Từ ngã ba đường 23 tháng 10 rẽ vào, quý vị gặp một cổng tam quan mái cong nằm lọt giữa khu dân cư, và phía sau cổng, sát vào sườn đồi, là một ngôi chánh điện lợp ngói. Ngước lên cao hơn nữa, qua tán cây, một pho tượng Phật màu trắng ngồi kiết già trên đỉnh đồi, quay mặt ra phía thành phố. Từ chỗ quý vị đứng lên tới chân pho tượng ấy là gần hai trăm bậc cấp, và giữa đường còn một pho Phật nằm dài nép dưới bóng cây.
Cách bố trí trải theo sườn núi ấy không phải ý đồ ban đầu. Ngôi chùa này vốn ở trên đỉnh núi Trại Thủy, mang tên Đằng Long Tự, và chỉ dời xuống chân núi sau một cơn bão. Cái tên Long Sơn cùng cả dáng chùa hôm nay đều là hệ quả của lần dời ấy.

ITên gọi và vị trí trong Phật giáo xứ Trầm Hương
Chùa mang ba tên cùng lúc, mỗi tên thuộc một lớp. Đằng Long Tự là tên khai sơn năm 1889 (một số tài liệu ghi 1886), khi chùa còn ở trên đỉnh núi. Long Sơn Tự là tên đặt sau khi chùa dời xuống chân núi, nghĩa là chùa núi Rồng (năm 1939 được vua Bảo Đại ban sắc phong Sắc tứ Long Sơn Tự), và đó là tên chữ dùng chính thức tới nay. Chùa Phật Trắng là tên dân gian, gọi theo pho tượng lộ thiên trên đỉnh đồi, và là tên mà người ngoài tỉnh biết nhiều hơn cả. Ba chữ Hán ghi ở đầu bài là tên chữ Long Sơn Tự chép theo âm Hán Việt của chùa, không phải chữ thư viện chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể.
Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông, tức dòng Phật giáo Đại thừa truyền qua vùng Đông Á rồi vào Việt Nam, khác với Phật Giáo Nam Tông của các nước Đông Nam Á lục địa. Dấu của Bắc Tông thấy ngay ở cách bài trí chánh điện, khi giữa án chính là tượng Phật Thích Ca thuyết pháp, hai bên có phù điêu hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, còn phía trước tôn trí tượng Phật Thích Ca, Bồ Tát Di Lặc và Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Trong giáo nghĩa Đại thừa, Bồ Tát là bậc đã đủ sức giải thoát nhưng nguyện ở lại độ chúng sinh, nên hai vị đứng hai bên đức Phật mang nghĩa của lòng thương và của sức mạnh trí tuệ đi kèm sự giác ngộ.
Danh hiệu Kim Thân Phật Tổ đặt cho pho tượng lộ thiên cũng theo lối gọi của Bắc Tông, trong đó kim thân là thân vàng, chỉ sắc thân của bậc giác ngộ trong kinh sách, chứ không nói về chất liệu pho tượng. Tượng dựng ngoài trời, không có mái che, là một lối tạo tượng khá mới ở nước ta, khác với lệ cũ đặt tượng trong chánh điện.
Về mặt tư liệu, chùa giữ một vị trí riêng trong sinh hoạt Phật giáo địa phương. Năm 1935 trước khi viên tịch, tổ khai sơn Thích Ngộ Chí di chúc hiến chùa làm trụ sở cho Hội Phật học Khánh Hòa (lập năm 1936, gắn với Hội An Nam Phật Học), và vai trò trụ sở Phật giáo tỉnh được giữ liên tục cho tới nay. Từ năm 1982 (tiếp nối truyền thống trường gia giáo trước đó) trong khuôn viên chùa có Trường Trung cấp Phật học Khánh Hòa, tức nơi này vừa là chùa vừa là chỗ đào tạo tăng ni.
Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, chùa không đứng nguyên một chỗ từ lúc khai sơn. Ngôi chùa khai sơn năm 1889 (hoặc 1886) nằm trên đỉnh núi Trại Thủy. Sau trận bão năm Canh Tý 1900 chùa sập, và chỉ khi ấy mới dời xuống chân núi, đúng nền hiện nay. Vì thế mốc cuối thế kỷ 19 là mốc của việc khai sơn, không phải mốc của các công trình quý vị đang nhìn thấy, bởi phần lớn những gì còn đứng hôm nay thuộc các đợt dựng lại năm 1940, đại trùng tu năm 1971 tới 1975 và mở mang về sau.
Thứ hai, tên chùa Phật Trắng không nói về chất liệu. Pho Kim Thân Phật Tổ được đúc bê tông cốt thép và quét màu trắng, không phải tạc từ một khối đá trắng nguyên tảng như nhiều người vẫn hình dung. Pho tượng cũng không cùng tuổi với ngôi chùa vì chùa khai sơn cuối thế kỷ 19, còn pho tượng dựng vào thập niên 1960, tức cách nhau hơn bảy mươi năm.
IITừ đỉnh núi xuống chân núi
Lịch sử của chùa chia hai chặng rõ rệt, ngăn nhau bằng một cơn bão. Chặng đầu ngắn, hơn mười năm trên đỉnh núi. Chặng sau dài hơn một thế kỷ, dưới chân núi, và toàn bộ diện mạo hôm nay thuộc chặng sau ấy.
- 1889 (hoặc 1886)Khai sơn Đằng Long TựHòa thượng Thích Ngộ Chí (1856 - 1935, thế danh Nguyễn Tâm Văn Nghi, pháp danh Phổ Trí) dựng chùa trên đỉnh núi Trại Thủy, đặt tên Đằng Long Tự. Đa số tư liệu Phật giáo và báo chí ghi năm Kỷ Sửu (1889), một số tài liệu ghi năm 1886.
- 1900Bão năm Canh Tý và việc dời chùaMột trận bão lớn làm sập ngôi chùa trên đỉnh. Chùa được dời xuống chân núi Trại Thủy, đúng nền hiện nay, và đổi tên thành Long Sơn Tự.
- 1936 - 1940Thành trụ sở Phật giáo tỉnh và nhận biển Sắc tứChùa trở thành trụ sở Hội Phật học Khánh Hòa (thuộc phong trào Hội An Nam Phật Học) năm 1936, được vua Bảo Đại ban sắc phong Sắc tứ Long Sơn Tự năm 1939 và được trùng tu năm 1940.
- 1963 tới 1965Dựng pho Kim Thân Phật TổPho tượng Phật lộ thiên trên đỉnh đồi được xây dựng, do Hòa thượng Thích Đức Minh (Thích Thiện Minh) chủ trì và nhà điêu khắc Phúc Điền Bùi Văn Thêm thực hiện. Từ năm 1971 tới 1975, Thượng tọa Thích Thiện Bình tổ chức đại trùng tu ngôi chánh điện theo thiết kế của kiến trúc sư Võ Đình Diệp.
- 1982Mở trường Phật họcMột trường Phật học bậc trung cấp được lập trong khuôn viên chùa, đưa nơi này thành chỗ đào tạo tăng ni của tỉnh bên cạnh việc thờ tự.
- 2002Đúc và cúng đại hồng chungQuả đại hồng chung cao 2,2 mét, nặng khoảng 1.500 kilôgam, do Phật tử vùng Huế cúng dâng, được đưa về treo tại tháp chuông trên đồi.
- 2003Dựng tượng Phật nhập Niết BànPho Phật nằm bằng đá hoa cương được đặt ở bậc cấp thứ 44 trên lưng dốc, phía sau có phù điêu 49 vị tỳ-kheo đệ tử.
- 2008Đặt cặp tượng nếnCặp tượng nến cao 3,4 mét, mỗi cây nặng khoảng 900 kilôgam do nghệ nhân Bùi Văn Giác tạo tác, được đặt trong khuôn viên chùa.
