Từ chỗ đứng ngắm thác Bản Giốc, quý vị ngoảnh lại sẽ thấy một triền núi dốc và trên triền ấy là những mái ngói còn mới, xếp cao dần theo sườn đá. Lối lên là các bậc thang men theo thế đất, càng lên càng mở ra khoảng trống, và tới sân chùa thì cả tầng thác phía dưới nằm gọn trong tầm mắt. Gỗ lim ở các bộ vì còn nguyên màu, ngói còn đủ nét cạnh, chưa kịp phủ lớp mốc thời gian như ở các ngôi chùa dưới đồng bằng.
Đó là điều cần nói ngay: chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc là một ngôi chùa mới. Chùa khởi công tháng 6 năm 2013 và khánh thành tháng 12 năm 2014, theo dòng Thiền Trúc Lâm. Cái đáng đọc ở đây vì thế không phải một lớp niên đại cổ, mà là hai thứ khác: mạch thiền mà ngôi chùa này nối vào, và cái lệ rất cũ của người Việt là dựng chùa ở nơi cuối đất.
壹Tên Gọi Và Dòng Thiền
Tên đầy đủ của ngôi chùa gồm ba phần, mỗi phần nói một điều. Phật Tích nghĩa là dấu tích nhà Phật, chỉ việc đạo Phật đặt được một dấu trên vùng đất này. Trúc Lâm là tên dòng thiền mà chùa theo. Bản Giốc là địa danh của ngọn thác gần đó. Nơi này còn được gọi là Thiền viện Trúc Lâm Bản Giốc.
Bốn chữ Hán đặt ở đầu trang này là phần Phật Tích Trúc Lâm, do thư viện suy ra từ tên gọi tiếng Việt chứ không chép lại từ một tấm hoành phi nào.
Trúc Lâm là một dòng Thiền do vua Trần Nhân Tông sáng lập năm 1299 sau khi nhường ngôi và lên núi Yên Tử tu hành. Điều làm dòng thiền này khác các dòng thiền trước đó là nó gộp các mạch thiền đã có trên đất Việt lại thành một tông phái của người Việt, với cái lõi tư tưởng thường được gọi gọn là cư trần lạc đạo, nghĩa là ở giữa cõi đời mà vui với đạo. Theo lối ấy, người tu không cần rời hẳn đời sống để tìm đạo; việc tu và việc sống không bị tách làm hai.
Ba vị Tổ thời Trần của dòng thiền này, thường gọi là Trúc Lâm tam tổ, gồm Sơ Tổ Trần Nhân Tông, Nhị Tổ Pháp Loa và Tam Tổ Huyền Quang. Sau thế kỷ 14, mạch thiền mai một dần. Tới thế kỷ 20, Hòa thượng Thích Thanh Từ là người đứng ra khôi phục, dịch kinh sách và lập một loạt thiền viện mang tên Trúc Lâm; các ngôi chùa và thiền viện Trúc Lâm dựng từ cuối thế kỷ 20 tới nay, kể cả ngôi chùa ở Bản Giốc, đều nằm trong đợt khôi phục ấy.
Đây là chỗ dễ lẫn nhất, xin nói thẳng. Ba chữ Phật Tích trong tên chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc trùng với tên của một ngôi chùa hoàn toàn khác: ngôi chùa Phật Tích cổ ở Tiên Du, Bắc Ninh, tên chữ là Vạn Phúc Tự, nằm trên núi Lạn Kha, gắn với niên đại năm 1057 thời Lý và giữ pho tượng A Di Đà bằng đá cùng hàng linh thú đá vào loại sớm nhất của điêu khắc Phật giáo Đại Việt. Thư viện có một trang riêng cho ngôi chùa ấy.
Hai nơi khác nhau ở mọi điểm: khác tỉnh, khác niên đại, và khác cả tính chất, một nơi là di tích quốc gia đặc biệt với hiện vật thời Lý, một nơi là cơ sở thờ tự dựng mới theo dòng Thiền Trúc Lâm. Sự trùng tên ở đây không phải lỗi của ai: chữ Phật Tích là một cách nói chung, nghĩa là dấu tích nhà Phật, nên nhiều nơi có thể cùng dùng. Vì vậy trong bài này chúng tôi luôn viết đủ cụm Trúc Lâm Bản Giốc kèm theo.
貳Mạch Thiền Trúc Lâm Và Lệ Dựng Chùa Nơi Biên Viễn
Một ngôi chùa mới không có lịch sử của riêng nó, nhưng nó nối vào lịch sử của hai thứ: dòng thiền mà nó theo, và cái lệ chọn chỗ mà nó tuân theo. Cả hai đều cũ hơn ngôi chùa rất nhiều.
