VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc (Cao Bằng)

Thiền viện Trúc Lâm Bản Giốc

Ngôi chùa dựng mới trên sườn núi Phia Nhằm, theo dòng Thiền Trúc Lâm, nằm cách thác Bản Giốc chừng năm trăm mét.

Khởi công
tháng 6 năm 2013
trên núi Phia Nhằm, xã Đàm Thủy
Khánh thành
15 tháng 12 năm 2014
theo bản tin của báo Giác Ngộ
Đại hồng chung
1,5 tấn
mang tên Thiên Bảo, treo trên lầu chuông

Từ chỗ đứng ngắm thác Bản Giốc, quý vị ngoảnh lại sẽ thấy một triền núi dốc và trên triền ấy là những mái ngói còn mới, xếp cao dần theo sườn đá. Lối lên là các bậc thang men theo thế đất, càng lên càng mở ra khoảng trống, và tới sân chùa thì cả tầng thác phía dưới nằm gọn trong tầm mắt. Gỗ lim ở các bộ vì còn nguyên màu, ngói còn đủ nét cạnh, chưa kịp phủ lớp mốc thời gian như ở các ngôi chùa dưới đồng bằng.

Đó là điều cần nói ngay, chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc là một ngôi chùa mới. Chùa khởi công tháng 6 năm 2013 và khánh thành ngày 15 tháng 12 năm 2014, theo dòng Thiền Trúc Lâm. Cái đáng đọc ở đây vì thế không phải một lớp niên đại cổ, mà là hai thứ khác gồm mạch thiền mà ngôi chùa này nối vào, và cái lệ rất cũ của người Việt là dựng chùa ở nơi cuối đất.

Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc (Cao Bằng)
Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc (Cao Bằng). Ảnh: Phạm Quang Sơn, giấy phép CC BY-SA 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITên gọi và dòng thiền

Tên đầy đủ của ngôi chùa gồm ba phần, mỗi phần nói một điều. Phật Tích nghĩa là dấu tích nhà Phật, chỉ việc đạo Phật đặt được một dấu trên vùng đất này. Trúc Lâm là tên dòng thiền mà chùa theo. Bản Giốc là địa danh của ngọn thác gần đó. Nơi này còn được gọi là Thiền viện Trúc Lâm Bản Giốc.

Bốn chữ Hán đặt ở đầu trang này là phần Phật Tích Trúc Lâm, do thư viện suy ra từ tên gọi tiếng Việt chứ không chép lại từ một tấm hoành phi nào.

Theo giáo nghĩa

Trúc Lâm là một dòng Thiền do Thượng hoàng Trần Nhân Tông (1258 tới 1308) sáng lập vào tháng 10 âm lịch năm Kỷ Hợi 1299 sau khi nhường ngôi và lên núi Yên Tử xuất gia tu hành với hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà hay Trúc Lâm Đầu Đà. Điều làm dòng thiền này khác các dòng thiền trước đó là hợp nhất ba dòng thiền đã có trên đất Việt gồm Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường lại thành một tông phái của người Việt, với cái lõi tư tưởng thường được gọi gọn là cư trần lạc đạo, nghĩa là ở giữa cõi đời mà vui với đạo. Theo lối ấy, người tu không cần rời hẳn đời sống để tìm đạo, việc tu và việc sống không bị tách làm hai.

Ba vị Tổ thời Trần của dòng thiền này, thường gọi là Trúc Lâm tam tổ, gồm Sơ Tổ Trần Nhân Tông, Nhị Tổ Pháp Loa và Tam Tổ Huyền Quang. Sau thế kỷ 14, mạch thiền mai một dần. Tới thế kỷ 20, Hòa thượng Thích Thanh Từ là người đứng ra khôi phục, dịch kinh sách và lập một loạt thiền viện mang tên Trúc Lâm, và các ngôi chùa cùng thiền viện Trúc Lâm dựng từ cuối thế kỷ 20 tới nay, kể cả ngôi chùa ở Bản Giốc, đều nằm trong đợt khôi phục ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Đây là chỗ dễ lẫn nhất, xin nói thẳng. Ba chữ Phật Tích trong tên chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc trùng với tên của một ngôi chùa hoàn toàn khác là ngôi chùa Phật Tích cổ ở Tiên Du, Bắc Ninh, tên chữ Vạn Phúc Tự, nằm trên núi Lạn Kha, gắn với niên đại năm 1057 thời Lý và giữ pho tượng A Di Đà bằng đá cùng hàng linh thú đá vào loại sớm của điêu khắc Phật giáo Đại Việt. Thư viện có một trang riêng cho ngôi chùa ấy.