Có mấy chỗ nguồn ghi vênh nhau, thư viện ghi cả hai thay vì chọn bừa. Thứ nhất là năm khai sơn và niên đại pho Kim Thân Phật Tổ. Về năm khai sơn Đằng Long Tự, các bài khảo trên cổng thông tin Phật giáo và báo chí ghi năm Kỷ Sửu (1889), trong khi một số tài liệu cũ ghi năm 1886. Về pho Kim Thân Phật Tổ, một số tư liệu ghi tượng khởi công năm 1963, một số ghi khởi công năm 1964 và hoàn thành năm 1965 (thân tượng đúc tại chỗ, còn phần đầu tượng do điêu khắc gia Phúc Điền Bùi Văn Thêm tạo tác tại Chợ Lớn rồi đưa ra lắp ghép).
Thứ hai là kích thước. Về pho Kim Thân Phật Tổ, tư liệu Phật giáo ghi thân tượng cao 14 mét, đài sen dưới chân cao 7 mét và đường kính 10 mét, hai bên bậc cấp trước đài sen có cặp rồng dài 7,2 mét, còn chiều cao tính từ đế là 21 mét và tính từ mặt đất lên đỉnh tượng là 24 mét (nhiều bài phổ thông chỉ ghi gọn một con số 24 mét). Về pho Phật nằm ở bậc cấp 44, các nguồn báo chí chính thống ghi dài 17 mét và cao 5 mét, trong khi một vài bài tóm tắt ghi nhầm thành 7 mét.
IIIChánh điện dưới chân và pho tượng trên đỉnh
Khu chùa không dàn trên một mặt bằng mà trải theo sườn núi, chia thành ba cao độ. Dưới cùng, sát mặt đường, là cổng tam quan và khu chùa chính. Giữa chừng dốc là pho Phật nằm. Trên đỉnh là pho Kim Thân Phật Tổ. Nối ba cao độ ấy là một đường bậc cấp, và chính đường bậc ấy làm nên trình tự xem chùa gồm đi lên dần, mỗi chặng gặp một pho tượng lớn hơn chặng trước.
Tòa nhà thờ chính ở chân núi, tư liệu ghi diện tích khoảng 1.670 mét vuông. Giữa án chính đặt tượng Phật Thích Ca thuyết pháp bằng đồng cao 1,6 mét, nặng khoảng 700 kilôgam, hai bên có phù điêu Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, phía trước tôn trí tượng Phật Thích Ca, Bồ Tát Di Lặc và Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn.
Khoảng 193 bậc từ sân chùa lên tới chân pho tượng trên đỉnh. Bậc thứ 44 là chỗ dừng bên khu tượng Phật nằm, đi lên thêm vài bậc là tháp chuông trước khi leo tiếp lên đỉnh đồi.
Pho Phật nằm bằng đá hoa cương dài 17 mét, cao 5 mét đặt ở bậc cấp thứ 44 trên lưng dốc, đầu tựa tay phải, tay trái xuôi theo thân. Phía sau lưng tượng có dãy phù điêu tạc 49 vị tỳ-kheo đệ tử đứng chắp tay niệm Phật.
Pho tượng lộ thiên trên đỉnh đồi ở bậc thứ 193, tạc Phật ngồi kiết già thuyết pháp đặt trên đài sen, phía trước có cặp rồng dài 7,2 mét. Từ chân tượng nhìn được gần trọn thành phố và cửa biển.
Quả chuông lớn cao 2,2 mét, nặng khoảng 1.500 kilôgam, do Phật tử vùng Huế cúng dâng năm 2002, treo trong tháp chuông phía trên tượng Phật nằm. Chuông dùng trong hai thời công phu sớm chiều.
