VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thánh đường Mubarak

Thánh đường Hồi giáo Mubarak, Masjid Mubarak

Thánh đường Islam của cộng đồng Chăm ở Châu Giang, khối vòm xanh trắng đứng trên bờ sông Hậu và là nơi lễ của cả một dải làng Chăm miền Tây.

Dựng lần đầu
1750
xây lại nhiều lần, lần gần nhất vào năm 1965
Kiến trúc hiện nay
1965
thiết kế của kiến trúc sư Mohamet Amin
Xếp hạng
Di tích quốc gia
nguồn ghi ngày 5 tháng 12 năm 1989, nguồn ghi năm 1986

Qua bến phà sang bờ bên kia sông Hậu, đi một quãng đường làng có nhà sàn gỗ dựng trên cột cao, quý vị gặp một khối nhà quét hai màu xanh và trắng đứng tách hẳn khỏi dãy nhà chung quanh. Trên nóc là một vòm lớn hai tầng hình bầu dục, bốn góc mái có bốn tháp nhỏ, giữa nóc có thêm hai tháp bầu tròn nhô cao. Trên đỉnh vòm và ở chân vòm đều gắn hình trăng lưỡi liềm ôm một ngôi sao năm cánh.

Trong gian hành lễ không có tượng, không có tranh vẽ người, không có ban thờ và không có vật được dâng lễ. Chỉ có nền lát gạch men, tám cây cột lớn đặt cân đối, mấy chùm đèn treo, và những dòng chữ trích kinh Qur'an viết trên tường (nguồn báo chí gọi là chữ của người Chăm trích từ kinh Qur'an). Ở bức tường phía tây là một hốc tường lõm vào, gọi là mihrab. Hốc ấy chỉ về Mecca, và cả toà nhà được xoay để phục vụ đúng một việc ấy.

Thánh đường Mubarak
Thánh đường Mubarak. Ảnh: trungydang, giấy phép CC BY 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IMasjid Mubarak và cộng đồng Chăm Islam

Chữ Mubarak gốc tiếng Arab, nghĩa gần với được ban phúc. Đặt tên ấy cho một ngôi masjid là cách cộng đồng nói ra điều họ mong ở nơi này. Chữ masjid nghĩa gốc là chỗ phủ phục, tức nơi người ta cúi mình lễ nguyện. Tiếng Việt quen dịch là thánh đường, nhưng cần nhớ đây không phải chùa, không phải đền và không phải nhà thờ Công Giáo.

Xin nói rõ ngay từ đầu, vì chỗ này hay bị xếp nhầm. Nơi đây là thánh đường của Hồi Giáo Islam chính thống, thuộc cộng đồng Chăm Islam ở miền Tây Nam Bộ, theo môn phái Shafi'i, cùng môn phái với phần lớn tín đồ Islam ở Malaysia, Indonesia và Thái Lan.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Islam, nền tảng là tawhid, tức niềm tin vào một Đấng duy nhất, không hình tướng và không thể vẽ ra. Vì vậy trong thánh đường không đặt tượng, không treo tranh người hay vật, không có bát hương và không có lễ vật dâng cúng. Trang trí chỉ gồm thư pháp trích kinh Qur'an và hoa văn hình học hoặc hoa lá cách điệu.

Bổn phận của tín đồ gồm năm cột trụ là tuyên xưng đức tin, lễ nguyện năm lần mỗi ngày, nhịn chay trọn tháng Ramadan, bố thí, và hành hương Mecca nếu đủ sức. Người dẫn lễ gọi là imam, nhưng imam không phải chức sắc thụ phong theo lối tu sĩ mà là người đủ hiểu biết để đứng trước dẫn cả hàng cùng lễ. Ở các làng Chăm miền Tây, việc đạo trong một thánh đường do một lớp chức sắc trông coi, gồm Hakim đứng đầu, Imam, Khatib và Bilal.

