VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Bà Thiên Hậu Chợ Lớn

穗城會館 · Tuệ Thành Hội Quán, chùa Bà Chợ Lớn

Hội quán của người Hoa gốc Quảng Đông giữa Chợ Lớn, nơi một ngôi miếu thờ thần và một nhà đồng hương cùng nằm trong một khuôn tường.

Lập hội quán
khoảng 1760
các nguồn ghi khác nhau, xem phần lịch sử
Tượng gốm trên nóc
1908
gốm Thạch Loan, do lò Bửu Nguyên và Đồng Hòa làm
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định số 43 ngày 7 tháng 1 năm 1993

Đứng trên vỉa hè đường Nguyễn Trãi, quý vị chưa thấy gì nhiều: một mặt tiền hẹp, tường gạch trần, mái ngói ống. Phải ngẩng lên mới thấy thứ đáng nhìn nhất của nơi này, là một dải tượng gốm nhỏ chạy suốt bờ nóc, người, ngựa, thành quách, lầu gác, xếp thành từng lớp như một sân khấu bị dựng đứng lên trời. Bước qua cửa, khói từ hàng trăm vòng nhang treo kín trần rơi xuống thành từng vệt sáng.

Người Sài Gòn gọi nơi này là chùa Bà. Nhưng tên khắc trên biển là Tuệ Thành Hội Quán, và chữ hội quán mới nói đúng gốc gác: đây trước hết là nhà chung của những người Hoa gốc phủ Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, nơi họ hội nhau, lo việc đồng hương, rồi mới là nơi thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Hai chức năng ấy nằm chung một khuôn tường, và đó là điều làm nên đặc điểm của loại công trình này.

Chùa Bà Thiên Hậu Chợ Lớn
Chùa Bà Thiên Hậu Chợ Lớn. Ảnh: Thuydaonguyen, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Vị Thần Được Thờ Và Cộng Đồng Lập Miếu

Vị ngồi giữa chính điện là Thiên Hậu Thánh Mẫu, nữ thần coi sóc mặt biển trong tín ngưỡng dân gian của người Hoa. Danh hiệu Thiên Hậu nghĩa là bà hoàng của trời, bậc cao nhất trong chuỗi tôn hiệu mà các triều đại Trung Hoa lần lượt gia phong. Ở đây bà có ba pho tượng đặt theo hàng từ thấp lên cao, hai bên có hai ngọc nữ đứng hầu.

Tên chữ Tuệ Thành là cách đọc Hán Việt của hai chữ chỉ tên cũ thành Quảng Châu. Đặt tên quê lên biển hiệu là lệ chung của các hội quán người Hoa ở Chợ Lớn: nhìn tên là biết nhóm nào lập. Chúng tôi ghi bốn chữ Hán theo dạng chuẩn của tên gọi ấy chứ không chép từ ảnh chụp một tấm hoành cụ thể.

Theo giáo nghĩa

Theo cách nhìn của tín ngưỡng dân gian Hoa, người có công đức lớn khi sống có thể được đưa vào hàng thần sau khi mất, rồi được triều đình lần lượt gia phong tôn hiệu cho tới bậc cao nhất. Thiên Hậu hình thành đúng theo lối ấy, đi từ một người con gái đất Phúc Kiến, qua lòng tin của dân đi biển, tới ngôi vị vị thần coi sóc sóng gió.

Chức năng cứu người trên mặt nước giải thích vì sao bà thành vị thần chính của gần như mọi nhóm người Hoa vượt biển xuống Nam Bộ, dù gốc Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu hay Hải Nam. Bát nhang của bà thường được thỉnh theo ngay từ chuyến ghe đầu tiên, và miếu thờ bà thường là công trình đầu tiên một nhóm dựng lên khi đã đứng chân được.