Vì sao tượng đặt ngoài trời
Lệ cũ của chùa Việt là đặt tượng trong chánh điện, có mái che, người lễ đứng trước bàn thờ. Pho tượng trên đỉnh Trại Thủy làm khác hẳn với không mái, không tường, không hương án cố định, và người lễ đi vòng quanh chân đài sen. Lối này bắt đầu phổ biến ở nước ta từ thế kỷ 20, khi kỹ thuật xây dựng cho phép dựng khối tượng lớn ngoài trời và khi chùa muốn pho tượng nhìn thấy được từ xa. Ở đây yếu tố thứ hai rất rõ vì pho tượng đặt đúng đỉnh đồi giữa lòng thành phố, nên nó đóng vai một cái mốc nhìn cho cả vùng chứ không chỉ là vật thờ trong khuôn viên chùa.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong tư liệu nhà chùa hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đáng đọc trước nhất ở đây là chuyện dời chùa, vì nó nói đúng một nguyên tắc cũ. Ngôi chùa ban đầu đặt trên đỉnh núi Trại Thủy, chỗ cao nhất, trống nhất, hứng gió bốn bề. Trong phép xem đất, thế ấy gọi là cô phong độc tú, tức một ngọn đứng trơ, đẹp mắt nhưng không giữ được khí và không che được gió. Sách xưa dặn nhà cửa và chùa chiền nên đặt ở chỗ tựa lưng vào núi chứ không đặt trên đỉnh núi, và trận bão năm Canh Tý đã nói lại điều ấy bằng một cách rất thẳng. Nền chùa hôm nay ở chân núi là nền hợp phép hơn, lưng có núi che và mặt mở ra đồng bằng.
Thứ hai là hình núi và tên chùa. Chữ Long Sơn nghĩa là núi rồng, và trong phép xem đất, dải đất chạy dài có sống nổi lên được gọi là long mạch, tức mạch rồng. Ngọn Trại Thủy nằm giữa vùng đất bằng ven biển, nổi lên như một sống lưng, nên cách gọi ấy hợp với hình thế mắt thường nhìn thấy. Đặt chùa ở chân một mạch như vậy, theo lối đọc cổ truyền, là đặt vào chỗ khí đã dừng lại chứ không còn chạy.
Thứ ba là ba cao độ. Chùa chính ở dưới, Phật nằm ở giữa dốc, Phật ngồi trên đỉnh. Đọc theo con mắt cũ thì đây là một trục đứng, và trục đứng bao giờ cũng được hiểu là đường đi lên, khi người lễ khởi từ chỗ đông người, qua một chặng tĩnh, rồi tới chỗ trống trải nhất. Cách sắp ấy giống lối bố trí của các chùa dựng trên núi ở Bắc Bộ, dù ở đây nó hình thành dần qua nhiều đợt xây chứ không do một bản vẽ ban đầu.
Cuối cùng là hướng nhìn. Pho tượng trên đỉnh quay mặt về phía thành phố và cửa biển, tức hướng có nước lớn ở xa và đất bằng ở gần. Trong phép cũ, minh đường rộng và có thủy ở xa là thế được chuộng, vì tầm nhìn không bị chắn thì khí không bị nghẽn. Thư viện ghi nhận xét ấy đúng như một cách đọc cổ truyền, và dừng ở đó.
VCác ngày lễ trong năm
Chùa theo lịch lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông, tính bằng âm lịch. Bài chỉ ghi những ngày cố định theo lịch ấy, không ghi giờ giấc, vì giờ hành lễ thay đổi theo từng năm và từng khoá tu.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 8 tháng Chạp | Lễ Phật Thành Đạo | Kỷ niệm ngày đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề, có toạ thiền và tụng kinh. |
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng Nguyên | Kỳ lễ đầu năm, đông người tới lễ và cầu an nhất trong ba ngày rằm lớn. |
| Ngày 19 tháng Hai, 19 tháng Sáu và 19 tháng Chín | Vía Bồ Tát Quán Thế Âm | Ba ngày vía trong năm, ứng với đản sinh, thành đạo và xuất gia của vị Bồ Tát được thờ bên tả chánh điện. |
| Rằm tháng Tư | Đại lễ Phật Đản | Lễ trọng nhất trong năm. Chùa là nơi đặt trụ sở Phật giáo tỉnh nên các nghi lễ chung của cả tỉnh thường cử hành tại đây. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu Lan và Tự Tứ | Kết thúc ba tháng an cư kiết hạ của chư tăng, đồng thời là lễ báo hiếu cha mẹ. |
| Ngày 17 tháng Mười Một | Vía Phật A Di Đà | Ngày vía theo lịch Bắc Tông, có tụng kinh và niệm Phật. |
Ngoài lịch lễ, chùa còn giữ hai nếp thuộc về nhà chùa hơn là thuộc về hội hè. Nếp thứ nhất là hai thời công phu sớm và chiều, mở đầu bằng tiếng đại hồng chung, và người tới chùa vào những lúc ấy thường được mời ngồi tụng cùng. Nếp thứ hai là ba tháng an cư kiết hạ từ rằm tháng Tư tới rằm tháng Bảy, quãng chư tăng ở yên một chỗ để tu học, và đây cũng là quãng sinh hoạt của trường Phật học trong khuôn viên chùa dày đặc hơn cả.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- 22 đường 23 Tháng 10, phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang cũ (nay thuộc phường Tây Nha Trang), Khánh Hòa
- Đường tới
- Chùa nằm ở số 22 đường 23 Tháng 10, dưới chân núi Trại Thủy, phường Phương Sơn, thuộc thành phố Nha Trang cũ (nay thuộc phường Tây Nha Trang), tỉnh Khánh Hòa, cách ga Nha Trang chừng vài trăm mét và cách bờ biển chừng hai cây số. Đi bộ được từ khu vực trung tâm.
