Từ ngã ba đường 23 tháng 10 rẽ vào, quý vị gặp một cổng tam quan mái cong nằm lọt giữa khu dân cư, và phía sau cổng, sát vào sườn đồi, là một ngôi chánh điện lợp ngói. Ngước lên cao hơn nữa, qua tán cây, một pho tượng Phật màu trắng ngồi kiết già trên đỉnh đồi, quay mặt ra phía thành phố. Từ chỗ quý vị đứng lên tới chân pho tượng ấy là gần hai trăm bậc cấp, và giữa đường còn một pho Phật nằm dài nép dưới bóng cây.
Cách bố trí trải theo sườn núi ấy không phải ý đồ ban đầu. Ngôi chùa này vốn ở trên đỉnh núi Trại Thủy, mang tên Đằng Long Tự, và chỉ dời xuống chân núi sau một cơn bão. Cái tên Long Sơn cùng cả dáng chùa hôm nay đều là hệ quả của lần dời ấy.

壹Tên Gọi Và Vị Trí Trong Phật Giáo Xứ Trầm Hương
Chùa mang ba tên cùng lúc, mỗi tên thuộc một lớp. Đằng Long Tự là tên khai sơn năm 1886, khi chùa còn ở trên đỉnh núi. Long Sơn Tự là tên đặt sau khi chùa dời xuống chân núi, nghĩa là chùa núi Rồng, và đó là tên chữ dùng chính thức tới nay. Chùa Phật Trắng là tên dân gian, gọi theo pho tượng lộ thiên trên đỉnh đồi, và là tên mà người ngoài tỉnh biết nhiều hơn cả. Ba chữ Hán ghi ở đầu bài là tên chữ Long Sơn Tự chép theo âm Hán Việt của chùa, không phải chữ chúng tôi chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể.
Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông, tức dòng Phật giáo Đại thừa truyền qua vùng Đông Á rồi vào Việt Nam, khác với Phật Giáo Nam Tông của các nước Đông Nam Á lục địa. Dấu của Bắc Tông thấy ngay ở cách bài trí chánh điện: giữa là tượng Phật Thích Ca, hai bên là hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Trong giáo nghĩa Đại thừa, Bồ Tát là bậc đã đủ sức giải thoát nhưng nguyện ở lại độ chúng sinh, nên hai vị đứng hai bên đức Phật mang nghĩa của lòng thương và của sức mạnh trí tuệ đi kèm sự giác ngộ.
Danh hiệu Kim Thân Phật Tổ đặt cho pho tượng lộ thiên cũng theo lối gọi của Bắc Tông: kim thân là thân vàng, chỉ sắc thân của bậc giác ngộ trong kinh sách, chứ không nói về chất liệu pho tượng. Tượng dựng ngoài trời, không có mái che, là một lối tạo tượng khá mới ở nước ta, khác với lệ cũ đặt tượng trong chánh điện.
Về mặt tư liệu, chùa giữ một vị trí riêng trong sinh hoạt Phật giáo địa phương. Năm 1936 chùa được giao cho Hội An Nam Phật Học và trở thành trụ sở của tổ chức Phật giáo tại Khánh Hòa; vai trò ấy được giữ liên tục cho tới nay, và hiện chùa là nơi đặt trụ sở Ban Trị sự Phật giáo tỉnh. Từ năm 1982 trong khuôn viên chùa có một trường Phật học bậc trung cấp, tức nơi này vừa là chùa vừa là chỗ đào tạo tăng ni.
Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, chùa không đứng nguyên một chỗ từ năm 1886. Ngôi chùa khai sơn nằm trên đỉnh núi Trại Thủy. Sau trận bão năm Canh Tý 1900 chùa sập, và chỉ khi ấy mới dời xuống chân núi, đúng nền hiện nay. Vì thế mốc 1886 là mốc của việc khai sơn, không phải mốc của các công trình quý vị đang nhìn thấy; phần lớn những gì còn đứng hôm nay thuộc các đợt dựng lại và mở mang về sau.
Thứ hai, tên chùa Phật Trắng không nói về chất liệu. Pho Kim Thân Phật Tổ được đắp và quét màu trắng, không phải tạc từ một khối đá trắng nguyên tảng như nhiều người vẫn hình dung. Pho tượng cũng không cùng tuổi với ngôi chùa: chùa khai sơn cuối thế kỷ 19, còn pho tượng dựng vào thập niên 1960, tức cách nhau gần tám mươi năm.