Theo sử liệu

Về mặt tổ chức, cần nói rõ đây là một hội quán chứ không phải một ngôi chùa do tăng chúng trụ trì. Hội quán là hình thức tự quản của các nhóm người Hoa di cư, tập hợp theo gốc quê và theo phương ngữ, lo cho nhau các việc như đón người mới sang, phân xử tranh chấp, giúp đỡ khi ốm đau tang ma, góp tiền cho việc học của con em. Ngôi miếu thờ vị thần chung là chỗ để cả nhóm hội lại, và cũng là nơi cất giữ uy tín của nhóm.

Những tấm bia đá ghi tên người và hiệu buôn đã cúng dựng chính là hồ sơ của cộng đồng ấy. Đọc bia trong một hội quán, người ta không chỉ biết năm trùng tu mà còn biết nhóm này lúc ấy có bao nhiêu nhà buôn và ai đứng đầu.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất là chữ chùa. Trong tiếng Việt, chùa vốn chỉ cơ sở thờ Phật; người Việt Nam Bộ từ lâu đã dùng chữ ấy rộng ra cho cả miếu thờ thần của người Hoa, vì cùng mái ngói ống, cùng khói nhang, cùng là chỗ để lễ. Bên trong thì không có tam bảo, không có tượng Phật ở ban chính, không có tăng chúng trụ trì. Gọi cho đúng thì đây là một hội quánmiếu thờ thần, thuộc tín ngưỡng dân gian Hoa pha Đạo Giáo, chứ không phải chùa Phật Giáo Bắc Tông của người Kinh.

Thứ hai, nơi này không phải chùa Bà Thiên Hậu ở Thủ Dầu Một. Hai nơi cùng thờ một vị thần, cùng do người Hoa lập, nhưng là hai di tích riêng biệt cách nhau khoảng ba mươi cây số, và thư viện có trang riêng cho từng nơi. Ngôi ở Chợ Lớn gắn với hội quán Tuệ Thành của riêng người Quảng Đông, lễ vía Bà vào hai mươi ba tháng Ba âm lịch; ngôi ở Thủ Dầu Một do bốn bang người Hoa cùng quản, có lễ rước kiệu Bà ra phố vào rằm tháng Giêng.

Hai Trăm Năm Trong Một Khuôn Tường

Không có văn bản nào ghi dứt điểm năm lập hội quán. Cái mà nơi này để lại là những vật mang niên đại: một quả chuông đồng, một tấm bia đá, một dải tượng gốm trên nóc. Lịch sử ở đây vì thế phải đọc ngược từ hiện vật chứ không đọc xuôi từ sử sách.

  • Khoảng 1760Người Hoa Quảng Đông lập hội quán
    Mốc được dùng rộng rãi trong tư liệu du lịch và trong bảng dữ liệu của thư viện, gắn với lớp người Hoa gốc phủ Quảng Châu tới buôn bán ở vùng Chợ Lớn.
  • 1795Quả chuông đồng sớm nhất
    Chuông đồng trong miếu mang niên đại đời Càn Long. Đây là hiện vật sớm nhất còn lại tại chỗ, và là căn cứ chắc chắn nhất cho tuổi của nơi này.
  • 1830Tấm bia đá
    Bia cho biết hội quán đã hình thành từ hơn ba mươi năm trước đó nhưng quy mô còn nhỏ. Đây là chỗ khiến mốc 1760 bị đặt lại.
  • Thế kỷ 19Nhiều đợt trùng tu lớn
    Các nguồn liệt kê những năm 1800, 1825, 1839, 1842, 1882 và 1890, tuy danh sách cụ thể mỗi bản một khác. Dáng vóc hôm nay phần lớn định hình trong giai đoạn này.
  • 1878Quả chuông thứ hai
    Chuông mang niên đại năm Mậu Ngọ, đúc thêm trong một đợt trùng tu cuối thế kỷ 19.
  • 1908Bộ tượng gốm trên nóc
    Dải tượng gốm chạy suốt bờ nóc do hai lò gốm Bửu Nguyên và Đồng Hòa làm. Đây là phần được nhắc tới nhiều nhất khi nói về giá trị nghệ thuật của di tích.
  • 1993Di tích quốc gia
    Xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 43 ký ngày 7 tháng 1 năm 1993.
Theo sử liệu

Xin nói thẳng chỗ nguồn vênh nhau. Về năm lập hội quán, mốc quen dùng là khoảng năm 1760, nhưng tấm bia dựng năm 1830 lại chép rằng hội quán mới hình thành từ hơn ba mươi năm trước đó, tức khoảng những năm 1795 tới 1800. Cách giải thích hợp lý nhất là có một ngôi miếu nhỏ dựng trước, rồi tới cuối thế kỷ 18 mới thành một hội quán có tổ chức, nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm, nên ghi cả hai chứ không chọn bừa.