Theo sử liệu

Ở nước ta, chữ Hồi Giáo được dùng chung cho hai dòng có thực tiễn khác nhau đến mức không thể mô tả gộp. Thư viện đã có trang riêng về thánh đường Bàni Văn Lâm, nên ở đây chỉ ghi lại chỗ khác nhau cho quý vị đối chiếu.

Islam chính thống, dòng mà thánh đường Mubarak thuộc về, giao năm cột trụ cho từng tín đồ. Thánh đường mở quanh năm cho năm lần lễ nguyện mỗi ngày, lễ thứ Sáu là buổi tập trung của cả cộng đồng, cả cộng đồng cùng nhịn chay trọn tháng Ramadan, và việc hành hương Mecca là điều được trông đợi khi có đủ điều kiện. Ở Việt Nam, dòng này là của cộng đồng Chăm Islam vùng Châu Đốc và Tân Châu cũ, của người Chăm ở Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh, cùng cộng đồng người Malay.

Hồi Giáo Bàni của người Chăm ở vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ là một dòng hình thành tại chỗ, đã hoà với tín ngưỡng bản địa, với phong tục Chăm và với lớp Bàlamôn có trước. Theo các nghiên cứu, Bàni giao năm cột trụ cho lớp chức sắc, quen gọi gọn là các vị Acar, đảm nhận thay cả cộng đồng. Tháng Ramưwan của Bàni tính theo lịch Chăm, mở đầu bằng tảo mộ và mời tổ tiên về nhà, và là mùa tu của các Acar chứ không phải tháng cả cộng đồng nhịn chay. Thánh đường Bàni mở theo dịp lễ, không dùng cho lễ nguyện hằng ngày.

Hai dòng cùng nhận một gốc và cùng mang tên Hồi Giáo, nhưng đã đi thành hai lối từ nhiều thế kỷ. Thư viện ghi lại chỗ khác nhau ấy như ghi một dữ kiện, không xếp bên nào đúng hơn bên nào.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.

Thứ nhất, gọi đây là chùa là gọi sai. Trong tư liệu du lịch và trong lời chỉ đường của người ngoài cộng đồng, thánh đường đôi khi bị gọi là chùa Chăm. Chữ chùa chỉ cơ sở thờ tự của Phật Giáo, có tượng Phật và có tăng ni. Ở đây không có tượng, không có sư và không có ban thờ.

Thứ hai, người Chăm ở Châu Giang không theo Bàni. Cách nói gộp người Chăm theo đạo Hồi thì đúng về gốc nhưng che mất chỗ khác nhau đáng kể giữa hai dòng đã nêu ở trên.

IIBốn lần dựng trên một chỗ đất

Lịch sử của thánh đường này là lịch sử của một chỗ đất được dựng lại bốn lần bằng bốn lối vật liệu khác nhau, từ nhà nhẹ sang nhà tường vôi cột gỗ, rồi sang bê tông cốt sắt. Điều còn lại suốt các lần ấy không phải cái nhà mà là chỗ đứng và hướng của nó.

  • 1750Dựng thánh đường đầu tiên
    Các tư liệu về di tích đều lấy năm này làm mốc khởi dựng. Công trình khi ấy làm bằng cây lá và vật liệu nhẹ, không còn dấu vết hiện vật.
  • 1808Cải tạo lần thứ nhất
    Lần sửa được ghi trong tư liệu di tích, vẫn theo lối nhà nhẹ của vùng sông nước.
  • Khoảng 1840 tới 1858Các đợt người Chăm về dọc sông Hậu
    Theo các nghiên cứu về cộng đồng Chăm ở An Giang, đây là giai đoạn hình thành dày nhất của các làng Chăm bên sông Hậu, trong đó có Châu Giang.
  • 1922Xây lại bằng tường vôi và cột gỗ
    Công trình được dựng lại với tường vôi, hệ cột cây tròn và mái lợp ngói, lần đầu mang hình dáng một công trình kiên cố.
  • 1965Xây mới bằng bê tông cốt sắt
    Ngôi thánh đường hiện nay được xây mới hoàn toàn theo thiết kế của kiến trúc sư người Ấn Độ Mohamet Amin (báo Tin tức và Dân tộc ghi là Mohamed Amin). Vòm chính hai tầng, bốn tháp góc và gam màu xanh trắng đều định hình từ lần này.
  • 1986 hoặc 1989Xếp hạng di tích quốc gia
    Thánh đường được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích cấp quốc gia. Các nguồn ghi năm và loại hình khác nhau, chi tiết nêu ngay dưới đây.
Theo sử liệu

