VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thánh đường Mubarak

· Thánh đường Hồi giáo Mubarak, Masjid Mubarak

Thánh đường Islam của cộng đồng Chăm ở Châu Giang, khối vòm xanh trắng đứng trên bờ sông Hậu và là nơi lễ của cả một dải làng Chăm miền Tây.

Dựng lần đầu
1750
xây lại nhiều lần, lần gần nhất từ năm 1965
Kiến trúc hiện nay
1965 tới 1967
thiết kế của kiến trúc sư Mohamet Amin
Xếp hạng
Di tích quốc gia
nguồn ghi năm 1989, nguồn ghi năm 1986

Qua bến phà sang bờ bên kia sông Hậu, đi một quãng đường làng có nhà sàn gỗ dựng trên cột cao, quý vị gặp một khối nhà quét hai màu xanh và trắng đứng tách hẳn khỏi dãy nhà chung quanh. Trên nóc là một vòm lớn hai tầng hình bầu dục, bốn góc mái có bốn tháp nhỏ. Trên đỉnh vòm và ở chân vòm đều gắn hình trăng lưỡi liềm ôm một ngôi sao năm cánh.

Trong gian hành lễ không có tượng, không có tranh vẽ người, không có ban thờ và không có vật được dâng lễ. Chỉ có nền lát gạch men, mấy chùm đèn treo, và chữ Arab trích kinh Qur'an viết trên tường. Ở bức tường phía tây là một hốc tường lõm vào, gọi là mihrab. Hốc ấy chỉ về Mecca, và cả toà nhà được xoay để phục vụ đúng một việc ấy.

Masjid Mubarak Và Cộng Đồng Chăm Islam

Chữ Mubarak gốc tiếng Arab, nghĩa gần với được ban phúc. Đặt tên ấy cho một ngôi masjid là cách cộng đồng nói ra điều họ mong ở nơi này. Chữ masjid nghĩa gốc là chỗ phủ phục, tức nơi người ta cúi mình lễ nguyện; tiếng Việt quen dịch là thánh đường, nhưng cần nhớ đây không phải chùa, không phải đền và không phải nhà thờ Công Giáo.

Xin nói rõ ngay từ đầu, vì chỗ này hay bị xếp nhầm: nơi đây là thánh đường của Hồi Giáo Islam chính thống, thuộc cộng đồng Chăm Islam ở miền Tây Nam Bộ, theo môn phái Shafi'i, cùng môn phái với phần lớn tín đồ Islam ở Malaysia, Indonesia và Thái Lan.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Islam, nền tảng là tawhid, tức niềm tin vào một Đấng duy nhất, không hình tướng và không thể vẽ ra. Vì vậy trong thánh đường không đặt tượng, không treo tranh người hay vật, không có bát hương và không có lễ vật dâng cúng; trang trí chỉ gồm thư pháp Arab và hoa văn hình học.

Bổn phận của tín đồ gồm năm cột trụ: tuyên xưng đức tin, lễ nguyện năm lần mỗi ngày, nhịn chay trọn tháng Ramadan, bố thí, và hành hương Mecca nếu đủ sức. Người dẫn lễ gọi là imam, nhưng imam không phải chức sắc thụ phong theo lối tu sĩ; đó là người đủ hiểu biết để đứng trước dẫn cả hàng cùng lễ. Ở các làng Chăm miền Tây, việc đạo trong một thánh đường do một lớp chức sắc trông coi, gồm Hakim đứng đầu, Imam, KhatibBilal.

Theo sử liệu

Ở nước ta, chữ Hồi Giáo được dùng chung cho hai dòng có thực tiễn khác nhau đến mức không thể mô tả gộp. Thư viện đã có trang riêng về thánh đường Bàni Văn Lâm, nên ở đây chỉ ghi lại chỗ khác nhau cho quý vị đối chiếu.

Islam chính thống, dòng mà thánh đường Mubarak thuộc về, giao năm cột trụ cho từng tín đồ. Thánh đường mở quanh năm cho năm lần lễ nguyện mỗi ngày, lễ thứ Sáu là buổi tập trung của cả cộng đồng, cả cộng đồng cùng nhịn chay trọn tháng Ramadan, và việc hành hương Mecca là điều được trông đợi khi có đủ điều kiện. Ở Việt Nam, dòng này là của cộng đồng Chăm Islam vùng Châu Đốc và Tân Châu cũ, của người Chăm ở Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh, cùng cộng đồng người Malay.