Chỗ vênh thứ hai nhỏ hơn, là danh sách các đợt trùng tu thế kỷ 19 và tên lò gốm làm bộ tượng trên nóc, có bản ghi lò Đồng Hòa, có bản ghi Đông Hòa. Cả hai đều trỏ về cùng một dòng gốm Thạch Loan.

Bố Cục, Gốm Trên Nóc Và Chạm Gỗ

Khuôn viên dài hơn sáu mươi lăm mét và rộng chừng hai mươi bảy mét, dựng theo lối nhà khung gỗ, tường hồi chịu lực, mái lợp ngói âm dương. Mặt bằng dàn theo một trục dọc, từ ngoài vào là tiền điện, thiên tỉnh, trung điện, nhà hương rồi chính điện, hai bên có dãy Đông sương và Tây sương. Thiên tỉnh là khoảng sân trời để hở giữa các lớp nhà, vừa lấy sáng vừa cho khói nhang có đường lên; ở một miếu treo hàng trăm vòng nhang, khoảng hở ấy là bộ phận sống còn.

Dải tượng gốm trên bờ nóc

Làm năm 1908 bởi hai lò Bửu Nguyên và Đồng Hòa, thuộc dòng gốm Thạch Loan của vùng Phật Sơn, Quảng Đông. Đề tài gồm lưỡng long tranh châu cùng các lớp tượng nhỏ diễn tích Tây du ký, Bát tiên quá hải và Tam quốc.

Chạm gỗ và bao lam

Hệ khám thờ, bao lam và cửa võng chạm gỗ sơn son thếp vàng, đề tài chim muông hoa lá cùng các tích truyện quen của mỹ thuật Quảng Đông. Đây là phần nghề mộc, khác hẳn phần gốm trên nóc.

Chuông đồng

Hai quả, quả sớm niên đại năm 1795 đời Càn Long, quả sau niên đại năm Mậu Ngọ tức 1878. Quả chuông 1795 là hiện vật xác định tuổi chắc chắn nhất của di tích.

Ban thờ chính và các ban phối thờ

Chính điện đặt ba pho tượng Thiên Hậu xếp từ thấp lên cao, hai bên có ngọc nữ. Các ban phối thờ gồm Long Mẫu nương nương, Kim Hoa nương nương, Quan Đế, Thần Tài, cùng Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ.

Bia đá, hoành phi và liễn đối

Bia đá ghi các đợt trùng tu cùng tên người và hiệu buôn đã cúng dựng, kèm hoành phi và liễn đối chữ Hán treo dọc các gian. Đây là lớp tư liệu gốc của di tích.

Vì sao gốm Thạch Loan lại nằm trên nóc

Thạch Loan là một vùng làm gốm thuộc Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông, nổi tiếng về loại tượng gốm men nhiều màu đắp trên mái công trình. Người Quảng Đông mang lối trang trí ấy theo khi đi xa, và các hội quán của họ ở Đông Nam Á đều nhận ra được từ xa nhờ dải tượng trên nóc.

