Từ khu vực cửa khẩu, quý vị đi chừng năm trăm mét là tới chân một quả đồi thấp, lên hết bậc thì gặp ngay một tán đa khổng lồ che kín khoảng sân trước nghi môn. Gốc đa có hàng trăm rễ phụ đã hoá thân, to bằng cả một thân cây, và dưới gốc là một ngôi miếu nhỏ. Phải đi qua tán cây ấy mới vào được đền, nên nhiều người nhớ cây trước khi nhớ mái đền.
Đồi này tên là Hỏa Hiệu, nghĩa là nơi đặt hiệu lửa. Ngôi đền thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, và tên chữ của đền là Thánh Trần Từ, tức đền thờ Đức Thánh Trần. Đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, tức thờ một người thật được tôn làm thần. Bài viết về phần thờ tự, kiến trúc và lệ tiết của đền, không đi vào phần sử gắn với tên quả đồi.

壹Đức Thánh Trần Và Lối Thờ Nhân Thần
Vị được thờ ở đây là một người có thật trong sử, về sau được dân gian tôn thành thánh. Danh hiệu đầy đủ mà các tư liệu di tích dùng là Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn; danh hiệu dân gian là Đức Thánh Trần. Việc một người thật chuyển sang vị thế của thần là lối thờ tự mà người Việt gọi là thờ nhân thần, khác với thờ thần tự nhiên và khác với thờ Phật.
Trong cả nước có rất nhiều đền thờ Đức Thánh Trần, dày nhất ở vùng châu thổ Bắc Bộ. Đền Thượng ở Lào Cai đáng chú ý vì nó nằm ở đầu mạch: đây là nơi thờ Đức Thánh Trần đặt xa nhất về phía thượng nguồn sông Hồng. Một hệ thờ tự sinh ra ở đồng bằng mà có một đầu mút ở miền biên giới, ấy là điều đáng đọc.
Theo cách tín ngưỡng này tự nói về mình, việc thờ Đức Thánh Trần thành một hệ riêng mà người trong giới gọi là tín ngưỡng Trần Triều, có hệ thần linh riêng, bản văn riêng và lối hầu riêng, không trộn vào hệ Tứ phủ dù hai bên đứng cạnh nhau trong nhiều nơi thờ tự; khăn áo và đồ nghi lễ của bên Trần Triều cũng khác. Ở đền Thượng, ngoài gian thờ chính còn có gian thờ Tam toà Thánh Mẫu và gian thờ Đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng đế, tức có mặt cả lớp Tứ phủ; trong đền còn có gian thờ Phật. Một nơi thờ tự bày đủ mấy lớp như vậy là chuyện thường gặp ở đền miếu Việt, và trật tự các gian chính là chỗ cho biết lớp nào làm chủ.
Về mặt khảo được, các tư liệu di tích cho biết đền được dựng dưới thời Lê Trung hưng, niên hiệu Chính Hòa, tức khoảng 1680 tới 1705. Đền nằm trên đồi Hỏa Hiệu thuộc phường Lào Cai, cách cửa khẩu quốc tế Lào Cai chừng năm trăm mét, trông ra phía sông. Tư liệu ghi trong đền có bảy gian thờ, gồm gian thờ Đức Thánh Trần, gian thờ Phật, gian thờ Tam toà Thánh Mẫu, gian thờ Đức Vua Cha Ngọc Hoàng cùng các gian thờ khác; trong đền còn hoành phi mang bốn chữ Quốc thái dân an, nghĩa là nước yên dân lành. Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1996.
Xin nói rõ về chữ Hán ghi trong bài. Bảng dữ liệu chép tên khác của đền là Thánh Trần Từ, và ba chữ 聖陳祠 trong bài là cách chúng tôi phiên tên gọi ấy sang chữ Hán, chứ không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi hay một tấm bia tại đền mà chúng tôi đã đối chiếu được. Quý vị hãy coi đó là phần cần tra thêm.
Chỗ hay lẫn nhất về nơi này lại nằm ở chính cái tên. Trong nước có nhiều nơi mang tên Đền Thượng, chẳng hạn đền Thượng trong khu di tích Đền Hùng và đền Thượng trên núi Tản Viên, mỗi nơi thờ một vị khác nhau. Chữ thượng ở đây không phải một danh hiệu thần mà chỉ vị trí: trong một cụm đền, nơi ở trên cao được gọi là đền Thượng. Muốn nói cho gọn mà không lẫn thì dùng tên chữ của đền, tức Thánh Trần Từ, vì tên ấy nói thẳng vị được thờ.