Hai nơi khác nhau ở mọi điểm, khác tỉnh, khác niên đại và khác cả tính chất, khi một nơi là di tích quốc gia đặc biệt với hiện vật thời Lý, còn một nơi là cơ sở thờ tự dựng mới theo dòng Thiền Trúc Lâm. Sự trùng tên ở đây không phải lỗi của ai, vì chữ Phật Tích là một cách nói chung, nghĩa là dấu tích nhà Phật, nên nhiều nơi có thể cùng dùng. Vì vậy trong bài này thư viện luôn viết đủ cụm Trúc Lâm Bản Giốc kèm theo.

IIMạch thiền Trúc Lâm và lệ dựng chùa nơi biên viễn

Một ngôi chùa mới không có lịch sử của riêng nó, nhưng nó nối vào lịch sử của hai thứ gồm dòng thiền mà nó theo, và cái lệ chọn chỗ mà nó tuân theo. Cả hai đều cũ hơn ngôi chùa rất nhiều.

Theo sử liệu

Về lệ dựng chùa nơi biên viễn, cần nói rõ rằng đây là một nếp cũ chứ không phải sáng kiến của thời nay. Trong cách nghĩ cổ truyền của người Việt, ngôi chùa dựng ở nơi cuối đất là một mốc thuộc về văn hóa, đánh dấu chỗ mà nếp sinh hoạt, tiếng chuông và chữ nghĩa của một cộng đồng còn với tới. Các triều Lý và Trần đều cho dựng chùa ở vùng thượng du phía bắc. Ngôi chùa ở Bản Giốc đứng trong nếp ấy, chỉ khác là nó thuộc lớp mới, và cùng thời gian này tỉnh Cao Bằng còn có chùa Trúc Lâm Tà Lùng dựng ở vùng Quảng Hòa cũ, cũng theo dòng Trúc Lâm và cũng khánh thành trong tháng 12 năm 2014. Hai ngôi ấy hay được nhắc chung như một cặp.

Về ngôi chùa cụ thể này, các bản tin đương thời ghi chùa khởi công tháng 6 năm 2013, làm lễ an vị tượng Bồ Tát Quán Thế Âm vào tháng 1 năm 2014 và khánh thành giai đoạn một ngày 15 tháng 12 năm 2014, với vị trụ trì đầu tiên là Thượng tọa Thích Đức Thiện, kinh phí khoảng 38 tỷ đồng do vận động công đức. Diện tích thì nguồn ghi vênh nhau, khi bản tin của báo Giác Ngộ ghi khu chùa rộng khoảng 3 hecta, còn bài của báo VnExpress ghi khoảng 2 hecta. Thư viện ghi cả hai chứ không chọn bừa một con số, vì chênh lệch này có thể đến từ phạm vi tính, một bên tính cả phần cảnh quan và một bên chỉ tính phần công trình.

  • 1299Lập dòng Thiền Trúc Lâm
    Tháng 10 âm lịch năm Kỷ Hợi 1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử xuất gia lấy hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà, hợp nhất ba dòng thiền có trước thành Thiền phái Trúc Lâm với tư tưởng cư trần lạc đạo.
  • Thế kỷ 14Trúc Lâm tam tổ
    Nhị Tổ Pháp Loa và Tam Tổ Huyền Quang nối tiếp Sơ Tổ, mở rộng giáo hội, san khắc kinh sách và đào tạo tăng chúng.
  • Sau thế kỷ 14Mạch thiền mai một
    Dòng thiền dần thưa vắng qua các biến động của các thế kỷ sau, không còn giữ được hệ thống thiền viện như thời Trần.
  • Thế kỷ 20Khôi phục dòng thiền
    Hòa thượng Thích Thanh Từ dịch kinh sách, mở khóa tu và lập một loạt thiền viện mang tên Trúc Lâm, đưa mạch thiền này trở lại trong sinh hoạt tu học.
  • Tháng 6 năm 2013Khởi công chùa trên núi Phia Nhằm
    Công trình được khởi công trên sườn núi Phia Nhằm thuộc xã Đàm Thủy, cách thác Bản Giốc chừng năm trăm mét, và làm lễ an vị tượng Bồ Tát Quán Thế Âm vào tháng 1 năm 2014.
  • 15 tháng 12 năm 2014Khánh thành
    Chùa khánh thành giai đoạn một và đưa vào sinh hoạt với Thượng tọa Thích Đức Thiện làm trụ trì đầu tiên. Cùng tháng ấy, chùa Trúc Lâm Tà Lùng ở vùng Quảng Hòa cũ cũng khánh thành.