Về lệ dựng chùa nơi biên viễn, cần nói rõ rằng đây là một nếp cũ chứ không phải sáng kiến của thời nay. Trong cách nghĩ cổ truyền của người Việt, ngôi chùa dựng ở nơi cuối đất là một mốc thuộc về văn hóa: nó đánh dấu chỗ mà nếp sinh hoạt, tiếng chuông và chữ nghĩa của một cộng đồng còn với tới. Các triều Lý và Trần đều cho dựng chùa ở vùng thượng du phía bắc. Ngôi chùa ở Bản Giốc đứng trong nếp ấy, chỉ khác là nó thuộc lớp mới nhất: cùng thời gian này, tỉnh Cao Bằng còn có chùa Trúc Lâm Tà Lùng dựng ở vùng Quảng Hòa, cũng theo dòng Trúc Lâm và cũng khánh thành trong tháng 12 năm 2014. Hai ngôi ấy hay được nhắc chung như một cặp.
Về ngôi chùa cụ thể này, các bản tin đương thời ghi chùa khởi công tháng 6 năm 2013 và khánh thành tháng 12 năm 2014, kinh phí khoảng 38 tỷ đồng do vận động công đức. Diện tích thì nguồn ghi vênh nhau: bản tin của báo Giác Ngộ ghi khu chùa rộng khoảng 3 hecta, còn bài của báo VnExpress ghi khoảng 2 hecta. Chúng tôi ghi cả hai chứ không chọn bừa một con số, vì chênh lệch này có thể đến từ phạm vi tính, một bên tính cả phần cảnh quan và một bên chỉ tính phần công trình.
- 1299Lập dòng Thiền Trúc LâmVua Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi lên núi Yên Tử tu hành và sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm, dòng thiền mang bản sắc người Việt với tư tưởng cư trần lạc đạo.
- Thế kỷ 14Trúc Lâm tam tổNhị Tổ Pháp Loa và Tam Tổ Huyền Quang nối tiếp Sơ Tổ, mở rộng giáo hội, san khắc kinh sách và đào tạo tăng chúng.
- Sau thế kỷ 14Mạch thiền mai mộtDòng thiền dần thưa vắng qua các biến động của các thế kỷ sau, không còn giữ được hệ thống thiền viện như thời Trần.
- Thế kỷ 20Khôi phục dòng thiềnHòa thượng Thích Thanh Từ dịch kinh sách, mở khóa tu và lập một loạt thiền viện mang tên Trúc Lâm, đưa mạch thiền này trở lại trong sinh hoạt tu học.
- Tháng 6 năm 2013Khởi công chùa trên núi Phia NhằmCông trình được khởi công trên sườn núi Phia Nhằm thuộc xã Đàm Thủy, cách thác Bản Giốc chừng năm trăm mét.
- Tháng 12 năm 2014Khánh thànhChùa khánh thành và đưa vào sinh hoạt. Cùng tháng ấy, chùa Trúc Lâm Tà Lùng ở vùng Quảng Hòa cũng khánh thành.
參Bố Cục Trên Triền Núi
Chùa không dàn theo một mặt sân phẳng như chùa đồng bằng, vì đất không cho phép. Các hạng mục xếp thành nhiều cấp theo độ cao của sườn núi, đi từ tam quan phía dưới lên tới các toà trên cao, và lối nối các cấp là những vệt bậc đá. Cách bày ấy buộc người lễ phải leo, và mỗi lần đổi cấp lại được đổi một tầm nhìn.
Vật liệu theo lối truyền thống: bộ khung gỗ lim, gạch ngói cổ truyền, hoa văn trang trí theo mẫu quen của chùa Việt. Đây là lựa chọn có ý: một ngôi chùa dựng mới ở nơi xa vẫn nhận về mình hình dáng của ngôi chùa Việt Nam quen mắt, thay vì làm một hình dáng mới.
Cửa vào ở cấp thấp nhất của khu chùa, mở về phía lối lên từ dưới chân núi. Từ tam quan trở lên, các cấp sân kế tiếp nhau theo thế đất.
Hai công trình đối nhau theo lối bày quen của chùa Bắc Bộ. Trên lầu chuông treo quả đại hồng chung nặng khoảng 1,5 tấn mang tên Thiên Bảo, quả chuông được nhắc tới nhiều nhất trong các hiện vật của chùa.
Toà thờ chính, đặt hệ thống tượng Phật theo lối Phật Giáo Bắc Tông. Đây là nơi diễn ra phần lớn nghi thức tụng niệm và các khóa tu của nhà chùa.
