Quý vị đứng trên phố Quán Sứ, giữa những khối nhà cao và dòng xe không ngớt, rồi gặp một cổng tam quan xây gạch ba tầng mái, trên tầng giữa có gác chuông. Qua cổng là một khoảng sân lát gạch không rộng, và ngay sau sân là khối chính điện vuông vức, cao hai tầng. Không có hồ, không có núi, không có vườn tháp; cả ngôi chùa gói trong một ô đất phố.
Nhìn lên tam quan, quý vị sẽ thấy điều lạ nhất ở đây trước khi bước vào lễ. Biển tên chùa, hoành phi và nhiều đôi câu đối đều viết bằng chữ quốc ngữ, chữ cái La Tinh ghi tiếng Việt, chứ không viết bằng chữ Hán như hầu hết chùa cổ Bắc Bộ. Đó không phải một sự tùy tiện của người sửa chùa, mà là dấu của một giai đoạn cụ thể trong lịch sử Phật giáo nước ta.

壹Lai Lịch Cái Tên Quán Sứ
Khác phần lớn chùa Bắc Bộ, tên của nơi này không lấy theo một vị Phật, một vị Thánh hay một thôn làng. Nó lấy theo một công trình hành chính đã mất từ lâu: nhà khách của triều đình dùng để tiếp sứ thần nước ngoài.
Hai chữ trong tên nói đúng công dụng của chỗ này thời trước. Quán ở đây là công quán, tức nhà công dựng để ở tạm và tiếp khách, không phải chữ quán trong đạo quán của Đạo Giáo. Sứ là sứ thần, người được một nước cử sang nước khác. Quán Sứ vì thế nghĩa là nhà khách dành cho sứ thần, và tên phố Quán Sứ hôm nay là tên còn lại của công trình ấy.
Ngôi chùa trong khuôn viên công quán được dựng vì một lý do thực dụng: sứ thần các nước láng giềng phần nhiều theo đạo Phật, họ ở lại Thăng Long có khi hàng tháng, nên trong quán phải có chỗ cho họ tụng niệm và lễ Phật. Đây không phải chùa của một làng lập cho dân làng, mà là chùa lập cho khách.
Tư liệu chép rằng các nước Chiêm Thành và Ai Lao thường cử sứ giả sang, nên triều đình cho dựng một công quán để tiếp, và dựng thêm chùa trong quán cho sứ thần lễ Phật. Về niên đại thì nguồn ghi vênh nhau và vênh khá rõ. Phần lớn tư liệu ghi chùa khởi dựng vào thế kỷ 15, thời Lê sơ. Nhưng cũng chính các tư liệu ấy, và nhiều bài viết khác, gắn việc dựng công quán với đời vua Lê Thế Tông, vị vua trị vì trong khoảng cuối thế kỷ 16. Hai cách ghi này lệch nhau hơn một trăm năm và không thể cùng đúng; chúng tôi ghi cả hai chứ không chọn bừa một mốc.
Điều chắc chắn hơn là vị trí. Trước khi thành phố mở phố, đất chùa thuộc thôn An Tập, huyện Thọ Xương, một đơn vị hành chính cũ của Thăng Long. Công quán về sau không còn, ngôi chùa thì còn, và cái tên của công quán ở lại trên cả chùa lẫn con phố.
Chỗ hay hiểu lầm nằm ở chữ quán. Nhiều người đọc tên Quán Sứ rồi xếp nơi này vào loại đạo quán, tức cơ sở thờ tự của Đạo Giáo, như trường hợp Trấn Vũ Quán bên hồ Tây. Cách hiểu ấy không đúng.
Chữ quán trong tên này là công quán, thuộc từ vựng hành chính chứ không thuộc từ vựng tôn giáo. Quán Sứ là nhà khách của triều đình, và ngôi chùa chỉ là một hạng mục nằm trong khuôn viên nhà khách ấy. Từ đầu tới nay nơi này vẫn là một ngôi chùa Phật giáo Bắc tông, thờ Phật, do tăng ni trụ trì, không có lớp thờ nào của Đạo Giáo. Xin nói thêm một cách hiểu sai khác, nhẹ hơn: chữ sứ trong tên không liên quan tới đồ sứ hay nghề làm sứ, mà là sứ thần.