貳Từ Đỉnh Núi Xuống Chân Núi
Lịch sử của chùa chia hai chặng rõ rệt, ngăn nhau bằng một cơn bão. Chặng đầu ngắn, mười bốn năm trên đỉnh núi. Chặng sau dài hơn một thế kỷ, dưới chân núi, và toàn bộ diện mạo hôm nay thuộc chặng sau ấy.
- 1886Khai sơn Đằng Long TựHòa thượng Thích Ngộ Chí dựng chùa trên đỉnh núi Trại Thủy, đặt tên Đằng Long Tự. Đây là mốc khai sơn được các tư liệu Phật giáo dùng thống nhất.
- 1900Bão năm Canh Tý và việc dời chùaMột trận bão lớn làm sập ngôi chùa trên đỉnh. Chùa được dời xuống chân núi Trại Thủy, đúng nền hiện nay, và đổi tên thành Long Sơn Tự.
- 1936Thành trụ sở Phật giáo tỉnhChùa được giao cho Hội An Nam Phật Học và trở thành trụ sở của tổ chức Phật giáo tại Khánh Hòa, vai trò giữ liên tục cho tới nay.
- 1963 tới 1965Dựng pho Kim Thân Phật TổPho tượng Phật lộ thiên trên đỉnh đồi được xây dựng, do Hòa thượng Thích Đức Minh chủ trì và nhà điêu khắc Bùi Văn Thêm thực hiện. Niên đại cụ thể các nguồn ghi khác nhau, nói rõ ở dưới.
- 1982Mở trường Phật họcMột trường Phật học bậc trung cấp được lập trong khuôn viên chùa, đưa nơi này thành chỗ đào tạo tăng ni của tỉnh bên cạnh việc thờ tự.
- 2002Đúc và cúng đại hồng chungQuả đại hồng chung cao 2,2 mét, nặng khoảng 1.500 kilôgam, do Phật tử vùng Huế cúng dâng, được đưa về treo tại chùa.
- 2003Dựng tượng Phật nhập Niết BànPho Phật nằm bằng đá hoa cương được đặt trên lưng dốc, phía sau có phù điêu các vị đệ tử. Kích thước pho tượng này các nguồn ghi khác nhau.
- 2008Đặt cặp tượng nếnCặp tượng nến cao 3,4 mét, mỗi cây nặng khoảng 900 kilôgam, được đặt trong khuôn viên chùa.
Có hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, chúng tôi ghi cả hai thay vì chọn bừa. Thứ nhất là niên đại pho Kim Thân Phật Tổ. Một số tư liệu ghi tượng dựng năm 1963, một số ghi khoảng 1964 tới 1965. Cách đọc hợp lý là coi 1963 là năm khởi công và 1964 tới 1965 là quãng thi công cùng hoàn thành, nhưng chưa có tài liệu nào nói dứt điểm.
Thứ hai là kích thước. Về pho Kim Thân Phật Tổ, tư liệu Phật giáo ghi thân tượng cao 14 mét, đài sen dưới chân cao 7 mét và đường kính 10 mét, còn chiều cao tính từ mặt đất lên đỉnh tượng thì nguồn ghi 21 mét, nguồn ghi 24 mét; nhiều bài phổ thông chỉ ghi gọn một con số 24 mét mà không nói đang đo phần nào. Về pho Phật nằm, có nguồn ghi dài 17 mét và cao 5 mét, có nguồn ghi dài 7 mét. Quý vị nên coi các con số này là điều cần đối chiếu thêm.
參Chánh Điện Dưới Chân Và Pho Tượng Trên Đỉnh
Khu chùa không dàn trên một mặt bằng mà trải theo sườn núi, chia thành ba cao độ. Dưới cùng, sát mặt đường, là cổng tam quan và khu chùa chính. Giữa chừng dốc là pho Phật nằm. Trên đỉnh là pho Kim Thân Phật Tổ. Nối ba cao độ ấy là một đường bậc cấp, và chính đường bậc ấy làm nên trình tự xem chùa: đi lên dần, mỗi chặng gặp một pho tượng lớn hơn chặng trước.
Toà nhà thờ chính ở chân núi, tư liệu ghi diện tích khoảng 1.670 mét vuông. Giữa đặt tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao 1,6 mét, nặng khoảng 700 kilôgam, hai bên là Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí.
Khoảng 193 bậc từ sân chùa lên tới chân pho tượng trên đỉnh. Bậc thứ 44 là chỗ rẽ vào khu tượng Phật nằm, nên nhiều người dừng ở đó trước khi leo tiếp.