貳Từ Thời Chính Hòa Tới Khu Di Tích Hôm Nay
Các mốc dưới đây lấy theo tư liệu di tích và báo chí, chỉ ghi những việc thuộc về dựng đền, tu bổ, thờ tự cùng việc xếp hạng. Chỗ nào tư liệu không nêu niên đại thì chúng tôi để nguyên mức mơ hồ ấy chứ không suy ra con số.
- 1680 tới 1705Dựng đềnĐền được dựng dưới thời Lê Trung hưng, niên hiệu Chính Hòa, trên đồi Hỏa Hiệu. Đây là mốc khởi dựng mà bảng dữ liệu của thư viện và các tư liệu di tích cùng ghi.
- Thế kỷ 18 tới 19Cây đa lớn lên cùng đềnCây đa trước nghi môn được các tư liệu xác định hơn ba trăm năm tuổi, tức cùng lớp thời gian với việc dựng đền. Dưới gốc cây có một ngôi miếu nhỏ.
- Thế kỷ 19 tới 20Lớp hoành phi câu đối còn lạiHệ hoành phi câu đối hiện còn trong đền, trong đó có bức mang bốn chữ Quốc thái dân an, thuộc lớp niên đại này và cho biết các đợt tu bổ trong giai đoạn ấy.
- 1996Di tích quốc giaĐền Thượng được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Các tư liệu di tích và báo chí đều ghi mốc này vào năm 1996.
- 1 tháng 9 năm 2012Cây đa thành Cây Di sản Việt NamCây đa đền Thượng được công nhận Cây Di sản Việt Nam, là cây cổ thụ đầu tiên của tỉnh Lào Cai nhận danh hiệu này và là cây thứ một trăm năm mươi lăm trong cả nước.
- 2016Lễ hội vào danh mục di sản quốc giaLễ hội đền Thượng được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Điều được ghi danh là tập quán lễ hội cùng các nghi thức của nó.
- Những năm gần đâyTu bổ và sắp xếp khuôn viênKhu di tích được tu bổ theo từng hạng mục, gồm bậc lên, nghi môn, phương đình, các gian thờ và phần sân, cùng với việc chăm giữ gốc đa cổ.
Một chỗ nguồn vênh nhau, xin ghi thẳng. Về độ cao của đồi Hỏa Hiệu, có trang giới thiệu di tích ghi quả đồi này thuộc dãy Mai Lĩnh và nằm ở độ cao một nghìn hai trăm mét. Con số ấy không khớp với địa hình khu vực trung tâm thành phố Lào Cai, vốn là vùng ven sông thấp, và các nguồn khác chúng tôi tra được đều không nêu độ cao nào. Vì vậy bài không dùng con số đó, chỉ ghi rằng đền dựng trên một quả đồi thấp.
參Bố Cục Chữ Công Và Cây Đa Cổ
Đền dàn theo một trục dọc leo dần lên đỉnh đồi. Đi từ ngoài vào là bậc lên, nghi môn, khoảng sân dưới bóng đa, rồi tới các lớp nhà thờ tự; tư liệu di tích mô tả bố cục phần thờ tự theo lối chữ Công, tức hai lớp nhà ngang nối nhau bằng một lớp nhà dọc ở giữa. Bên cạnh đền chính là một phương đình mặt bằng vuông, trang trí đề tài rồng, cùng một tấm bia đá trên đế hình mai rùa.
Lối chữ Công là bố cục quen của đền miếu Bắc Bộ, nhưng ở đây nó phải thích nghi với địa hình đồi: các lớp nhà không đặt trên một mặt phẳng mà cao dần theo sườn, nên người bước vào vừa đi sâu vào trong vừa lên cao, và lớp trong cùng là lớp cao nhất.
Lớp ngoài cùng, dẫn từ chân đồi lên sân đền. Nghi môn nằm ngay sau tán đa, nên người tới lễ đi qua bóng cây trước khi qua cổng.
Toà nhà mặt bằng vuông đặt cạnh đền chính, trang trí đề tài rồng, dùng cho việc sửa lễ và các nghi thức ngoài trời trong dịp hội.
Lớp nhà ngang phía trước trong bố cục chữ Công, nơi đặt hương án và diễn ra phần lớn việc dâng hương thường ngày.
Lớp trong cùng và cao nhất, đặt ban thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương. Đây là gian làm chủ cả nơi thờ tự.
Tư liệu ghi đền có bảy gian thờ, ngoài gian chính còn gian thờ Phật, gian thờ Tam toà Thánh Mẫu và gian thờ Đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng đế.
Tấm bia bên phương đình, theo lối dựng bia quen của đền miếu và văn miếu Việt, trong đó rùa mang nghĩa bền lâu.