IIIBố cục trên triền núi

Chùa không dàn theo một mặt sân phẳng như chùa đồng bằng, vì đất không cho phép. Các hạng mục xếp thành nhiều cấp theo độ cao của sườn núi, đi từ tam quan phía dưới lên tới các toà trên cao, và lối nối các cấp là những vệt bậc đá. Cách bày ấy buộc người lễ phải leo, và mỗi lần đổi cấp lại được đổi một tầm nhìn.

Vật liệu theo lối truyền thống gồm bộ khung gỗ lim, gạch ngói cổ truyền, đầu đao cong vút và hệ thống hoành phi câu đối viết bằng tiếng Việt chữ Quốc ngữ theo lệ quen của các thiền viện Trúc Lâm. Đây là lựa chọn có ý, khi một ngôi chùa dựng mới ở nơi xa vẫn nhận về mình hình dáng của ngôi chùa Việt Nam quen mắt, thay vì làm một hình dáng mới.

Tam quan

Cửa vào ở cấp thấp của khu chùa, mở về phía lối lên từ dưới chân núi. Từ tam quan trở lên, các cấp sân kế tiếp nhau theo thế đất.

Lầu chuông và lầu trống

Hai công trình đối nhau theo lối bày quen của chùa Bắc Bộ. Trên lầu chuông treo quả đại hồng chung bằng đồng nặng khoảng 1,5 tấn mang tên Thiên Bảo, quả chuông được nhắc tới nhiều trong các hiện vật của chùa.

Toà Tam Bảo

Toà thờ chính, đặt hệ thống tượng Phật theo lối Phật Giáo Bắc Tông. Đây là nơi diễn ra phần lớn nghi thức tụng niệm và các khóa tu của nhà chùa.

Nhà thờ Tổ, nhà tăng và nhà khách

Khu nhà thờ chư Tổ của dòng thiền Trúc Lâm cùng khối nhà tăng và nhà khách phục vụ sinh hoạt tu học của chư tăng và Phật tử.

Tượng Quán Thế Âm, vườn La Hán và vườn Lộc Uyển

Các hạng mục tượng và cảnh quan ngoài trời đặt ở những cấp sân khác nhau, gồm lầu tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, vườn tượng La Hán và khu vườn Lộc Uyển.

Đền thờ Nùng Trí Cao, đền thờ anh hùng dân tộc và ban thờ Mẫu

Ngoài khu thờ Phật, trong khuôn viên còn có đền thờ Nùng Trí Cao là nhân vật lịch sử thế kỷ 11 gắn với vùng đất Cao Bằng, đền thờ các anh hùng dân tộc và đền Mẫu theo lối thờ tự nhiều lớp của người Việt.

Một điểm quý vị nên để ý khi vào là chùa này không có lớp hiện vật cổ. Không có bia đá mấy trăm năm, không có tượng gỗ sơn thếp thời Lê Nguyễn, không có mộc bản. Toàn bộ những gì đang thấy là đồ mới làm theo mẫu cũ. Nói điều ấy ra không phải để hạ giá nơi này, mà để quý vị đọc nó đúng cách, bởi giá trị của chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc nằm ở chỗ nó là một ngôi chùa đang sống và ở chỗ nó đứng, chứ không nằm ở tuổi của gỗ và đá.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ công trình. Với một ngôi chùa dựng năm 2013 thì càng cần nói rõ rằng chỗ đất được chọn theo nhiều lẽ cùng lúc, trong đó có cảnh quan và lối đi lại, chứ không nhất thiết theo một phép địa lý cổ. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên và rõ nhất là chùa có một hậu chẩm thật. Lưng chùa tựa vào núi Phia Nhằm, khối đá vôi dựng ngay sau các toà nhà. Trong phép xem đất, chỗ dựa sau lưng là thứ được tìm trước nhất, ở đồng bằng châu thổ nơi không có núi thì người ta phải lấy gò đất hoặc mặt nước lớn thay vào. Ở đây thì không cần thay, vì núi có sẵn, cao và liền khối, và các toà nhà được đặt áp vào nó.