Pho Phật nằm bằng đá hoa cương đặt trên lưng dốc, đầu tựa tay phải, tay trái xuôi theo thân. Phía sau lưng tượng có dãy phù điêu tạc các vị đệ tử.
Pho tượng lộ thiên trên đỉnh đồi, tạc Phật ngồi kiết già trong tư thế thiền định, đặt trên đài sen. Từ chân tượng nhìn được gần trọn thành phố và cửa biển.
Quả chuông lớn cao 2,2 mét, nặng khoảng 1.500 kilôgam, do Phật tử vùng Huế cúng dâng năm 2002. Chuông dùng trong hai thời công phu sớm chiều.
Vì Sao Tượng Đặt Ngoài Trời
Lệ cũ của chùa Việt là đặt tượng trong chánh điện, có mái che, người lễ đứng trước bàn thờ. Pho tượng trên đỉnh Trại Thủy làm khác hẳn: không mái, không tường, không hương án cố định, và người lễ đi vòng quanh chân đài sen. Lối này bắt đầu phổ biến ở nước ta từ thế kỷ 20, khi kỹ thuật xây dựng cho phép dựng khối tượng lớn ngoài trời và khi chùa muốn pho tượng nhìn thấy được từ xa. Ở đây yếu tố thứ hai rất rõ: pho tượng đặt đúng đỉnh đồi giữa lòng thành phố, nên nó đóng vai một cái mốc nhìn cho cả vùng chứ không chỉ là vật thờ trong khuôn viên chùa.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong tư liệu nhà chùa hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đáng đọc trước nhất ở đây là chuyện dời chùa, vì nó nói đúng một nguyên tắc cũ. Ngôi chùa ban đầu đặt trên đỉnh núi Trại Thủy, chỗ cao nhất, trống nhất, hứng gió bốn bề. Trong phép xem đất, thế ấy gọi là cô phong độc tú, tức một ngọn đứng trơ, đẹp mắt nhưng không giữ được khí và không che được gió. Sách xưa dặn nhà cửa và chùa chiền nên đặt ở chỗ tựa lưng vào núi chứ không đặt trên đỉnh núi, và trận bão năm Canh Tý đã nói lại điều ấy bằng một cách rất thẳng. Nền chùa hôm nay ở chân núi là nền hợp phép hơn: lưng có núi che, mặt mở ra đồng bằng.
Thứ hai là hình núi và tên chùa. Chữ Long Sơn nghĩa là núi rồng, và trong phép xem đất, dải đất chạy dài có sống nổi lên được gọi là long mạch, tức mạch rồng. Ngọn Trại Thủy nằm giữa vùng đất bằng ven biển, nổi lên như một sống lưng, nên cách gọi ấy hợp với hình thế mắt thường nhìn thấy. Đặt chùa ở chân một mạch như vậy, theo lối đọc cổ truyền, là đặt vào chỗ khí đã dừng lại chứ không còn chạy.
Thứ ba là ba cao độ. Chùa chính ở dưới, Phật nằm ở giữa dốc, Phật ngồi trên đỉnh. Đọc theo con mắt cũ thì đây là một trục đứng, và trục đứng bao giờ cũng được hiểu là đường đi lên: người lễ khởi từ chỗ đông người, qua một chặng tĩnh, rồi tới chỗ trống trải nhất. Cách sắp ấy giống lối bố trí của các chùa dựng trên núi ở Bắc Bộ, dù ở đây nó hình thành dần qua nhiều đợt xây chứ không do một bản vẽ ban đầu.
Cuối cùng là hướng nhìn. Pho tượng trên đỉnh quay mặt về phía thành phố và cửa biển, tức hướng có nước lớn ở xa và đất bằng ở gần. Trong phép cũ, minh đường rộng và có thủy ở xa là thế được chuộng, vì tầm nhìn không bị chắn thì khí không bị nghẽn. Chúng tôi ghi nhận xét ấy đúng như một cách đọc cổ truyền, và dừng ở đó.