Về mặt nghề, những pho tượng nhỏ này được nặn và nung rời từng cụm rồi mới gắn lên bờ nóc, xếp thành nhiều lớp có chiều sâu như một sân khấu. Mỗi cụm là một trích đoạn quen thuộc mà người trong cộng đồng nhìn là nhận ra ngay. Nói cách khác, phần mái ở đây không chỉ che mưa mà còn làm việc của một bức tranh kể chuyện, đặt ở chỗ ai đi ngoài đường cũng thấy.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất không phải bản thân ngôi miếu mà là chỗ đặt nó trong khu phố. Hội quán không lùi vào nơi khuất nẻo mà áp mặt tiền ra một trục đường lớn giữa khu buôn bán đông nhất của người Hoa. Lựa chọn ấy có lý cả về đời lẫn về phép xem đất: hội quán phải ở chỗ người của nhóm dễ tìm tới, mà trong lối đọc cổ truyền, chợ là nơi tụ nhân, và chỗ người tụ thì khí cũng tụ theo.

Xét ngũ hành, Thiên Hậu là thần của mặt biển, thuộc hành Thủy. Khu Chợ Lớn xưa vốn là vùng kênh rạch, hàng hóa đi bằng ghe, và các hội quán mọc lên men theo các bến. Ngôi miếu này vì thế thuộc lớp công trình kề nước theo đúng nghĩa đen vào thời nó được dựng. Khi nước rút xa, cái thế lâm thủy được thay bằng thế kề dòng người qua lại, và theo lối đọc này thì công năng tụ khí vẫn còn, chỉ đổi vật liệu.

Về bố cục, trục dọc nhiều lớp với các khoảng thiên tỉnh xen giữa là một cấu trúc đáng chú ý. Đọc theo hình thể, khí từ ngoài đường vào qua tiền điện, dừng ở khoảng thiên tỉnh thứ nhất, đi tiếp qua trung điện, dừng thêm một nhịp, rồi mới lắng vào chính điện. Mỗi khoảng sân trời làm đúng vai trò một minh đường nhỏ. Sách địa lý cổ đòi minh đường phải sáng và thoáng; trong một khuôn đất hẹp và dài giữa phố, thiên tỉnh là cách duy nhất làm được điều ấy.

Cuối cùng là cái mái. Bờ nóc uốn cong hai đầu, đọc theo phong thủy thì mái thẳng cắt gió thành luồng sắc, còn mái cong đưa gió trượt đi, mà nơi thờ tự thì cần khí chậm chứ không cần khí gấp. Xin nhắc lại rằng những người dựng miếu làm việc theo truyền thống tạo hình của kiến trúc Quảng Đông chứ không theo một cuốn sách địa lý cụ thể nào; điều chúng tôi ghi chỉ là cách một con mắt phong thủy sẽ nhìn khi đứng trước công trình ấy.

Lễ Vía Bà Và Tục Treo Vòng Nhang

Lễ lớn nhất trong năm là vía Bà, rơi vào ngày hai mươi ba tháng Ba âm lịch, tức ngày mà tín ngưỡng người Hoa coi là ngày đản sinh của Thiên Hậu Thánh Mẫu. Ngoài ngày ấy, nơi này còn có một lớp sinh hoạt riêng không theo lịch, là tục treo vòng nhang, khiến miếu gần như lúc nào cũng có khói.

Các mốc lễ tính theo âm lịch. Bài không ghi giờ giấc cụ thể vì lịch nghi thức từng năm do ban quản trị hội quán định. Nguồn: Tư liệu tại di tích, khảo cứu về tín ngưỡng Thiên Hậu ở Nam Bộ và các bản tin về lễ vía Bà..
Thời điểm âm lịchViệcNội dung
23 tháng BaVía Bà Thiên HậuLễ trọng nhất trong năm, tính theo ngày đản sinh của Bà. Có lễ cúng theo lệ người Hoa với heo quay, gà và trái cây, do ban quản trị hội quán đảm nhiệm, kèm múa lân sư rồng trong sân.
Từ mùng một Tết tới rằm tháng GiêngLễ đầu nămKhoảng thời gian đông người nhất. Khách tới dâng hương, thỉnh lộc và treo vòng nhang cầu cho cả năm. Miếu treo đèn lồng đỏ kín trần.
Rằm tháng GiêngNguyên tiêuTết Nguyên tiêu của cộng đồng người Hoa Chợ Lớn, có dâng hương và các sinh hoạt chung của hội quán.
Rằm và mùng một hằng thángLễ thường kỳLệ dâng hương định kỳ theo lịch âm, quy mô gọn, giữ đều quanh năm.
Quanh nămTreo vòng nhang và thỉnh lộcKhách mua vòng nhang, ghi tên và lời khấn vào một tấm giấy đỏ buộc kèm, rồi nhờ người trông coi treo lên trần. Vòng cháy dần trong nhiều ngày, và đó là hình ảnh quen nhất của miếu này.