Có hai chỗ nguồn vênh nhau, xin nói rõ thay vì chọn bừa.

Về năm và loại hình xếp hạng. Bản tin của VOV World ghi thánh đường được công nhận Di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1989, còn Báo ảnh Dân tộc và Miền núi (Thông tấn xã Việt Nam) ghi cụ thể vào ngày 5 tháng 12 năm 1989 Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận công trình là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia (ở đoạn mở đầu cùng bài báo lại gọi là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1989). Trong khi đó, một bản tin trên kênh VOV4 lại ghi Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1986. Thư viện chưa tra được bản chụp quyết định gốc nên ghi đầy đủ các nguồn. Các nguồn thống nhất ở một điểm là Mubarak là ngôi thánh đường duy nhất của An Giang được xếp hạng di tích quốc gia, trong khi toàn tỉnh có mười hai thánh đường và mười lăm hoặc mười sáu tiểu thánh đường.

Về khoảng cách giữa mốc 1750 và các đợt chuyển cư thế kỷ 19. Tư liệu di tích đặt năm khởi dựng vào 1750, trong khi các nghiên cứu về cộng đồng Chăm Islam An Giang đặt các đợt về định cư đông nhất vào khoảng 1840 tới 1858, tức muộn hơn gần một trăm năm. Hai mốc ấy chưa được tài liệu nào nối lại với nhau, nên thư viện ghi cả hai và nói rõ chỗ hở.

IIIVòm chính, bốn tháp góc và mihrab

Công trình mang lối Islam Nam Á và Ba Tư pha vào khuôn khổ của một làng sông nước miền Tây, với khối nhà vuông vức, tường quét hai màu xanh và trắng, cửa và cửa sổ vòm nhọn, không một bức nào vẽ người hay vật. Khuôn viên được VOV4 ghi nhận rộng khoảng năm trăm mét vuông. Bố cục rất gọn, vì một thánh đường chỉ cần đủ ba thứ là chỗ tẩy trần, chỗ tập hợp cả hàng cùng lễ, và một dấu chỉ hướng.

Vòm chính và nóc mái

Khối tháp lớn hai tầng hình bầu dục đặt giữa mặt tiền nóc, cùng hai tháp bầu tròn nhô cao ở giữa nóc, là chi tiết khiến người ta nhận ra thánh đường từ xa. Trên đỉnh tháp và ở chân tháp đều gắn hình trăng lưỡi liềm ôm ngôi sao năm cánh. Theo Phó giáo cả Go Sa Ly chia sẻ trên VOV4, ngôi sao năm cánh tượng trưng cho năm giáo điều của giáo luật Islam, còn trăng lưỡi liềm tượng trưng cho Thiên sứ Muhammad.

Bốn tháp góc

Bốn tháp nhỏ ở bốn góc mái, làm thành bộ khung vây quanh vòm chính. Theo truyền thống kiến trúc Islam, khối tháp vươn cao gọi là minaret, là chỗ xướng lời gọi lễ cho cả khu dân cư nghe.

Cổng vòm và hệ vòm nhọn

Cổng chính mở theo đường cong rộng, được người trong làng ví với hai đầu voi chụm ngà. Từ cửa chính của tòa nhà trở ra hai bên, mỗi bên có hai vòm cung nhọn đầu cách nhau khoảng 2,4 mét, còn dọc hai bên hông trái và phải mỗi bên có sáu vòm cung nhọn đầu.