伍Các Ngày Lễ Trong Năm
Chùa theo lịch lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông, tính bằng âm lịch. Bài chỉ ghi những ngày cố định theo lịch ấy, không ghi giờ giấc, vì giờ hành lễ thay đổi theo từng năm và từng khoá tu.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 8 tháng Chạp | Lễ Phật Thành Đạo | Kỷ niệm ngày đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề, có toạ thiền và tụng kinh. |
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng Nguyên | Kỳ lễ đầu năm, đông người tới lễ và cầu an nhất trong ba ngày rằm lớn. |
| Ngày 19 tháng Hai, 19 tháng Sáu và 19 tháng Chín | Vía Bồ Tát Quán Thế Âm | Ba ngày vía trong năm, ứng với đản sinh, thành đạo và xuất gia của vị Bồ Tát được thờ bên tả chánh điện. |
| Rằm tháng Tư | Đại lễ Phật Đản | Lễ trọng nhất trong năm. Chùa là nơi đặt trụ sở Phật giáo tỉnh nên các nghi lễ chung của cả tỉnh thường cử hành tại đây. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu Lan và Tự Tứ | Kết thúc ba tháng an cư kiết hạ của chư tăng, đồng thời là lễ báo hiếu cha mẹ. |
| Ngày 17 tháng Mười Một | Vía Phật A Di Đà | Ngày vía theo lịch Bắc Tông, có tụng kinh và niệm Phật. |
Ngoài lịch lễ, chùa còn giữ hai nếp thuộc về nhà chùa hơn là thuộc về hội hè. Nếp thứ nhất là hai thời công phu sớm và chiều, mở đầu bằng tiếng đại hồng chung, và người tới chùa vào những lúc ấy thường được mời ngồi tụng cùng. Nếp thứ hai là ba tháng an cư kiết hạ từ rằm tháng Tư tới rằm tháng Bảy, quãng chư tăng ở yên một chỗ để tu học; đây cũng là quãng sinh hoạt của trường Phật học trong khuôn viên chùa dày đặc hơn cả.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Chân núi Trại Thủy, phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang cũ, tỉnh Khánh Hòa
- Đường tới
- Chùa nằm ở chân núi Trại Thủy, phường Phương Sơn, thuộc thành phố Nha Trang cũ, tỉnh Khánh Hòa, cách ga Nha Trang chừng vài trăm mét và cách bờ biển chừng hai cây số. Đi bộ được từ khu vực trung tâm.
- Toạ độ
- 12.2503, 109.1794
Lệ của chùa cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và bỏ giày dép trước khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ, không chạm vào tượng và pháp khí, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên tay tượng. Đường lên đỉnh là bậc cấp lộ thiên khá dốc, xin đi men tay vịn và nhường lối cho người xuống. Ở khu tượng trên đỉnh, người lễ đi vòng quanh chân đài sen chứ không trèo lên bệ. Trong hai thời công phu sớm chiều, xin giữ im lặng nếu chưa muốn tụng cùng.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Long Sơn thờ gì
Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông. Chánh điện thờ Phật Thích Ca bằng đồng cao 1,6 mét, hai bên là Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Ngoài trời còn hai pho tượng lớn là Kim Thân Phật Tổ ngồi kiết già trên đỉnh đồi và pho Phật nhập Niết Bàn đặt trên lưng dốc.
Vì sao chùa Long Sơn còn gọi là chùa Phật Trắng
Vì pho Kim Thân Phật Tổ lộ thiên trên đỉnh đồi được quét màu trắng, nhìn thấy từ nhiều nơi trong thành phố. Tên gọi này chỉ nói về màu của pho tượng, không nói rằng tượng tạc từ đá trắng nguyên khối, và cũng không phải tên chữ của chùa.
Chùa Long Sơn xây năm nào
Khai sơn năm 1886, nhưng khi ấy chùa ở trên đỉnh núi Trại Thủy và mang tên Đằng Long Tự. Sau trận bão năm Canh Tý 1900 chùa sập, được dời xuống chân núi và đổi tên thành Long Sơn Tự. Các công trình đang thấy hôm nay đều thuộc những đợt dựng lại và mở mang về sau.
Tượng Kim Thân Phật Tổ cao bao nhiêu
Tư liệu Phật giáo ghi thân tượng cao 14 mét, đài sen dưới chân cao 7 mét và đường kính 10 mét. Chiều cao tính từ mặt đất lên đỉnh tượng thì nguồn ghi 21 mét, nguồn ghi 24 mét, còn nhiều bài phổ thông chỉ ghi gọn con số 24 mét mà không nói đang đo phần nào.
Lên chùa Long Sơn phải leo bao nhiêu bậc
Khoảng 193 bậc từ sân chùa lên tới chân pho tượng trên đỉnh đồi. Bậc thứ 44 là chỗ rẽ vào khu tượng Phật nhập Niết Bàn, nên nhiều người dừng ở chặng ấy rồi mới leo tiếp lên đỉnh.