Thứ hai là minh đường có thủy. Phía trước chùa, thấp hơn nhiều, là dòng Quây Sơn và tầng thác Bản Giốc. Trong sách cũ, nước trước cửa là thứ tụ khí, và nước chảy có tiếng thì được xếp vào hàng hoạt thủy, tức nước sống. Một ngôi chùa nhìn xuống thác nước vì thế hợp cả nghĩa lẫn cảnh, tiếng nước không dứt là thứ mà nhà thiền vẫn hay lấy làm chỗ tựa cho việc lắng tâm. Cần nói thêm rằng đây là thế trông xuống nước chứ không phải thế kề nước như các đền phủ ven hồ ở đồng bằng.

Thứ ba là thế lên cao theo cấp. Việc các hạng mục xếp thành nhiều tầng sân trên sườn dốc không chỉ là giải pháp kỹ thuật. Đọc theo lối cũ, một khu thờ tự dựng theo cấp bậc thì khí đi lên theo trục dọc chứ không trải ra bề rộng, và người đi lễ phải qua từng cấp mới tới được toà trong cùng. Thứ tự ấy trùng với thứ tự của việc tu học, mỗi cấp là một chặng, không nhảy được.

Cuối cùng là lớp nghĩa của đất biên. Trong cách đọc cổ truyền, nơi cuối đất là chỗ khí tán, vì không còn gì che đỡ phía ngoài. Cái lệ dựng chùa ở những nơi như vậy có thể đọc như một phép trấn theo nghĩa rộng của chữ ấy, đặt một điểm tụ khí vào chỗ khí đang tán để giữ lấy một mốc. Ngôi chùa này và chùa Trúc Lâm Tà Lùng cùng nằm trên dải đất ngoài cùng của tỉnh Cao Bằng, cách nhau khá xa, và khi đọc chúng cùng lúc thì thấy một lối bố trí theo cặp chứ không phải hai điểm rời.

VLễ và nếp tu học

Chùa theo Phật Giáo Bắc Tông và theo dòng Thiền Trúc Lâm, nên lịch lễ ở đây là lịch chung của nhà chùa Bắc Tông cộng thêm các ngày riêng của dòng thiền. Bảng dưới đây ghi những ngày ấy theo âm lịch. Xin nói rõ đây là lệ chung, không phải một lịch riêng do chùa công bố, nên thứ tự và quy mô từng năm có thể khác.

Các ngày lễ theo lệ chung của Phật Giáo Bắc Tông và của dòng Thiền Trúc Lâm. Nguồn: Lịch lễ cổ truyền của Phật Giáo Bắc Tông và ngày tưởng niệm Sơ Tổ Trần Nhân Tông năm 1308 theo Tam Tổ thực lục cùng Đại Việt sử ký toàn thư..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Rằm tháng GiêngLễ Thượng nguyênLễ đầu năm của nhà chùa Bắc Tông, thường có tụng kinh cầu an. Đây cũng là dịp đông người lui tới trong năm ở vùng này.
Rằm tháng TưLễ Phật ĐảnNgày kỷ niệm Đức Phật Thích Ca đản sinh, lễ lớn trong năm của Phật Giáo Bắc Tông, có tắm Phật và tụng niệm.
Rằm tháng BảyLễ Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ và cầu siêu cho người đã mất, gắn với kinh Vu Lan Bồn.
Mùng 1 hoặc mùng 3 tháng Mười MộtGiỗ Sơ Tổ Trúc LâmLễ tưởng niệm ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn năm Mậu Thân 1308. Sách Tam Tổ thực lục và nghi lễ Giáo hội lấy ngày mùng 1 tháng Mười Một, Đại Việt sử ký toàn thư chép ngày mùng 3 tháng Mười Một, còn một bài báo trong nguồn ghi nhầm sang mùng 1 tháng Mười.
Mùng 8 tháng ChạpLễ Phật Thành ĐạoNgày kỷ niệm Đức Phật thành đạo, một trong các ngày lễ theo lệ chung của nhà chùa Bắc Tông.