Về chữ Hán của tên chùa, chúng tôi phải nói rõ một điều. Biển tên và hoành phi tại chùa đều viết bằng chữ quốc ngữ, nên chuỗi chữ Hán ghi ở đầu trang này là do thư viện suy ra từ âm Hán Việt của hai chữ Quán Sứ cộng chữ tự, chứ không phải chép lại từ một tấm biển nào ở chùa. Quý vị nên xem đó là cách phiên chữ để tham khảo, không phải một bằng chứng văn tự.
貳Từ Nhà Khách Của Triều Đình Tới Chùa Của Phố
Lịch sử của chùa chia làm hai đoạn rất khác nhau. Đoạn thứ nhất dài và mờ: mấy trăm năm làm một ngôi chùa nhỏ trong khuôn viên nhà khách rồi trong một thôn của Thăng Long. Đoạn thứ hai ngắn mà dày: từ những năm 1930 trở đi, chùa thành nơi đặt trụ sở của các tổ chức Phật giáo, và diện mạo hôm nay hình thành trong đoạn ấy.
- Thời LêCông quán và chùa trong quánTriều đình cho dựng công quán tiếp sứ thần Chiêm Thành và Ai Lao, trong khuôn viên có chùa cho sứ thần lễ Phật. Nguồn ghi vênh nhau giữa thế kỷ 15 và đời vua Lê Thế Tông ở cuối thế kỷ 16.
- Thời Lê và NguyễnChùa của thôn An TậpCông quán không còn, chùa ở lại và trở thành chùa của thôn An Tập, huyện Thọ Xương. Cái tên Quán Sứ giữ nguyên trên cả chùa lẫn con phố về sau.
- 1934Hội Phật giáo Bắc Kỳ chọn chùa làm trụ sởHội được thành lập ngày 6 tháng 11 năm 1934, do ông Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng, đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ. Đây là mốc mở đầu vai trò mới của ngôi chùa.
- 1935Báo Đuốc Tuệ ra số đầuCơ quan ngôn luận của Hội, làm tại chùa và in bằng chữ quốc ngữ. Đuốc Tuệ là một trong những tờ báo Phật giáo có tiếng nhất của phong trào chấn hưng ở Bắc Kỳ.
- 1942Dựng lại ngôi chùa hiện nayChùa được xây lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng, cho ra bộ mặt kiến trúc còn thấy hôm nay: tam quan gác chuông ba tầng, chính điện cao, nhà thờ Tổ phía sau.
- 1951Lần đầu treo cờ Phật giáo thế giới tại Hà NộiNgày 13 tháng 5 năm 1951, lá cờ Phật giáo thế giới được treo lần đầu ở Hà Nội tại chùa này, gắn với việc Phật giáo nước ta tham gia các tổ chức Phật giáo quốc tế.
- 1958Trụ sở của Hội Phật giáo Thống nhất Việt NamChùa tiếp tục được chọn làm nơi đặt trụ sở tổ chức, giữ vai trò đầu mối cho các hoạt động Phật sự ở miền Bắc.
- 1981Trụ sở Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt NamHội nghị thống nhất các tổ chức Phật giáo trong cả nước họp tại chùa Quán Sứ, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Từ đó tới nay chùa là nơi đặt trụ sở Trung ương của Giáo hội.
Cần phân biệt hai lớp. Lớp thờ tự có từ thời Lê và liên tục tới nay. Lớp kiến trúc thì gần như toàn bộ thuộc năm 1942: ở đây không còn cấu kiện gỗ hay bộ mái nào mang niên đại Lê hoặc Nguyễn như tại các chùa cổ ngoại thành. Giá trị của nơi này nằm ở lai lịch cái tên và ở vai trò của nó trong một trăm năm gần đây.
參Ngôi Chùa Trong Một Ô Đất Phố
Chùa giữa phố thì không có chỗ để dàn theo trục dài như chùa làng, nên bố cục ở đây nén lại. Đi từ ngoài vào, quý vị qua tam quan xây gạch kiểu chồng diêm ba tầng, tầng giữa treo chuông, mái lợp giả ngói ống. Sau tam quan là sân lát gạch không rộng, rồi tới khối chính điện dựng cao, mặt bằng gần vuông, phía sau là nhà thờ Tổ, hai bên là dải vũ cùng các nhà phụ dùng làm thư viện, giảng đường và tăng phòng.