Tục treo vòng nhang đáng nói thêm một câu. Vòng nhang lớn cháy chậm, có loại cháy nhiều ngày, nên lời khấn buộc kèm cũng được hiểu là còn ở lại trong miếu suốt chừng ấy thời gian: người ta không chỉ khấn rồi về, mà để lại một vật đang cháy thay mình. Hàng trăm vòng treo chồng lớp tạo thành cái trần khói đặc trưng, và đó cũng là lý do hệ thiên tỉnh của công trình phải rộng như đã thấy.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 710 đường Nguyễn Trãi, phường Chợ Lớn, Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Nằm trên đường Nguyễn Trãi thuộc phường Chợ Lớn, giữa khu Chợ Lớn. Đi bộ được từ chợ Bình Tây và từ các hội quán người Hoa khác trên cùng trục đường.
Toạ độ
10.753, 106.6606
Khi tới nơi

Đây là miếu thờ đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào tượng, bao lam chạm gỗ và hai quả chuông đồng. Vòng nhang xin gửi đúng chỗ người trông coi chỉ, không tự trèo treo. Ngày vía Bà hai mươi ba tháng Ba và những ngày đầu năm, sân và các lớp nhà rất chật, lối đi thường phân một chiều.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Bà Thiên Hậu Chợ Lớn thờ ai

Thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, nữ thần coi sóc mặt biển trong tín ngưỡng dân gian người Hoa, với ba pho tượng đặt theo hàng từ thấp lên cao ở chính điện. Các ban phối thờ gồm Long Mẫu nương nương, Kim Hoa nương nương, Quan Đế, Thần Tài, cùng Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ.

Tuệ Thành Hội Quán nghĩa là gì

Tuệ Thành là cách đọc Hán Việt tên cũ của thành Quảng Châu, còn hội quán là nhà chung của một nhóm người Hoa di cư cùng gốc quê. Gộp lại, tên ấy cho biết nơi này do người Hoa gốc phủ Quảng Châu tỉnh Quảng Đông lập, để hội nhau lo việc đồng hương và cùng thờ vị thần chung.

Chùa Bà Thiên Hậu Chợ Lớn xây năm nào

Các nguồn ghi khác nhau. Mốc quen dùng là khoảng năm 1760, nhưng tấm bia dựng năm 1830 lại chép rằng hội quán mới hình thành từ hơn ba mươi năm trước đó, tức khoảng 1795 tới 1800. Hiện vật có niên đại sớm nhất còn tại chỗ là quả chuông đồng năm 1795.

Tượng gốm trên nóc chùa Bà là gốm gì

Là gốm Thạch Loan, một vùng làm gốm thuộc Phật Sơn tỉnh Quảng Đông, nổi tiếng về tượng men nhiều màu đắp trên mái. Dải tượng ở đây làm năm 1908 do hai lò Bửu Nguyên và Đồng Hòa, diễn các tích Tây du ký, Bát tiên quá hải và Tam quốc, xếp thành nhiều lớp có chiều sâu.

Chùa Bà Chợ Lớn có phải chùa Bà Bình Dương không

Không. Đây là hai di tích riêng biệt cách nhau khoảng ba mươi cây số. Ngôi ở Chợ Lớn gắn với hội quán Tuệ Thành của người Quảng Đông, lễ vía Bà vào hai mươi ba tháng Ba âm lịch. Ngôi ở Thủ Dầu Một do bốn bang người Hoa cùng quản, có lễ rước kiệu Bà ra phố vào rằm tháng Giêng.

Đọc Tiếp