Toà thờ các vị Tổ. Ở một ngôi chùa theo dòng Trúc Lâm, ban thờ Tổ là chỗ nói rõ nhất chùa thuộc mạch nào, vì ở đây thờ chư Tổ của dòng thiền.
Hai khu tượng ngoài trời, đặt ở các cấp sân khác nhau, theo lối bày tượng ngoài trời đã thành quen ở các chùa dựng mới.
Ngoài khu thờ Phật, trong khuôn viên còn có ban thờ Mẫu theo lối thờ tự nhiều lớp của người Việt, và một đền thờ Nùng Trí Cao, nhân vật thế kỷ 11 được người Nùng và người Tày trong vùng Cao Bằng thờ tự từ lâu.
Một điểm quý vị nên để ý khi vào: chùa này không có lớp hiện vật cổ. Không có bia đá mấy trăm năm, không có tượng gỗ sơn thếp thời Lê Nguyễn, không có mộc bản. Toàn bộ những gì đang thấy là đồ mới làm theo mẫu cũ. Nói điều ấy ra không phải để hạ giá nơi này, mà để quý vị đọc nó đúng cách: giá trị của chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc nằm ở chỗ nó là một ngôi chùa đang sống và ở chỗ nó đứng, chứ không nằm ở tuổi của gỗ và đá.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ công trình. Với một ngôi chùa dựng năm 2013 thì càng cần nói rõ: chỗ đất được chọn theo nhiều lẽ cùng lúc, trong đó có cảnh quan và lối đi lại, chứ không nhất thiết theo một phép địa lý cổ. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đầu tiên và rõ nhất là chùa có một hậu chẩm thật. Lưng chùa tựa vào núi Phia Nhằm, khối đá vôi dựng ngay sau các toà nhà. Trong phép xem đất, chỗ dựa sau lưng là thứ được tìm trước nhất; ở đồng bằng châu thổ, nơi không có núi, người ta phải lấy gò đất hoặc mặt nước lớn thay vào. Ở đây thì không cần thay: núi có sẵn, cao và liền khối, và các toà nhà được đặt áp vào nó.
Thứ hai là minh đường có thủy. Phía trước chùa, thấp hơn nhiều, là dòng Quây Sơn và tầng thác Bản Giốc. Trong sách cũ, nước trước cửa là thứ tụ khí, và nước chảy có tiếng thì được xếp vào hàng hoạt thủy, tức nước sống. Một ngôi chùa nhìn xuống thác nước vì thế hợp cả nghĩa lẫn cảnh: tiếng nước không dứt là thứ mà nhà thiền vẫn hay lấy làm chỗ tựa cho việc lắng tâm. Cần nói thêm rằng đây là thế trông xuống nước chứ không phải thế kề nước như các đền phủ ven hồ ở đồng bằng.
Thứ ba là thế lên cao theo cấp. Việc các hạng mục xếp thành nhiều tầng sân trên sườn dốc không chỉ là giải pháp kỹ thuật. Đọc theo lối cũ, một khu thờ tự dựng theo cấp bậc thì khí đi lên theo trục dọc chứ không trải ra bề rộng, và người đi lễ phải qua từng cấp mới tới được toà trong cùng. Thứ tự ấy trùng với thứ tự của việc tu học: mỗi cấp là một chặng, không nhảy được.
Cuối cùng là lớp nghĩa của đất biên. Trong cách đọc cổ truyền, nơi cuối đất là chỗ khí tán, vì không còn gì che đỡ phía ngoài. Cái lệ dựng chùa ở những nơi như vậy có thể đọc như một phép trấn theo nghĩa rộng nhất của chữ ấy: đặt một điểm tụ khí vào chỗ khí đang tán, để giữ lấy một mốc. Ngôi chùa này và chùa Trúc Lâm Tà Lùng cùng nằm trên dải đất ngoài cùng của tỉnh Cao Bằng, cách nhau khá xa, và khi đọc chúng cùng lúc thì thấy một lối bố trí theo cặp chứ không phải hai điểm rời.