Mihrab và gian hành lễ

Gian hành lễ bên trong rộng rãi với tám cây cột lớn đặt cân đối. Ở bức tường hướng về Mecca, theo tư liệu là hướng tây, có hốc tường lõm đặt đúng trục gọi là mihrab. Mihrab không phải ban thờ và không có vật thờ, nó chỉ làm nhiệm vụ chỉ hướng qibla.

Mimbar

Bục giảng có bậc, đặt cạnh mihrab, dùng cho bài thuyết giảng trong lễ thứ Sáu. Đây là chỗ duy nhất cao hơn mặt bằng chung, và nó cao vì công dụng chứ không vì phẩm vị.

Chỗ tẩy trần

Hệ thống vòi nước bố trí quanh khuôn viên và lối vào, dùng cho phép rửa trước khi lễ mà tiếng Arab gọi là wudu, gồm rửa tay, súc miệng, rửa mặt, rửa cánh tay, xoa đầu rồi rửa chân theo thứ tự. Không làm phép này thì không vào hàng lễ.

Trong khuôn viên còn hai bộ phận mà người đi xem kiến trúc hay bỏ qua là chỗ giữ và dạy kinh Qur'an cho trẻ em trong làng, và khu mộ của người trong cộng đồng nằm tiếp giáp hành lang phía sau thánh đường. Theo ghi nhận của Thông tấn xã Việt Nam, khu mộ này được mai táng nhiều tầng, mỗi phần mộ chỉ đặt một tấm mộ chí giản dị, không phân biệt sang hèn qua kích thước ngôi mộ. Masjid ở đây vì thế không chỉ là chỗ lễ mà là chỗ cộng đồng thu xếp cả việc học và việc tang.

Một điều dễ nhận ra với người quen đi đình chùa là ở đây không có trục dọc nhiều lớp. Đình chùa Việt dẫn người ta qua tam quan, sân, tiền đường rồi mới tới hậu cung, mỗi bước một lớp kín hơn. Thánh đường thì mở, đi qua sân và rửa nước là bước vào một gian rộng duy nhất, và trong gian ấy mọi người đứng thành hàng ngang bằng vai nhau.

IVThế đất và hướng

Phần này cần rào trước cho rõ. Islam không dạy phong thủy. Hướng của một thánh đường được định bằng một quy tắc duy nhất và tuyệt đối là hướng qibla, tức hướng về Ngôi Đền Kaaba ở Mecca, tính theo đường ngắn nhất trên mặt cầu Trái Đất. Từ dải đất bên sông Hậu, hướng ấy rơi về phía tây chếch lên bắc, và tư liệu về di tích ghi mihrab của thánh đường này hướng tây. Không có la bàn phong thủy, không có tuổi người lập, không có cung mệnh nào tham gia vào việc chọn hướng ấy.

Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy, không phải điều chép trong tư liệu của thánh đường.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất là chính cái nguyên tắc một hướng. Phong thủy cổ truyền định hướng nhà theo thế đất, theo dòng nước, theo tuổi người ở, nên mỗi công trình một hướng khác nhau. Islam làm ngược lại vì mọi thánh đường trên khắp mặt đất đều quay về cùng một điểm, nên hướng của công trình không phụ thuộc vào mảnh đất nó đứng. Đọc bằng con mắt cũ thì đây là một hệ lấy tâm ngoài, điểm quy chiếu nằm ngoài khu đất và cách xa hàng nghìn dặm. Phép cổ truyền không có khái niệm nào tương đương, và thư viện nêu ra để quý vị thấy rõ giới hạn của việc đối chiếu.

