tổ đình này, xin nói bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, Từ Đàm không phải ngôi chùa do Thiền sư Liễu Quán khai sơn, cũng không phải nơi đặt tháp mộ của ngài. Vai của Từ Đàm là vai chỗ học: đây là chùa của thầy, nơi trò tới cầu pháp và được ấn khả. Ngôi chùa do chính Liễu Quán khai sơn và nơi có tháp mộ ngài là chùa Thuyền Tôn, còn gọi Thiền Tôn, dưới chân núi Thiên Thai cũng thuộc Huế. Hai nơi hay bị nói lẫn vì cùng gắn với một tên người, nhưng một nơi là chỗ đắc pháp, một nơi là chỗ hành đạo.
Thứ hai là chuyện chữ. Tên đầu của chùa được viết cả hai cách trong tư liệu, Ấn Tôn và Ấn Tông, và cả hai đều gặp trong các bài viết đáng tin. Lối đọc Tôn là lối kiêng húy quen thuộc của người Huế thời Nguyễn, đã thành nếp tới mức ngọn tháp dựng đầu thế kỷ 21 trong sân chùa vẫn mang tên tháp Ấn Tôn. Gặp cả hai cách viết thì quý vị không cần nghĩ có hai ngôi chùa; đó là một tên, hai lối đọc.
貳Ba Trăm Năm Của Một Ngôi Chùa Đồi
Lịch sử chùa Từ Đàm chia làm hai đoạn khác tính chất. Đoạn đầu, từ cuối thế kỷ 17 tới thế kỷ 19, là đoạn của một tổ đình thiền, việc lớn nhất trong đoạn ấy là việc truyền pháp. Đoạn sau, từ những năm 1930, là đoạn ngôi chùa trở thành chỗ hội họp của giới Phật học xứ Huế, và diện mạo kiến trúc hôm nay thuộc về đoạn này. Về năm khai sơn, nguồn ghi không thống nhất: có tài liệu ghi khoảng các năm 1683 tới 1693, có tài liệu ghi khoảng năm 1690, có tài liệu ghi gọn là cuối thế kỷ 17, và bảng tra của thư viện ghi năm 1695. Không bia ký nào chốt lại một năm, nên chúng tôi ghi cả quãng.
- Cuối thế kỷ 17Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung khai sơnChùa dựng trên đồi Hoàng Long với tên Ấn Tôn Tự, lấy nghĩa dĩ tâm ấn vi tông. Nguồn ghi khoảng 1683 tới 1693, nguồn ghi khoảng 1690, bảng tra ghi 1695.
- 1702Liễu Quán tới cầu phápThiền sư Liễu Quán, người gốc Phú Yên, tới chùa cầu học với Hòa thượng Tử Dung và nhận công án muôn pháp về một, một về chỗ nào.
- 1703Sắc tứ Ấn Tôn TựChúa Nguyễn Phúc Chu ban cho chùa tấm biển sắc tứ với tên Sắc Tứ Ấn Tôn Tự.
- 1708Liễu Quán được ấn khảLiễu Quán trở lại trình sở đắc và được Hòa thượng Tử Dung xác nhận. Một số tài liệu lấy năm 1712, năm hai thầy trò pháp chiến công khai ở Quảng Nam.
- 1841Đổi tên Từ ĐàmĐời Thiệu Trị, nhà vua đặt thêm tên Từ Đàm Tự, nghĩa là đám mây lành che mát cho chúng sinh. Tên này giữ tới nay.
- 1932An Nam Phật Học Hội thành lậpAn Nam Phật Học Hội thành lập ở Huế, đứng đầu là các vị Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết, một tổ chức trung tâm của phong trào chấn hưng Phật giáo.
- 1936 và 1938Chùa thành nơi đặt hội và dựng hội quánNăm 1936 sơn môn giao chùa cho An Nam Phật Học Hội làm nơi đặt trụ sở. Năm 1938 Tỉnh hội Phật học Thừa Thiên xây lại chùa trên nền cũ theo thiết kế của họa sư Tôn Thất Sa.
- 2006 đến 2010Tháp Ấn Tôn và chánh điện mớiTháp bát giác bảy tầng mang tên Ấn Tôn khởi công năm 2006, khánh thành năm 2010; chánh điện dựng lại trong cùng đợt.
Nói thêm về đoạn những năm 1930. Phong trào chấn hưng Phật giáo nửa đầu thế kỷ 20 là cuộc vận động của chính giới tăng sĩ và cư sĩ, nhằm vào ba việc: mở trường đào tạo tăng tài, in kinh sách và ra báo bằng chữ quốc ngữ, lập hội để Phật tử tại gia cùng tham gia việc học Phật. Ở Huế, An Nam Phật Học Hội là đầu mối của cả ba việc ấy, và từ năm 1936 chùa Từ Đàm là nơi hội đặt trụ sở. Vì vậy trong sân chùa có những công trình mà chùa cổ không có: nhà hội, phòng học, chỗ họp đông người.