Hồi Giáo Bàni của người Chăm ở vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ là một dòng hình thành tại chỗ, đã hoà với tín ngưỡng bản địa, với phong tục Chăm và với lớp Bàlamôn có trước. Theo các nghiên cứu, Bàni giao năm cột trụ cho lớp chức sắc, quen gọi gọn là các vị Acar, đảm nhận thay cả cộng đồng. Tháng Ramưwan của Bàni tính theo lịch Chăm, mở đầu bằng tảo mộ và mời tổ tiên về nhà, và là mùa tu của các Acar chứ không phải tháng cả cộng đồng nhịn chay. Thánh đường Bàni mở theo dịp lễ, không dùng cho lễ nguyện hằng ngày.

Hai dòng cùng nhận một gốc và cùng mang tên Hồi Giáo, nhưng đã đi thành hai lối từ nhiều thế kỷ. Thư viện ghi lại chỗ khác nhau ấy như ghi một dữ kiện, không xếp bên nào đúng hơn bên nào.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.

Thứ nhất, gọi đây là chùa là gọi sai. Trong tư liệu du lịch và trong lời chỉ đường của người ngoài cộng đồng, thánh đường đôi khi bị gọi là chùa Chăm. Chữ chùa chỉ cơ sở thờ tự của Phật Giáo, có tượng Phật và có tăng ni; ở đây không có tượng, không có sư và không có ban thờ.

Thứ hai, người Chăm ở Châu Giang không theo Bàni. Cách nói gộp người Chăm theo đạo Hồi thì đúng về gốc nhưng che mất chỗ khác nhau đáng kể giữa hai dòng đã nêu ở trên.

Bốn Lần Dựng Trên Một Chỗ Đất

Lịch sử của thánh đường này là lịch sử của một chỗ đất được dựng lại bốn lần bằng bốn lối vật liệu khác nhau, từ nhà nhẹ sang nhà tường vôi cột gỗ, rồi sang bê tông cốt sắt. Điều còn lại suốt các lần ấy không phải cái nhà mà là chỗ đứng và hướng của nó.

  • 1750Dựng thánh đường đầu tiên
    Các tư liệu về di tích đều lấy năm này làm mốc khởi dựng. Công trình khi ấy làm bằng vật liệu nhẹ, không còn dấu vết hiện vật.
  • 1808Cải tạo lần thứ nhất
    Lần sửa được ghi trong tư liệu di tích, vẫn theo lối nhà nhẹ của vùng sông nước.
  • Khoảng 1840 tới 1858Các đợt người Chăm về dọc sông Hậu
    Theo các nghiên cứu về cộng đồng Chăm ở An Giang, đây là giai đoạn hình thành dày nhất của các làng Chăm bên sông Hậu, trong đó có Châu Giang.
  • 1922Xây lại bằng tường vôi và cột gỗ
    Công trình được dựng lại với tường vôi, hệ cột gỗ và mái lợp ngói, lần đầu mang hình dáng một công trình kiên cố.
  • 1965 tới 1967Xây mới bằng bê tông cốt sắt
    Ngôi thánh đường hiện nay được xây mới hoàn toàn theo thiết kế của kiến trúc sư Mohamet Amin, người Ấn Độ. Vòm chính hai tầng, bốn tháp góc và gam màu xanh trắng đều định hình từ lần này.
  • 1989Xếp hạng di tích quốc gia
    Thánh đường được xếp hạng di tích cấp quốc gia. Các nguồn ghi năm và loại hình khác nhau, chi tiết nêu ngay dưới đây.
Theo sử liệu

Có hai chỗ nguồn vênh nhau, xin nói rõ thay vì chọn bừa.

Về năm và loại hình xếp hạng. Một bản tin của Đài Tiếng nói Việt Nam ghi thánh đường được công nhận Di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1989; một bản tin khác của cùng đài lại ghi Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1986. Chúng tôi chưa tra được bản quyết định gốc nên ghi cả hai. Các nguồn thống nhất ở một điểm: Mubarak là ngôi thánh đường duy nhất của An Giang được xếp hạng di tích quốc gia, trong khi toàn tỉnh có mười hai thánh đường và mười lăm hoặc mười sáu tiểu thánh đường.