Ngoài các ngày trên, nếp riêng của một ngôi chùa theo dòng Trúc Lâm là các khóa tu, khi người tại gia về chùa ở lại một hoặc vài ngày, theo thời khóa gồm tọa thiền, tụng kinh, nghe giảng và làm việc chung trong khuôn viên. Đây là chỗ khác rõ giữa một thiền viện và một ngôi đền, bởi ở đền người ta đến dâng lễ rồi về, còn ở đây phần đáng kể của sinh hoạt là việc học và việc ngồi.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Núi Phia Nhằm, xã Đàm Thủy, tỉnh Cao Bằng
Đường tới
Chùa nằm trên núi Phia Nhằm, xã Đàm Thủy, tỉnh Cao Bằng, thuộc địa bàn huyện Trùng Khánh cũ, cách thác Bản Giốc chừng năm trăm mét và cách trung tâm thành phố Cao Bằng cũ khoảng tám mươi lăm cây số theo hướng Quốc lộ 3 và Tỉnh lộ 206. Từ chân núi lên khu chùa đi bộ theo bậc đá.
Toạ độ
22.8546, 106.7197
Khi tới nơi

Đây là chỗ tu học đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào Tam Bảo và nhà thờ Tổ, đi nhẹ nói khẽ, không chạm vào tượng và không tự gióng quả đại hồng chung. Nếu gặp lúc chùa đang có thời khóa tọa thiền hoặc tụng kinh, xin quý vị đứng ngoài hoặc vào ngồi theo chúng, không đi cắt ngang hàng người đang hành lễ. Lối lên chùa là bậc đá dốc, nên ở các đoạn hẹp xin nhường đường cho người đi ngược.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc (Cao Bằng)

Contribute photos, information or video for Phat Tich Truc Lam Ban Gioc Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc ở đâu

Chùa nằm trên núi Phia Nhằm, xã Đàm Thủy, tỉnh Cao Bằng, thuộc địa bàn huyện Trùng Khánh cũ, cách thác Bản Giốc chừng năm trăm mét. Sau đợt sắp xếp địa giới năm 2025, ba xã Phong Nặm, Chí Viễn và Đàm Thủy hợp nhất thành xã Đàm Thủy mới thuộc tỉnh Cao Bằng.

Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc có phải chùa Phật Tích ở Bắc Ninh không

Không. Đây là hai nơi khác nhau hoàn toàn, chỉ trùng ba chữ Phật Tích. Ngôi chùa ở Bản Giốc là chùa dựng mới theo dòng Thiền Trúc Lâm, khánh thành ngày 15 tháng 12 năm 2014 ở Cao Bằng. Ngôi chùa Phật Tích cổ ở Tiên Du, Bắc Ninh, tên chữ Vạn Phúc Tự, gắn với niên đại năm 1057 thời Lý và là di tích quốc gia đặc biệt.

Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc xây năm nào

Khởi công tháng 6 năm 2013, làm lễ an vị tượng Bồ Tát Quán Thế Âm tháng 1 năm 2014 và khánh thành giai đoạn một ngày 15 tháng 12 năm 2014. Kinh phí khoảng 38 tỷ đồng do vận động công đức. Về diện tích thì nguồn ghi vênh nhau, một bản tin ghi khoảng 3 hecta còn một bài báo khác ghi khoảng 2 hecta, nên thư viện ghi cả hai.

Thiền phái Trúc Lâm là gì

Là dòng Thiền do Thượng hoàng Trần Nhân Tông sáng lập tháng 10 âm lịch năm Kỷ Hợi 1299 trên núi Yên Tử với hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà, hợp nhất ba dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường thành một tông phái của người Việt với tư tưởng cư trần lạc đạo. Ba vị Tổ thời Trần là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Mạch thiền được Hòa thượng Thích Thanh Từ khôi phục trong thế kỷ 20.

Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc thờ ai

Toà Tam Bảo thờ Phật theo lối Phật Giáo Bắc Tông, nhà thờ Tổ thờ chư Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm. Trong khuôn viên còn có lầu tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, vườn tượng La Hán, vườn Lộc Uyển, đền Mẫu, đền thờ các anh hùng dân tộc và đền thờ Nùng Trí Cao là nhân vật lịch sử thế kỷ 11 gắn với vùng Cao Bằng.

›Đọc Tiếp