參Sân Rộng, Tháp Bát Giác Và Cây Bồ Đề
Chùa dựng trên đồi Hoàng Long, một quả đồi thấp phía tây nam Kinh thành. Bố cục không theo lối nội công ngoại quốc kín đáo của chùa Bắc Bộ, cũng không theo lối vườn chùa nhiều lớp của các tổ đình Huế khác, mà gần với một quần thể: một trục chính từ cổng tam quan qua sân lớn tới chánh điện, còn nhà hội, nhà tăng, phòng học và ngọn tháp thì bố trí hai bên trục ấy.
Xây năm 1965, ba lối vào, trụ vuông và mái đắp, không có gác chuông bên trên. Cổng mở thẳng ra mặt đường và thẳng vào sân lớn, khác lối cổng chùa Huế thường nép sau một quãng vườn.
Khoảng sân gạch rộng nhất trong các chùa Huế, không có cây to che giữa sân. Cái rộng ấy là dấu của giai đoạn chùa làm nơi hội họp.
Dựng lại năm 2007, dài khoảng 42 mét và ngang khoảng 35,9 mét, theo lối nhà rường năm gian hai chái, mái ba tầng theo nếp chùa Huế. Gian giữa thờ Phật Thích Ca, với pho tượng đồng cao khoảng 1,30 mét đúc năm 1940.
Trồng năm 1939, chiết từ gốc cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng bên Ấn Độ, nơi Đức Phật thành đạo, đưa về qua đường Tích Lan; tài liệu của chùa ghi người đưa giống cây về là bà Karpelès, tổng thư ký Viện Phật học Phnom Penh.
Tháp bát giác bảy tầng, cao khoảng 27 mét trên đế chừng 100 mét vuông, khởi công năm 2006 và khánh thành năm 2010, bên trong tôn thờ bảy vị Phật. Tên tháp lấy lại tên đầu tiên của ngôi chùa.
Nơi đặt bài vị và chân dung các vị tổ trong dòng truyền thừa của chùa, phần giữ mạch tổ đình và cũng là phần cũ nhất về ý nghĩa trong cả khu chùa.
Một điểm nên nói rõ: phần lớn những gì đang đứng trên mặt đất ở Từ Đàm đều mới. Bộ khung định hình năm 1938, cổng tam quan năm 1965, chánh điện dựng lại năm 2007, tháp khánh thành năm 2010; không có cấu kiện nào còn lại từ thời Tử Dung hay thời Liễu Quán. Cái cổ ở đây không nằm trong gỗ đá mà nằm trong dòng truyền thừa: chùa là tổ đình vì mạch pháp phát xuất từ nó, chứ không vì tuổi của viên ngói. Riêng ngọn tháp và cây bồ đề nên đọc cùng nhau: tháp mang tên Ấn Tôn, tức tên của lớp cổ nhất ở đây, còn cây bồ đề chiết từ Bồ Đề Đạo Tràng, tức gốc cổ nhất của cả đạo Phật.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Chùa dựng trên đồi Hoàng Long, một quả đồi thấp ở vùng gò phía tây nam Kinh thành Huế. Trong phép xem đất, vùng gò đồi được coi là đất có mạch: các đợt đất nổi lên rồi hạ xuống làm thành thế long mạch chạy, và một nơi thờ tự đặt trên vai một quả đồi thì được coi là đặt trên chỗ khí đã kết. Chính vì thế mà cả dải đồi phía tây nam Huế, từ Dương Xuân, Thủy Xuân cho tới Hoàng Long, dày đặc chùa chiền và lăng tẩm.
Đồi Hoàng Long không cao, nhưng cái không cao ấy lại hợp với một ngôi chùa hơn là một ngôi lăng: theo lối cũ, chỗ thờ tự cần cao hơn mặt bằng chung để tách khỏi nhịp phố, nhưng không cao tới mức chơ vơ, để vẫn giữ liên hệ với người ở dưới.
Về hướng, chùa mở mặt ra phía đường và sân, lưng dựa vào phần cao của đồi, tức có hậu chẩm là gối tựa sau lưng và có minh đường là khoảng trống sáng phía trước. Điểm đặc biệt là minh đường của Từ Đàm không phải hồ nước hay cánh đồng như phần lớn chùa cổ, mà là một khoảng sân gạch rộng do người dựng nên. Sân ấy làm đủ việc của một minh đường: hứng sáng, giữ khoảng lùi cho mặt chùa, làm chỗ tụ cho người. Chỉ khác là nó tụ người chứ không tụ nước, và đó là thứ một ngôi chùa hội họp cần hơn.
Cuối cùng là quan hệ với chùa Thuyền Tôn, nơi Thiền sư Liễu Quán khai sơn và an nghỉ, dưới chân núi Thiên Thai. Đọc hai nơi cùng lúc thì thấy một cặp đối nhau khá rõ: Từ Đàm ở vùng gò gần phố, thế mở, làm chỗ dạy và chỗ hội; Thuyền Tôn ở chân núi xa hơn, thế kín, làm chỗ tu và chỗ giữ tháp tổ. Một sơn môn cần cả hai thế ấy.