Về khoảng cách giữa mốc 1750 và các đợt chuyển cư thế kỷ 19. Tư liệu di tích đặt năm khởi dựng vào 1750, trong khi các nghiên cứu về cộng đồng Chăm Islam An Giang đặt các đợt về định cư đông nhất vào khoảng 1840 tới 1858, tức muộn hơn gần một trăm năm. Hai mốc ấy chưa được tài liệu nào nối lại với nhau, nên chúng tôi ghi cả hai và nói rõ chỗ hở.

Vòm Chính, Bốn Tháp Góc Và Mihrab

Công trình mang lối Islam Nam Á pha vào khuôn khổ của một làng sông nước miền Tây: khối nhà vuông vức, tường quét hai màu xanh và trắng, cửa và cửa sổ vòm nhọn, không một bức nào vẽ người hay vật. Khuôn viên được ghi khoảng năm trăm mét vuông. Bố cục rất gọn, vì một thánh đường chỉ cần đủ ba thứ: chỗ tẩy trần, chỗ tập hợp cả hàng cùng lễ, và một dấu chỉ hướng.

Vòm chính

Khối vòm lớn hai tầng hình bầu dục đặt giữa nóc, là chi tiết khiến người ta nhận ra thánh đường từ xa. Trên đỉnh vòm và ở chân vòm đều gắn hình trăng lưỡi liềm ôm ngôi sao năm cánh.

Bốn tháp góc

Bốn tháp nhỏ ở bốn góc mái, làm thành bộ khung vây quanh vòm chính. Theo truyền thống kiến trúc Islam, khối tháp vươn cao gọi là minaret, là chỗ xướng lời gọi lễ cho cả khu dân cư nghe.

Cổng vòm phía trước

Cổng mở theo một đường cong rộng, hình dáng được người trong làng ví với hai đầu voi chụm ngà. Đây là nét trang trí riêng của công trình.

Mihrab

Hốc tường lõm ở bức tường hướng về Mecca, theo tư liệu là hướng tây, đặt đúng trục của gian hành lễ. Mihrab không phải ban thờ và không có vật thờ; nó chỉ chỉ hướng qibla.

Mimbar

Bục giảng có bậc, đặt cạnh mihrab, dùng cho bài thuyết giảng trong lễ thứ Sáu. Đây là chỗ duy nhất cao hơn mặt bằng chung, và nó cao vì công dụng chứ không vì phẩm vị.

Chỗ tẩy trần

Khu nước ở lối vào, dùng cho phép rửa trước khi lễ, tiếng Arab gọi là wudu: rửa tay, súc miệng, rửa mặt, rửa cánh tay, xoa đầu rồi rửa chân theo thứ tự. Không làm phép này thì không vào hàng lễ.

Trong khuôn viên còn hai bộ phận mà người đi xem kiến trúc hay bỏ qua: chỗ giữ và dạy kinh Qur'an cho trẻ em trong làng, và khu mộ của người trong cộng đồng nằm ngay cạnh thánh đường. Masjid ở đây vì thế không chỉ là chỗ lễ mà là chỗ cộng đồng thu xếp cả việc học và việc tang.

Một điều dễ nhận ra với người quen đi đình chùa: ở đây không có trục dọc nhiều lớp. Đình chùa Việt dẫn người ta qua tam quan, sân, tiền đường rồi mới tới hậu cung, mỗi bước một lớp kín hơn. Thánh đường thì mở: qua sân, rửa nước, vào một gian rộng duy nhất, và trong gian ấy mọi người đứng thành hàng ngang bằng vai nhau.

Thế Đất Và Hướng

Phần này cần rào trước cho rõ. Islam không dạy phong thủy. Hướng của một thánh đường được định bằng một quy tắc duy nhất và tuyệt đối: hướng qibla, tức hướng về Ngôi Đền Kaaba ở Mecca, tính theo đường ngắn nhất trên mặt cầu Trái Đất. Từ dải đất bên sông Hậu, hướng ấy rơi về phía tây chếch lên bắc, và tư liệu về di tích ghi mihrab của thánh đường này hướng tây. Không có la bàn phong thủy, không có tuổi người lập, không có cung mệnh nào tham gia vào việc chọn hướng ấy.

Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy, không phải điều chép trong tư liệu của thánh đường.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất là chính cái nguyên tắc một hướng. Phong thủy cổ truyền định hướng nhà theo thế đất, theo dòng nước, theo tuổi người ở, nên mỗi công trình một hướng khác nhau. Islam làm ngược lại: mọi thánh đường trên khắp mặt đất đều quay về cùng một điểm, nên hướng của công trình không phụ thuộc vào mảnh đất nó đứng. Đọc bằng con mắt cũ thì đây là một hệ lấy tâm ngoài, điểm quy chiếu nằm ngoài khu đất và cách xa hàng nghìn dặm. Phép cổ truyền không có khái niệm nào tương đương, và chúng tôi nêu ra để quý vị thấy rõ giới hạn của việc đối chiếu.

Về thế đất, thánh đường nằm trên dải đất bồi bên bờ sông Hậu, đất phẳng, không một đột cao nào để làm chỗ tựa. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi: dòng chảy dẫn khí, còn ao hồ và bến nước tụ khí. Một con sông lớn chảy sát bên, theo lối đọc cũ, là thế thủy vượng; cái được là khí đến dồi dào, cái phải xử lý là khí dễ bị cuốn đi theo dòng. Khối nhà xây kín, vuông vức, có khoảng sân chắn ở trước làm một minh đường nhỏ, tuy không cố ý mà lại hợp với cách lối cũ giải bài toán ấy.

Về hình thể, con mắt cũ đọc khối vòm bầu dục giữa nóc là dáng cong tròn, thuộc Kim trong ngũ hành hình thể, còn bốn tháp nhỏ ở bốn góc là bốn nét đứng, thuộc Mộc. Một khối Kim ở giữa được bốn nét Mộc vây bốn góc thì gần với thứ mà sách cũ gọi là tứ trụ chầu tâm. Xin nhắc lại rằng vòm và tháp là quy ước lâu đời của kiến trúc Islam, có trước và độc lập với mọi cách đọc này.

Cuối cùng là hướng tây theo con mắt cổ truyền. Trong phép cũ, phương Tây thuộc hành Kim, ứng với mùa thu và với sự thu liễm; nhà ở nước ta ít khi chuộng hướng ấy vì nắng chiều gắt. Ở đây hướng tây được chọn không vì khí hậu, không vì thế đất, mà vì Mecca nằm về phía đó và gian hành lễ phải xoay theo. Đó là một ví dụ rõ về việc một nguyên tắc tôn giáo đứng trên mọi tính toán về đất.

Lễ Trong Ngày, Trong Tuần Và Trong Năm

Nhịp của thánh đường chia làm ba lớp: lễ nguyện năm lần mỗi ngày, lễ tập thể ngày thứ Sáu, và các kỳ lễ trong năm tính theo lịch Hijri, tức lịch mặt trăng của Islam. Lịch này ngắn hơn năm dương lịch chừng mười một ngày, nên các kỳ lễ dịch dần qua các mùa chứ không đứng yên như hội hè theo âm lịch của người Việt. Vì vậy tháng Ramadan của làng Chăm bên sông Hậu có năm rơi vào giữa mùa khô, có năm rơi vào mùa nước nổi.

Các mốc tính theo lịch Hijri, không theo âm lịch Việt Nam, nên mỗi năm rơi vào một khoảng dương lịch khác nhau. Nguồn: Tư liệu về sinh hoạt của cộng đồng Chăm Islam ở An Giang và các bản tin về thánh đường Mubarak..
Thời điểm theo lịch HijriLễNội dung
Mỗi ngàyNăm lần lễ nguyệnNăm buổi chia theo vị trí mặt trời trong ngày. Trước mỗi buổi phải làm phép tẩy trần bằng nước.
Thứ Sáu hằng tuầnLễ Jumu'ahBuổi lễ trọng nhất trong tuần, có bài thuyết giảng đọc từ mimbar rồi cả hàng cùng lễ. Đây cũng là dịp cả cộng đồng trong làng gặp nhau.
Ngày 12 tháng Rabi al AwwalLễ MaulidLễ kỷ niệm ngày sinh của Nhà tiên tri Muhammad, được tư liệu về cộng đồng Chăm An Giang xếp vào ba kỳ lễ lớn nhất trong năm.
Trọn tháng RamadanTháng nhịn chayTháng thứ chín của lịch Hijri. Tín đồ nhịn ăn uống từ rạng đông tới khi mặt trời lặn, buổi tối tụ về thánh đường dùng bữa xả chay và lễ nguyện thêm.
Mùng 1 tháng ShawwalRoya Idil FitriLễ mừng kết thúc tháng nhịn chay, tên quốc tế là Eid al Fitr. Cả cộng đồng tới thánh đường lễ nguyện rồi thăm hỏi nhau và thăm mộ người thân.
Mùng 10 tháng Dhul HijjahRoya HajiLễ hiến sinh, tên quốc tế là Eid al Adha, trùng dịp hành hương Mecca. Có nghi thức xẻ thịt gia súc chia cho người trong cộng đồng và người thiếu thốn.