Chính điện làm hai tầng, bên trong bài trí tượng Phật theo lối Bắc tông xếp thành nhiều bậc cao dần, có bộ Tam Thế, có Di Đà Tam Tôn, có tượng Thích Ca và các ban hai bên. Trong chùa còn gian thờ Lý Quốc Sư, vị thiền sư đời Lý được thờ ở nhiều chùa Hà Nội. Hệ tượng ở đây thuộc lớp làm mới trong thế kỷ 20, nên đường nét gọn và cân đối hơn tượng chùa làng.
Hoành phi câu đối bằng chữ quốc ngữ
Đây là chi tiết đáng kể nhất của kiến trúc chùa Quán Sứ, và là chi tiết người đi lễ hay đi qua mà không để ý. Biển tên chùa, nhiều tấm hoành phi và nhiều đôi câu đối ở đây đều viết bằng chữ quốc ngữ, chữ in hoa, đọc thẳng ra tiếng Việt, không cần người biết chữ Hán phiên giúp.
Ở nhà thờ Tổ có đôi câu nhắc công của các vị tôn sư và nhắc Phật hoàng Điều Ngự, tức vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia; trên cổng tam quan cũng có câu đối viết theo lối ấy. Kết quả là một hiện tượng ít gặp: một ngôi chùa Bắc Bộ mà toàn bộ phần chữ nghĩa trên kiến trúc đều đọc được bởi người chỉ biết chữ quốc ngữ.
Việc dùng chữ quốc ngữ ở đây là một chủ trương, gắn chặt với phong trào chấn hưng Phật giáo nửa đầu thế kỷ 20. Kinh sách nhà Phật ở nước ta vốn viết bằng chữ Hán, nên khi chữ Hán thôi được dạy phổ thông thì giữa kinh sách và người thường mở ra một khoảng trống. Các hội Phật học lập trong những năm 1930 chọn cách lấp khoảng trống ấy bằng chữ quốc ngữ: dịch kinh, soạn sách giáo lý và ra báo bằng thứ chữ mà dân đọc được.
Chùa Quán Sứ nằm đúng giữa việc ấy. Hội Phật giáo Bắc Kỳ lập năm 1934 đặt trụ sở tại chùa, tờ Đuốc Tuệ ra số đầu năm 1935 ngay tại đây, in bằng chữ quốc ngữ; cùng thời Nam Kỳ có Từ Bi Âm từ năm 1932, Trung Kỳ có Viên Âm từ năm 1933. Khi chùa dựng lại năm 1942, việc viết hoành phi câu đối bằng chữ quốc ngữ là sự nối tiếp thẳng của chủ trương ấy lên chính thân ngôi chùa.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều phải nói trước tiên là chỗ này không được chọn theo phép xem đất. Ngôi chùa có ở đây vì triều đình dựng nhà khách ở đây, và nhà khách dựng ở đây vì nó tiện cho việc tiếp sứ: gần khu trung tâm hành chính của Thăng Long, trên đường ra vào kinh thành, đủ xa nội cung để khách ở mà không vướng. Đọc thế đất chùa Quán Sứ là đọc thế đất của một nhà công vụ được nâng lên thành nơi thờ tự, chứ không phải một huyệt được tìm ra trước rồi mới dựng chùa lên.
Xét theo phép cũ, đây là loại đất phố, thứ mà sách vở gọi là dương trạch giữa chỗ đông người. Trong đất phố, mạch núi và mạch nước đều không đọc được nữa; cái dẫn khí là đường đi, và cái tụ khí là khoảng sân. Chùa Quán Sứ làm đúng cách xử lý cổ truyền cho tình huống ấy: dựng tam quan cao ba tầng sát mặt phố để chắn cái xô bồ bên ngoài, chừa một khoảng sân làm chỗ hạ nhịp, rồi mới đặt chính điện. Sân ấy hẹp nhưng đóng vai trò minh đường trọn vẹn: nó là chỗ duy nhất trong cả khu cho người ta đứng lại và thở trước khi vào lớp thờ.