- Toạ độ
- 12.2503, 109.1794
Lệ của chùa cần được giữ gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và bỏ giày dép trước khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ, không chạm vào tượng và pháp khí, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên tay tượng. Đường lên đỉnh là bậc cấp lộ thiên khá dốc, xin đi men tay vịn và nhường lối cho người xuống. Ở khu tượng trên đỉnh, người lễ đi vòng quanh chân đài sen chứ không trèo lên bệ. Trong hai thời công phu sớm chiều, xin giữ im lặng nếu chưa muốn tụng cùng.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Long Sơn
Contribute photos, information or video for Long Son PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Long Sơn thờ gì
Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông. Chánh điện thờ Phật Thích Ca bằng đồng cao 1,6 mét (nặng 700 kilôgam), hai bên có phù điêu Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, phía trước tôn trí tượng Phật Thích Ca, Bồ Tát Di Lặc và Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Ngoài trời còn hai pho tượng lớn là Kim Thân Phật Tổ ngồi kiết già trên đỉnh đồi và pho Phật nhập Niết Bàn đặt ở bậc cấp 44 trên lưng dốc.
Vì sao chùa Long Sơn còn gọi là chùa Phật Trắng
Vì pho Kim Thân Phật Tổ lộ thiên trên đỉnh đồi được quét màu trắng, nhìn thấy từ nhiều nơi trong thành phố. Tên gọi này chỉ nói về màu của pho tượng, không nói rằng tượng tạc từ đá trắng nguyên khối, và cũng không phải tên chữ của chùa.
Chùa Long Sơn xây năm nào
Khai sơn năm 1889 (một số tài liệu ghi 1886), nhưng khi ấy chùa ở trên đỉnh núi Trại Thủy và mang tên Đằng Long Tự. Sau trận bão năm Canh Tý 1900 chùa sập, được dời xuống chân núi và đổi tên thành Long Sơn Tự. Các công trình đang thấy hôm nay đều thuộc những đợt dựng lại (như năm 1940, 1971 - 1975) và mở mang về sau.
Tượng Kim Thân Phật Tổ cao bao nhiêu
Tư liệu Phật giáo ghi thân tượng cao 14 mét, đài sen dưới chân cao 7 mét và đường kính 10 mét. Chiều cao tính từ đế tượng là 21 mét và tính từ mặt đất lên đỉnh tượng là 24 mét, còn nhiều bài phổ thông chỉ ghi gọn con số 24 mét mà không nói đang đo phần nào.
Lên chùa Long Sơn phải leo bao nhiêu bậc
Khoảng 193 bậc từ sân chùa lên tới chân pho tượng trên đỉnh đồi. Bậc thứ 44 là chỗ dừng bên khu tượng Phật nhập Niết Bàn dài 17 mét và đi lên vài bậc là tháp chuông, nên nhiều người dừng ở chặng ấy rồi mới leo tiếp lên đỉnh.