Cây đa trước nghi môn
Cây đa ở sân trước là hạng mục được nhắc nhiều nhất trong khu di tích, và số liệu về nó rõ hơn cả số liệu về công trình. Cây được xác định hơn ba trăm năm tuổi, chu vi gốc bốn mươi bốn mét, cao hơn ba mươi sáu mét, tên khoa học là Ficus drupacea, thuộc họ dâu tằm. Ngày 1 tháng 9 năm 2012 cây được công nhận Cây Di sản Việt Nam, là cây cổ thụ đầu tiên của tỉnh Lào Cai nhận danh hiệu này và là cây thứ một trăm năm mươi lăm trong cả nước. Chu vi gốc ấy được các bản tin ghi là lớn nhất trong các cây di sản của nước ta, có được là vì hàng trăm rễ phụ đã hoá thành thân, nhập vào gốc chính thành một khối.
Dưới gốc cây có một ngôi miếu nhỏ, treo đôi câu đối Thụ mộc đa sinh sinh thế thế, Tiên cô hoá hiện hiện linh linh. Theo tư liệu, trong nếp tin của người Việt tại chỗ, cây đa này được coi là chỗ hiện của Thánh Mẫu Thượng Ngàn, vị Mẫu của miền rừng núi. Đây là một nếp thờ cây rất cổ, đứng độc lập với việc thờ Đức Thánh Trần trên đỉnh đồi; hai nếp ấy nay nằm chung một khuôn viên.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đầu tiên là chỗ cao. Đền không đặt trên đất bằng mà đặt trên đỉnh một quả đồi, và trong phép xem đất thì đó là thế toạ cao: nơi thờ tự ngồi trên chỗ cao nhất của khu, nhìn xuống được bốn bề. Sách xưa cho rằng thế này hợp với nơi thờ những vị mang việc trấn giữ, vì cái nhìn bao quát chính là hình ảnh của việc canh giữ; ngược lại, nó không phải thế hợp với nơi thờ kín đáo. Bố cục các lớp nhà cao dần theo sườn đồi làm thế toạ cao ấy rõ thêm, vì người vào lễ phải đi lên từng bậc.
Thứ hai là nước. Đền trông ra phía dòng chảy, ở vùng mà sông Nậm Thi gặp sông Hồng rồi nước xuôi về châu thổ. Trong phép xem đất, chỗ hai dòng nước gặp nhau gọi là thủy khẩu, tức cửa nước, và cửa nước được coi là nơi khí đổi chiều, nơi mạnh nhất trên cả một mạch nước dài. Đặt một nơi thờ tự trên cao nhìn xuống cửa nước là cách người xưa hay chọn khi muốn một điểm trấn cho cả một vùng, chứ không chỉ cho một làng.
Thứ ba là cây đứng trước cổng. Theo lối đọc cổ truyền, một tán cây lớn che trước cửa được xem là án, tức vật chắn phía trước, làm khí chậm lại trước khi vào chứ không cho khí xộc thẳng vào cửa. Ở đền Thượng, quả đồi cho thế toạ cao còn cây đa cho cái án ấy, hai thứ bù nhau: chỗ cao thì thoáng nhưng lộ, có cây lớn che trước thì bớt lộ mà vẫn giữ được tầm. Tuổi cây và niên đại đền lại gần nhau, nên nhiều khả năng cây và đền lớn lên cùng nhau chứ không phải cây được trồng thêm về sau.
Sau cùng là vị trí trong cụm. Đền Thượng đứng cùng các nơi thờ tự khác trong vùng thành một cụm, mỗi nơi giữ một phần: nơi cao giữ phần trấn, nơi thấp gần bến giữ phần gần đời sống thường ngày. Xin nhắc lại rằng đây là kiến giải cổ truyền, không phải điều có trong tư liệu di tích.