伍Lễ Tiết Trong Năm
Lễ tiết ở Từ Đàm theo lịch chung của Phật giáo Bắc tông, tính bằng âm lịch, cộng thêm ngày giỗ của các vị tổ trong dòng truyền thừa. Riêng mùa Phật đản ở Huế có nếp riêng mà nơi khác không có, và chùa Từ Đàm là một trong các điểm chính của nếp ấy.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng nguyên | Lễ đầu năm, tụng kinh cầu an, cũng là dịp đông người lui tới nhất trong quãng đầu xuân. |
| Mùng 8 đến rằm tháng Tư | Mùa Phật đản | Tuần lễ kính ngày Đức Phật đản sinh. Ở Huế có lễ Mộc dục và đám rước Phật theo đường phố, trong đó Từ Đàm là một điểm chính. |
| Rằm tháng Tư đến rằm tháng Bảy | An cư kiết hạ | Ba tháng chư tăng tập trung tu học tại một trú xứ theo giới luật, nếp có từ thời Đức Phật còn tại thế. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu lan | Lễ báo hiếu cha mẹ, tụng kinh Vu lan và cúng thí thực, một trong hai lễ đông người nhất trong năm cùng với Phật đản. |
| Ngày 22 tháng Mười Một | Giỗ Tổ Liễu Quán | Ngày tịch của Thiền sư Liễu Quán, được các chùa thuộc dòng truyền thừa này ở Huế cùng tưởng niệm. |
| Mùng 8 tháng Chạp | Lễ Phật thành đạo | Kỷ niệm ngày Đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề, một lễ có ý nghĩa riêng ở ngôi chùa có cây bồ đề chiết từ Bồ Đề Đạo Tràng. |
Ngoài các ngày trên, chùa còn là nơi diễn ra các khóa tu và các buổi học Phật pháp dành cho người tại gia, nối tiếp nếp mở lớp học Phật đã có từ những năm 1930.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 1 đường Sư Liễu Quán, phường Trường An, thành phố Huế
- Đường tới
- Chùa ở số 1 đường Sư Liễu Quán, phường Trường An, thành phố Huế, trên đồi Hoàng Long phía tây nam Kinh thành. Đi cùng tuyến có thể ghé thêm các tổ đình khác trong vùng đồi Dương Xuân và Thủy Xuân.
- Toạ độ
- 16.4606, 107.5806
Đây là ngôi chùa đang sinh hoạt, có chư tăng ở và có lớp học, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và nhà tổ, đi nhẹ nói khẽ, chắp tay chào chư tăng khi gặp. Trong nhà tổ, bài vị và di ảnh các vị tổ không phải để chạm tay vào. Cây bồ đề trong sân là vật được chùa giữ gìn, xin đừng bẻ lá hay khắc chữ lên thân cây.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Từ Đàm do ai khai sơn và trước đây tên gì
Do Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung, vị tăng người Trung Hoa sang Đàng Trong, khai sơn vào cuối thế kỷ 17 với tên Ấn Tôn Tự, lấy nghĩa từ câu dĩ tâm ấn vi tông. Năm 1703 chùa được chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển sắc tứ. Tên Từ Đàm do vua Thiệu Trị đặt năm 1841, nghĩa là đám mây lành.
Thiền sư Liễu Quán đắc pháp ở chùa Từ Đàm như thế nào
Năm 1702 ngài tới chùa Ấn Tôn cầu học với Hòa thượng Tử Dung và nhận công án muôn pháp về một, một về chỗ nào. Sau bảy tám năm tham cứu, ngài bật ra chỗ thấy khi đọc câu chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ, rồi trở lại trình thầy và được ấn khả. Nguồn ghi năm 1708, nguồn khác lấy năm 1712.
Dòng thiền Liễu Quán là gì
Là nhánh Việt của tông Lâm Tế, mang tên Thiền sư Liễu Quán, vị thuộc đời pháp thứ 35 của tông này. Ngài tự làm một bài kệ truyền thừa mở đầu bằng bốn chữ Thật tế đại đạo, và từ bài kệ ấy hình thành một dòng truyền có thứ tự các đời riêng. Phần lớn các chùa ở xứ Huế hôm nay thuộc dòng truyền thừa này.
Cây bồ đề ở chùa Từ Đàm có nguồn gốc từ đâu
Được trồng năm 1939, chiết từ gốc cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng bên Ấn Độ, nơi Đức Phật thành đạo, đưa về qua đường Tích Lan. Tài liệu của chùa ghi người đưa giống cây về là bà Karpelès, tổng thư ký Viện Phật học Phnom Penh. Gốc cây nay đã to tới mấy người ôm.
Tháp Ấn Tôn ở chùa Từ Đàm có mấy tầng
Bảy tầng, mặt bằng bát giác, cao khoảng 27 mét trên đế chừng 100 mét vuông, bên trong tôn thờ bảy vị Phật. Tháp khởi công năm 2006 và khánh thành năm 2010. Tên tháp lấy lại Ấn Tôn, tên đầu tiên của ngôi chùa khi mới khai sơn.