Về thế đất, thánh đường nằm trên dải đất bồi bên bờ sông Hậu, đất phẳng, không một đột cao nào để làm chỗ tựa. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi, dòng chảy dẫn khí, còn ao hồ và bến nước tụ khí. Một con sông lớn chảy sát bên, theo lối đọc cũ, là thế thủy vượng. Cái được là khí đến dồi dào, cái phải xử lý là khí dễ bị cuốn đi theo dòng. Khối nhà xây kín, vuông vức, có khoảng sân chắn ở trước làm một minh đường nhỏ, tuy không cố ý mà lại hợp với cách lối cũ giải bài toán ấy.

Về hình thể, con mắt cũ đọc khối vòm bầu dục giữa nóc là dáng cong tròn, thuộc Kim trong ngũ hành hình thể, còn bốn tháp nhỏ ở bốn góc là bốn nét đứng, thuộc Mộc. Một khối Kim ở giữa được bốn nét Mộc vây bốn góc thì gần với thứ mà sách cũ gọi là tứ trụ chầu tâm. Xin nhắc lại rằng vòm và tháp là quy ước lâu đời của kiến trúc Islam, có trước và độc lập với mọi cách đọc này.

Cuối cùng là hướng tây theo con mắt cổ truyền. Trong phép cũ, phương Tây thuộc hành Kim, ứng với mùa thu và với sự thu liễm, nên nhà ở nước ta ít khi chuộng hướng ấy vì nắng chiều gắt. Ở đây hướng tây được chọn không vì khí hậu, không vì thế đất, mà vì Mecca nằm về phía đó và gian hành lễ phải xoay theo. Đó là một ví dụ rõ về việc một nguyên tắc tôn giáo đứng trên mọi tính toán về đất.

VLễ trong ngày, trong tuần và trong năm

Nhịp của thánh đường chia làm ba lớp gồm lễ nguyện năm lần mỗi ngày, lễ tập thể ngày thứ Sáu, và các kỳ lễ trong năm tính theo lịch Hijri, tức lịch mặt trăng của Islam. Lịch này ngắn hơn năm dương lịch chừng mười một ngày, nên các kỳ lễ dịch dần qua các mùa chứ không đứng yên như hội hè theo âm lịch của người Việt. Vì vậy tháng Ramadan của làng Chăm bên sông Hậu có năm rơi vào giữa mùa khô, có năm rơi vào mùa nước nổi.

Các mốc tính theo lịch Hijri, không theo âm lịch Việt Nam, nên mỗi năm rơi vào một khoảng dương lịch khác nhau. Nguồn: Tư liệu về sinh hoạt của cộng đồng Chăm Islam ở An Giang và các bản tin về thánh đường Mubarak..
Thời điểm theo lịch HijriLễNội dung
Mỗi ngàyNăm lần lễ nguyệnNăm buổi chia theo vị trí mặt trời trong ngày. Trước mỗi buổi phải làm phép tẩy trần bằng nước.
Thứ Sáu hằng tuầnLễ Jumu'ahBuổi lễ trọng nhất trong tuần, có bài thuyết giảng đọc từ mimbar rồi cả hàng cùng lễ. Đây cũng là dịp cả cộng đồng trong làng gặp nhau.
Ngày 12 tháng Rabi al AwwalLễ MaulidLễ kỷ niệm ngày sinh của Nhà tiên tri Muhammad, được tư liệu về cộng đồng Chăm An Giang xếp vào ba kỳ lễ lớn nhất trong năm.
Trọn tháng RamadanTháng nhịn chayTháng thứ chín của lịch Hijri. Tín đồ nhịn ăn uống từ rạng đông tới khi mặt trời lặn, buổi tối tụ về thánh đường dùng bữa xả chay và lễ nguyện thêm.
Mùng 1 tháng ShawwalRoya Idil FitriLễ mừng kết thúc tháng nhịn chay, tên quốc tế là Eid al Fitr. Cả cộng đồng tới thánh đường lễ nguyện rồi thăm hỏi nhau và thăm mộ người thân.
Mùng 10 tháng Dhul HijjahRoya HajiLễ hiến sinh, tên quốc tế là Eid al Adha, trùng dịp hành hương Mecca. Có nghi thức xẻ thịt gia súc chia cho người trong cộng đồng và người thiếu thốn.