伍Chính Hội Rằm Tháng Giêng
Lễ hội đền Thượng mở vào rằm tháng Giêng và là kỳ hội lớn nhất trong năm của khu di tích. Lễ hội đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016. Bảng dưới đây chỉ ghi những mốc và nghi thức cố định, không ghi giờ giấc, vì lịch cử hành thay đổi theo từng năm.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Trước chính hội | Lễ sửa soạn và dâng hương | Phần chuẩn bị tại đền, sửa lễ ở phương đình và dâng hương tại các gian thờ theo lệ cũ. |
| Rằm tháng Giêng | Lễ rước kiệu lên đền | Đám rước đi từ chân đồi lên đền, sau đó dâng hương theo nghi lễ cổ truyền. |
| Rằm tháng Giêng | Đánh trống khai hội | Nghi thức mở hội, đánh dấu chuyển từ phần lễ sang phần hội. |
| Trong dịp hội | Phần hội | Khai bút đầu xuân, Đêm thơ Nguyên tiêu, trò chơi dân gian, thi trình diễn trang phục các dân tộc trong vùng, cùng không gian văn hóa Trần Triều. |
| Ngày 20 tháng Tám | Ngày giỗ Đức Thánh Trần | Ngày giỗ theo lệ chung của các nơi thờ Đức Thánh Trần. Tư liệu về đền Thượng nhấn vào kỳ hội tháng Giêng, nên ngày này ở đây là lệ dâng hương. |
Hai điều đáng nói về kỳ hội này. Thứ nhất, phần lễ và phần hội tách bạch: phần lễ giữ đúng lối cổ truyền của đền thờ nhân thần, gồm rước, dâng hương và tế; phần hội thì mở rộng thành một sinh hoạt chung của cả vùng, trong đó có những thứ vốn không thuộc nghi thức đền như khai bút đầu xuân hay đêm thơ Nguyên tiêu. Thứ hai, các dân tộc trong vùng cùng dự: đây là địa bàn có nhiều cộng đồng cùng sinh sống, nên hội đền có phần trình diễn trang phục của từng cộng đồng, và mỗi cộng đồng có bộ trang phục riêng chứ không giống nhau.
Một điểm nữa: rằm tháng Giêng là ngày Thượng nguyên, mốc lễ chung của rất nhiều nơi thờ tự Việt. Việc đền Thượng lấy đúng ngày ấy làm chính hội, thay vì lấy ngày giỗ của vị được thờ như nhiều đền thờ Đức Thánh Trần khác, cho thấy kỳ hội ở đây gắn với nhịp đầu năm của cả vùng.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đồi Hỏa Hiệu, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai
- Đường tới
- Đền nằm trên đồi Hỏa Hiệu, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai, cách cửa khẩu quốc tế Lào Cai chừng năm trăm mét. Từ khu vực trung tâm thành phố đi bộ tới được, đoạn cuối là bậc lên đồi.
- Toạ độ
- 22.5075, 103.9583
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các gian trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm vào tượng, hương án và bộ đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức. Gốc đa cổ ở sân trước là cây di sản được chăm giữ, nên xin đừng dựa, buộc hay treo bất cứ thứ gì vào rễ và thân cây. Rằm tháng Giêng là lúc đông nhất, lối lên đền phân luồng theo bậc.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Thượng Lào Cai thờ ai
Thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vị mà dân gian tôn là Đức Thánh Trần. Đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, tức thờ một người thật được tôn làm thần. Tên chữ của đền là Thánh Trần Từ, nghĩa là đền thờ Đức Thánh Trần, và đây là nơi thờ Đức Thánh Trần đặt xa nhất về phía thượng nguồn sông Hồng.
Đền Thượng được dựng năm nào
Các tư liệu di tích cho biết đền dựng dưới thời Lê Trung hưng, niên hiệu Chính Hòa, tức khoảng 1680 tới 1705, trên đồi Hỏa Hiệu. Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1996, và lễ hội đền được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.
Cây đa đền Thượng bao nhiêu tuổi
Cây được xác định hơn ba trăm năm tuổi, chu vi gốc bốn mươi bốn mét, cao hơn ba mươi sáu mét, tên khoa học là Ficus drupacea. Ngày 1 tháng 9 năm 2012 cây được công nhận Cây Di sản Việt Nam, là cây cổ thụ đầu tiên của tỉnh Lào Cai nhận danh hiệu và là cây thứ một trăm năm mươi lăm trong cả nước.
Lễ hội đền Thượng tổ chức ngày nào
Chính hội vào rằm tháng Giêng âm lịch. Phần lễ gồm rước kiệu lên đền, dâng hương theo nghi lễ cổ truyền và đánh trống khai hội. Phần hội gồm khai bút đầu xuân, Đêm thơ Nguyên tiêu, trò chơi dân gian, thi trình diễn trang phục các dân tộc trong vùng và không gian văn hóa Trần Triều.
Vì sao lại gọi là đền Thượng
Chữ thượng chỉ vị trí trên cao chứ không phải một danh hiệu thần. Trong một cụm đền, nơi ở trên cao được gọi là đền Thượng, nơi dưới thấp gọi khác. Vì vậy trong nước có nhiều đền Thượng thờ các vị khác nhau; muốn nói gọn mà không lẫn thì dùng tên chữ của đền này là Thánh Trần Từ.