Về hướng, chùa mở cửa ra phố Quán Sứ, lấy đúng mặt phố làm mặt tiền. Đây là chỗ chùa phố buộc phải nhượng bộ: hướng công trình do con phố quyết định chứ không do người dựng chọn theo la bàn. Bù lại, cách dồn chiều cao vào khối chính điện và cách nâng tam quan lên ba tầng cho cả cụm một trục đi lên thay cho trục đi sâu mà chùa làng vẫn dùng. Không có đất để đi sâu thì đi lên.
Sau cùng là một lớp nghĩa đáng đọc. Trong cách nghĩ cổ truyền, đất từng là nơi tiếp khách phương xa thì mang cái khí của sự ra vào. Ngôi chùa mọc trên đúng nền ấy, và một trăm năm gần đây lại làm đầu mối cho các cuộc họp, các khóa lễ lớn và việc tiếp khách Phật giáo từ nước ngoài. Đọc theo lối cũ thì công dụng của mảnh đất không đổi, chỉ hạng khách là đổi.
伍Vai Trò, Lễ Tiết Và Sinh Hoạt Của Chùa
Một ngôi chùa làng thì nặng về lễ tiết theo mùa. Chùa Quán Sứ ngoài lễ tiết còn là một địa chỉ làm việc, nơi diễn ra phần lớn công việc chung của Phật giáo cả nước, và đó là chỗ nó khác các chùa khác.
Nơi đặt trụ sở và cơ quan nghiên cứu
Chùa là nơi đặt trụ sở Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức thành lập năm 1981 sau hội nghị thống nhất các tổ chức Phật giáo họp tại chính ngôi chùa này. Trong khuôn viên còn có Phân viện Nghiên cứu Phật học, cơ quan làm việc dịch kinh, biên soạn và nghiên cứu, cùng tạp chí nghiên cứu Phật học gắn với phân viện ấy.
Hệ quả với người tới thăm là nhiều hạng mục trong khuôn viên không phải chỗ thờ mà là chỗ làm việc: thư viện, giảng đường, phòng họp và tăng phòng. Mạch từ thời Đuốc Tuệ tới phân viện hôm nay là một mạch liền: ngay từ những năm 1930, đây đã là nơi người ta viết và in về đạo Phật chứ không chỉ là nơi lễ Phật.
Lễ tiết trong năm
Chùa giữ các lễ tiết chung của Phật giáo Bắc tông, tính theo âm lịch. Vì đây là chùa đặt trụ sở Trung ương Giáo hội, nhiều mốc trong bảng dưới đây được tổ chức ở quy mô đại lễ chứ không gọn trong phạm vi một ngôi chùa.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 1 tới rằm tháng Giêng | Lễ cầu an và Thượng nguyên | Khóa lễ đầu năm, đông người nhất trong các dịp thường lệ. Rằm tháng Giêng là ngày Thượng nguyên theo lịch nhà Phật. |
| Mùng 8 tháng Hai | Lễ Phật xuất gia | Kỷ niệm ngày Đức Thích Ca rời hoàng cung đi tu, có khóa lễ và thuyết pháp. |
| Rằm tháng Tư | Đại lễ Phật đản | Ngày trọng nhất trong năm của nhà Phật. Tại chùa Quán Sứ, đây là dịp tổ chức đại lễ ở quy mô lớn nhất, gắn với vai trò trụ sở Trung ương Giáo hội. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu Lan và Tự tứ | Khép mùa an cư của tăng ni, đồng thời là lễ báo hiếu cha mẹ, có cầu siêu và thuyết pháp. |
| Rằm tháng Mười | Lễ Hạ nguyên | Khóa lễ cuối trong ba kỳ nguyên của năm, nối với các lễ cầu an cuối năm. |
| Mùng 8 tháng Chạp | Lễ Phật thành đạo | Kỷ niệm ngày Đức Thích Ca thành đạo dưới cội bồ đề, khóa lễ khép lại vòng lễ tiết của năm. |
Ngoài các mốc trên, chùa còn duy trì khóa tụng niệm thường lệ, các buổi thuyết pháp, các lớp giáo lý cho Phật tử, lễ quy y, và việc tiếp các đoàn khách Phật giáo từ nước ngoài. Vì lượng việc ấy mà sân chùa, dù hẹp, gần như lúc nào cũng có người, ngày rằm mùng một thì chật tới mức phải phân luồng lối vào.