Ngoài phần lễ, thánh đường giữ hai việc thuộc nếp chung của một masjid là dạy kinh cho con em trong làng, và phần bố thí gồm khoản bắt buộc hằng năm gọi là zakat cùng khoản tự nguyện gọi là sadaqah.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Ấp Châu Giang, xã Châu Phong, An Giang
Đường tới
Thánh đường nằm ở ấp Châu Giang, xã Châu Phong, tỉnh An Giang, thuộc địa bàn thị xã Tân Châu cũ, bên bờ sông Hậu đối diện khu vực Châu Đốc. Phần lớn khách qua sông bằng phà Châu Giang rồi rẽ trái đi tiếp một quãng ngắn ven sông.
Toạ độ
10.7211, 105.1439
Khi tới nơi

Đây là nơi hành lễ đang hoạt động, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Bỏ giày trước khi vào gian lễ. Ăn mặc kín, nam mặc quần dài áo có tay, nữ trùm khăn và kín tay chân. Khu hành lễ chính dành cho nam giới. Không đi cắt ngang trước mặt người đang lễ nguyện, không nói to, không chụp ảnh người đang hành lễ. Lễ thứ Sáu là lúc đông nhất, khách tới xem kiến trúc xin đợi lễ xong.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Mubarak

Contribute photos, information or video for Mubarak Mosque

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

thánh đường mubarak an giang xây năm nào

Tư liệu di tích lấy năm 1750 làm mốc khởi dựng bằng cây lá, cải tạo năm 1808, xây lại bằng tường vôi cột gỗ năm 1922, rồi xây mới hoàn toàn bằng bê tông cốt sắt vào năm 1965 theo thiết kế của kiến trúc sư người Ấn Độ Mohamet Amin (có nguồn ghi Mohamed Amin). Ngôi thánh đường hôm nay là công trình của lần xây năm 1965 ấy.

thánh đường mubarak bên trong có tượng không

Không có tượng, không có tranh vẽ người hay vật, không có ban thờ và không có lễ vật dâng cúng, vì theo giáo nghĩa Islam thì Đấng duy nhất không có hình tướng. Trong gian hành lễ chỉ có tám cây cột lớn đặt cân đối, những dòng chữ trích kinh Qur'an trên tường, một hốc mihrab chỉ hướng Mecca và một bục giảng mimbar bên cạnh.

người chăm ở châu giang an giang theo đạo gì

Theo Hồi Giáo Islam chính thống, môn phái Shafi'i, cùng môn phái với phần lớn tín đồ Islam ở Malaysia và Indonesia. Đây là cộng đồng Chăm Islam miền Tây Nam Bộ, khác với người Chăm theo Hồi Giáo Bàni ở vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ.

hồi giáo bàni khác islam chính thống ở chỗ nào

Islam chính thống giao năm cột trụ cho từng tín đồ gồm lễ nguyện năm lần mỗi ngày, nhịn chay trọn tháng Ramadan, bố thí và hành hương Mecca. Bàni giao các cột trụ ấy cho lớp chức sắc Acar đảm nhận thay cộng đồng, còn tháng Ramưwan tính theo lịch Chăm và mở đầu bằng lễ tảo mộ mời tổ tiên.

người ngoài đạo vào thánh đường mubarak được không

Được, nếu giữ đúng lệ của nơi ấy như bỏ giày, ăn mặc kín, nữ trùm khăn và kín tay chân, không đi cắt ngang trước mặt người đang lễ nguyện, không chụp ảnh người đang hành lễ. Khu hành lễ chính dành cho nam giới. Ngày thứ Sáu là buổi đông nhất.

›Đọc Tiếp