Ngoài phần lễ, thánh đường giữ hai việc thuộc nếp chung của một masjid: dạy kinh cho con em trong làng, và phần bố thí gồm khoản bắt buộc hằng năm gọi là zakat cùng khoản tự nguyện gọi là sadaqah.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Ấp Châu Giang, xã Châu Phong, An Giang
Đường tới
Thánh đường nằm ở ấp Châu Giang, xã Châu Phong, tỉnh An Giang, thuộc địa bàn thị xã Tân Châu cũ, bên bờ sông Hậu đối diện khu vực Châu Đốc. Phần lớn khách qua sông bằng phà rồi đi tiếp một quãng đường làng.
Toạ độ
10.7211, 105.1439
Khi tới nơi

Đây là nơi hành lễ đang hoạt động, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Bỏ giày trước khi vào gian lễ. Ăn mặc kín: nam quần dài áo có tay, nữ trùm khăn và kín tay chân. Khu hành lễ chính dành cho nam giới. Không đi cắt ngang trước mặt người đang lễ nguyện, không nói to, không chụp ảnh người đang hành lễ. Lễ thứ Sáu là lúc đông nhất; khách tới xem kiến trúc xin đợi lễ xong.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

thánh đường mubarak an giang xây năm nào

Tư liệu di tích lấy năm 1750 làm mốc khởi dựng, cải tạo năm 1808, xây lại bằng tường vôi cột gỗ năm 1922, rồi xây mới hoàn toàn bằng bê tông cốt sắt trong khoảng 1965 tới 1967 theo thiết kế của kiến trúc sư Mohamet Amin người Ấn Độ. Ngôi thánh đường hôm nay là công trình của lần xây cuối ấy.

thánh đường mubarak bên trong có tượng không

Không có tượng, không có tranh vẽ người hay vật, không có ban thờ và không có lễ vật dâng cúng, vì theo giáo nghĩa Islam thì Đấng duy nhất không có hình tướng. Trong gian hành lễ chỉ có thư pháp Arab trích kinh Qur'an, một hốc mihrab chỉ hướng Mecca và một bục giảng mimbar bên cạnh.

người chăm ở châu giang an giang theo đạo gì

Theo Hồi Giáo Islam chính thống, môn phái Shafi'i, cùng môn phái với phần lớn tín đồ Islam ở Malaysia và Indonesia. Đây là cộng đồng Chăm Islam miền Tây Nam Bộ, khác với người Chăm theo Hồi Giáo Bàni ở vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ.

hồi giáo bàni khác islam chính thống ở chỗ nào

Islam chính thống giao năm cột trụ cho từng tín đồ: lễ nguyện năm lần mỗi ngày, nhịn chay trọn tháng Ramadan, bố thí và hành hương Mecca. Bàni giao các cột trụ ấy cho lớp chức sắc Acar đảm nhận thay cộng đồng; tháng Ramưwan tính theo lịch Chăm và mở đầu bằng tảo mộ mời tổ tiên.

người ngoài đạo vào thánh đường mubarak được không

Được, nếu giữ đúng lệ của nơi ấy: bỏ giày, ăn mặc kín, nữ trùm khăn và kín tay chân, không đi cắt ngang trước mặt người đang lễ nguyện, không chụp ảnh người đang hành lễ. Khu hành lễ chính dành cho nam giới. Ngày thứ Sáu là buổi đông nhất.

Đọc Tiếp