伍Lễ Và Nếp Tu Học
Chùa theo Phật Giáo Bắc Tông và theo dòng Thiền Trúc Lâm, nên lịch lễ ở đây là lịch chung của nhà chùa Bắc Tông cộng thêm các ngày riêng của dòng thiền. Bảng dưới đây ghi những ngày ấy theo âm lịch. Xin nói rõ: đây là lệ chung, không phải một lịch riêng do chùa công bố, nên thứ tự và quy mô từng năm có thể khác.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng nguyên | Lễ đầu năm của nhà chùa Bắc Tông, thường có tụng kinh cầu an. Đây cũng là dịp đông người lui tới nhất trong năm ở vùng này. |
| Rằm tháng Tư | Lễ Phật Đản | Ngày kỷ niệm Đức Phật Thích Ca đản sinh, lễ lớn nhất trong năm của Phật Giáo Bắc Tông, có tắm Phật và tụng niệm. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu Lan | Lễ báo hiếu cha mẹ và cầu siêu cho người đã mất, gắn với kinh Vu Lan Bồn. |
| Mùng 1 tháng Mười Một | Giỗ Sơ Tổ Trúc Lâm | Ngày viên tịch của Sơ Tổ Trần Nhân Tông, ngày trọng riêng của các chùa và thiền viện theo dòng Trúc Lâm. |
| Mùng 8 tháng Chạp | Lễ Phật Thành Đạo | Ngày kỷ niệm Đức Phật thành đạo, một trong các ngày lễ theo lệ chung của nhà chùa Bắc Tông. |
Ngoài các ngày trên, nếp riêng của một ngôi chùa theo dòng Trúc Lâm là các khóa tu: người tại gia về chùa ở lại một hoặc vài ngày, theo thời khóa gồm tọa thiền, tụng kinh, nghe giảng và làm việc chung trong khuôn viên. Đây là chỗ khác rõ nhất giữa một thiền viện và một ngôi đền: ở đền, người ta đến dâng lễ rồi về; ở đây, phần đáng kể của sinh hoạt là việc học và việc ngồi.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Núi Phia Nhằm, xã Đàm Thủy, tỉnh Cao Bằng
- Đường tới
- Chùa nằm trên núi Phia Nhằm, xã Đàm Thủy, tỉnh Cao Bằng, cách thác Bản Giốc chừng năm trăm mét. Từ chân núi lên khu chùa phải đi bộ theo bậc đá.
- Toạ độ
- 22.8546, 106.7197
Đây là chỗ tu học đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào Tam Bảo và nhà thờ Tổ, đi nhẹ nói khẽ, không chạm vào tượng và không tự gióng quả đại hồng chung. Nếu gặp lúc chùa đang có thời khóa tọa thiền hoặc tụng kinh, xin quý vị đứng ngoài hoặc vào ngồi theo chúng, không đi cắt ngang hàng người đang hành lễ. Lối lên chùa là bậc đá dốc, nên ở các đoạn hẹp xin nhường đường cho người đi ngược.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc ở đâu
Chùa nằm trên núi Phia Nhằm, xã Đàm Thủy, tỉnh Cao Bằng, cách thác Bản Giốc chừng năm trăm mét. Khu chùa dựng theo nhiều cấp trên sườn núi, lưng tựa vào núi và mặt trông xuống dòng Quây Sơn cùng tầng thác.
Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc có phải chùa Phật Tích ở Bắc Ninh không
Không. Đây là hai nơi khác nhau hoàn toàn, chỉ trùng ba chữ Phật Tích. Ngôi chùa ở Bản Giốc là chùa dựng mới theo dòng Thiền Trúc Lâm, khánh thành tháng 12 năm 2014 ở Cao Bằng. Ngôi chùa Phật Tích cổ ở Tiên Du, Bắc Ninh, tên chữ Vạn Phúc Tự, gắn với niên đại năm 1057 thời Lý và là di tích quốc gia đặc biệt. Chữ Phật Tích nghĩa là dấu tích nhà Phật, nên nhiều nơi có thể cùng dùng.
Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc xây năm nào
Khởi công tháng 6 năm 2013 và khánh thành tháng 12 năm 2014. Kinh phí khoảng 38 tỷ đồng do vận động công đức. Về diện tích thì nguồn ghi vênh nhau, một bản tin ghi khoảng 3 hecta còn một bài báo khác ghi khoảng 2 hecta, nên chúng tôi ghi cả hai.
Thiền phái Trúc Lâm là gì
Là dòng Thiền do vua Trần Nhân Tông sáng lập năm 1299 sau khi nhường ngôi và lên núi Yên Tử tu hành, gộp các mạch thiền đã có trên đất Việt thành một tông phái của người Việt, với cái lõi tư tưởng cư trần lạc đạo nghĩa là ở giữa cõi đời mà vui với đạo. Ba vị Tổ thời Trần là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Mạch thiền mai một sau thế kỷ 14 và được khôi phục trong thế kỷ 20.
Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc thờ ai
Toà Tam Bảo thờ Phật theo lối Phật Giáo Bắc Tông, nhà thờ Tổ thờ chư Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm. Trong khuôn viên còn có khu tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, vườn tượng La Hán, ban thờ Mẫu theo lối thờ tự nhiều lớp của người Việt, và một đền thờ Nùng Trí Cao, nhân vật thế kỷ 11 được người Nùng và người Tày trong vùng thờ tự từ lâu.