Thêm một chỗ hay hiểu lầm. Vì chùa Quán Sứ là nơi đặt trụ sở Trung ương, nhiều người cho rằng đây phải là ngôi chùa cổ nhất hoặc lớn nhất Hà Nội. Không phải vậy trên cả hai điểm. Về niên đại, Hà Nội có nhiều chùa cổ hơn, trong đó chùa Trấn Quốc bên hồ Tây có lớp niên đại xa hơn nhiều. Về quy mô, khuôn viên chùa Quán Sứ nhỏ hơn hẳn các chùa ngoại thành như chùa Thầy hay chùa Tây Phương. Việc chọn nơi này làm trụ sở gắn với chuỗi sự việc của thế kỷ 20 kể ở phần lịch sử, chứ không gắn với tuổi hay tầm của ngôi chùa.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 73 phố Quán Sứ, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm cũ, Hà Nội
- Đường tới
- Chùa ở số 73 phố Quán Sứ, phường Trần Hưng Đạo thuộc quận Hoàn Kiếm cũ, Hà Nội, đi bộ được từ khu vực hồ Hoàn Kiếm và từ ga Hà Nội. Đây là chùa giữa phố, không có bãi rộng trước cửa.
- Toạ độ
- 21.0233, 105.8452
Vài lệ của chính nơi này. Đây vừa là chỗ thờ tự vừa là chỗ làm việc, nên ăn mặc kín đáo và giữ im lặng là điều được nhắc trước hết. Bỏ mũ và bỏ giày theo chỉ dẫn khi vào chính điện và nhà thờ Tổ. Các nhà phụ dùng làm thư viện, giảng đường và tăng phòng không phải chỗ tham quan, xin đừng tự ý bước vào. Sân chùa hẹp, ngày rằm mùng một rất chật, quý vị theo luồng một chiều mà đi. Đặt tiền vào hòm công đức, không cài lên tượng.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao chùa có tên là Quán Sứ
Vì nơi này xưa là công quán, tức nhà khách của triều đình dựng để tiếp sứ thần các nước Chiêm Thành và Ai Lao. Sứ thần phần nhiều theo đạo Phật nên trong quán dựng thêm một ngôi chùa cho họ lễ Phật. Công quán về sau không còn, tên Quán Sứ ở lại trên cả ngôi chùa lẫn con phố.
Chùa Quán Sứ có phải đạo quán của Đạo Giáo không
Không. Chữ quán ở đây là công quán, thuộc từ vựng hành chính, khác chữ quán trong đạo quán như Trấn Vũ Quán bên hồ Tây. Chùa Quán Sứ từ đầu tới nay là chùa Phật giáo Bắc tông, thờ Phật và do tăng ni trụ trì, không có lớp thờ nào của Đạo Giáo.
Chùa Quán Sứ dựng từ năm nào
Nguồn vênh nhau. Phần lớn tư liệu ghi chùa khởi dựng vào thế kỷ 15 thời Lê sơ, nhưng cũng nhiều bài gắn việc dựng công quán với đời vua Lê Thế Tông ở cuối thế kỷ 16. Hai mốc lệch nhau hơn trăm năm nên chúng tôi ghi cả hai. Phần kiến trúc hiện nay thì dựng lại năm 1942.
Vì sao hoành phi câu đối ở chùa Quán Sứ viết bằng chữ quốc ngữ
Vì chủ trương của phong trào chấn hưng Phật giáo nửa đầu thế kỷ 20, lấy chữ quốc ngữ để dịch kinh và ra báo cho người thường đọc được. Hội Phật giáo Bắc Kỳ lập năm 1934 đặt trụ sở tại chùa, báo Đuốc Tuệ ra năm 1935 tại đây, và khi chùa dựng lại năm 1942 thì chữ quốc ngữ được đưa lên chính thân ngôi chùa.
Chùa Quán Sứ có vai trò gì hiện nay
Chùa là nơi đặt trụ sở Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức được thành lập năm 1981 sau hội nghị họp tại chính ngôi chùa này. Trong khuôn viên còn có Phân viện Nghiên cứu Phật học làm công việc dịch kinh, biên soạn và nghiên cứu, cùng thư viện và giảng đường.