Trước cửa đền là một mặt nước hình bán nguyệt, và đứng giữa lối vào là một khối cây khiến người ta dừng lại trước cả khi nhìn thấy mái đền: ba gốc đa, sanh và si quấn vào nhau tới mức không còn phân được thân nào của cây nào. Trên nghi môn hai tầng tám mái là bốn chữ nói rằng đây là nơi thờ một bậc mẫu nghi thiên hạ.
Điều đáng nói nhất về nơi này không nằm ở cây, cũng không nằm ở hồ. Nó nằm ở chỗ vị được thờ trong hậu cung không phải người Việt. Đây là một phi tần của triều Tống, và người Phố Hiến đã đưa vị ấy vào hàng Mẫu của mình. Trong cả hệ thờ Mẫu của người Việt, trường hợp như vậy rất ít.
壹Một Vị Mẫu Gốc Tống
Tên gọi của nơi này nói ra gần hết lai lịch. Dân quen gọi là Đền Mẫu; tên chữ là Hoa Dương linh từ, trong đó Hoa chỉ Trung Hoa, Dương là họ của vị được thờ, linh từ là đền thiêng. Ngay trong cái tên đã ghi rõ gốc gác ngoại lai của vị chủ đền, chứ không hề giấu. Bốn chữ trên nghi môn, Thiên hạ mẫu nghi, là lời của người Việt đặt cho vị ấy.
Theo cách hệ thờ Mẫu tự sắp xếp lấy mình, trên hết là hàng Tam toà Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên cai miền trời sắc đỏ, Mẫu Thượng Ngàn cai miền rừng núi sắc xanh, Mẫu Thoải cai miền sông nước sắc trắng; dưới hàng Mẫu là hàng Chầu, hàng Quan, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu. Chữ Mẫu trong hệ này không phải chức vị được ai bổ nhiệm mà là một vị thế mà cộng đồng thờ tự dành cho một vị nữ thần. Chính vì là vị thế do cộng đồng dành cho, hệ thờ Mẫu có thể nhận một nhân vật từ bên ngoài vào hàng Mẫu mà không cần thủ tục giáo nghĩa nào; đền Mẫu Phố Hiến là ví dụ rõ nhất của khả năng ấy.
Thần tích như sau. Vị được thờ là một quý phi họ Dương của triều Tống, thời Tống Đế Bính, vị vua cuối cùng của nhà Tống. Khi quân Nguyên diệt Tống, vua và một số phi tần nhảy xuống biển tuẫn tiết; thi hài vị phi họ Dương trôi dạt tới vùng đất sau này là Phố Hiến, dân sở tại vớt lên chôn cất và lập đền thờ. Các tài liệu di tích dẫn theo Đại Nam nhất thống chí rằng đền được khởi dựng năm 1279, đời Trần Nhân Tông; năm ấy cũng là năm nhà Tống mất, nên hai niên đại khớp nhau.
Cần nói rõ mức độ của tư liệu. Việc nhà Tống mất năm 1279 là sử chép; việc một thi hài trôi dạt qua biển tới cửa sông Hồng rồi được dân vớt lên thì thuộc thần tích, không có văn bản đương thời xác nhận. Điều khảo được là nơi thờ này giữ mười lăm đạo sắc phong trải từ triều Lê tới triều Nguyễn cùng tượng thờ thuộc lớp niên đại thế kỷ 17 và 18, những dấu vật chất chắc chắn hơn nhiều so với niên đại 1279.
Hai chỗ hay được hiểu lệch, xin nói bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, đây không phải Dương Quý Phi nhà Đường. Cái tên Dương Quý Phi trong tiếng Việt gần như đã thành riêng cho Dương Ngọc Hoàn, sủng phi của Đường Minh Hoàng ở thế kỷ 8, nhân vật của thơ Bạch Cư Dị và của nhiều tuồng tích. Vị được thờ ở Phố Hiến là một quý phi họ Dương của triều Tống, cách nhân vật kia hơn năm trăm năm, gắn với việc nhà Tống mất năm 1279. Sự trùng họ cùng chức quý phi là nguyên nhân của lẫn lộn.
Thứ hai, đây không phải một cơ sở thờ tự của cộng đồng người Hoa. Phố Hiến từng là thương cảng lớn, có cộng đồng người Hoa sinh sống và có những nơi thờ tự do chính cộng đồng ấy lập, thờ các vị của tín ngưỡng dân gian Hoa như Quan Đế hay Thiên Hậu. Đền Mẫu thì khác: theo tài liệu di tích, đền do dân sở tại người Việt lập, vị được thờ được đưa vào hàng Mẫu của người Việt với danh hiệu tiếng Việt, sắc phong do các triều Việt ban, lễ tiết theo âm lịch Việt. Đây là một trường hợp tiếp nhận, khác hẳn một cơ sở thờ tự của cộng đồng di dân. Phân biệt hai điều này không phải chuyện câu chữ: đó là chỗ khác nhau giữa việc một cộng đồng mang thần của mình theo, và việc một cộng đồng nhận thêm một vị thần không phải của mình.
貳Ngôi Đền Và Một Thương Cảng
Lịch sử ngôi đền không thể tách khỏi lịch sử Phố Hiến. Trong các thế kỷ 17 và 18, đây là thương cảng lớn ở hạ lưu sông Hồng, và câu thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến ra đời từ giai đoạn ấy. Một ngôi đền thờ vị phi của triều đại ngoại quốc đứng được ở nơi như thế thì không lạ: đất buôn bán là đất quen với người ngoài. Về sau sông đổi dòng, cảng lụi dần, còn ngôi đền thì ở lại.
- 1279Khởi dựng đềnTheo Đại Nam nhất thống chí, đền dựng đời Trần Nhân Tông, sau khi thi hài vị phi họ Dương trôi dạt tới vùng đất này. Năm 1279 cũng là năm nhà Tống mất.
- Thế kỷ 17Thời Phố Hiến thịnhPhố Hiến thành thương cảng lớn ở hạ lưu sông Hồng. Đây là giai đoạn nơi thờ tự được mở rộng và nhận nhiều đợt cúng tiến.
- Thế kỷ 17 và 18Tượng thờ trong hậu cungTượng Dương Quý Phi đặt trong khám thờ sơn son thếp vàng ở hậu cung thuộc lớp niên đại này.
- Thời NguyễnDiện mạo kiến trúc hiện cònPhần lớn những gì thấy hôm nay, gồm nghi môn chồng diêm hai tầng tám mái và trang trí rồng phượng, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
- Lê đến NguyễnMười lăm đạo sắc phongĐền giữ mười lăm đạo sắc phong trải từ triều Lê tới triều Nguyễn, hai cỗ kiệu thất cống và bát cống thời Hậu Lê, long sàng long kỷ thế kỷ 18 và 19.
- 2014Di tích quốc gia đặc biệtKhu di tích Phố Hiến, trong đó có đền Mẫu, được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408 ký ngày 31 tháng 12 năm 2014.
參Kiến Trúc Thời Nguyễn Và Khối Cây Ba Gốc
Khuôn viên rộng khoảng ba nghìn mét vuông, dàn theo trục dọc thuần Việt: nghi môn, sân, toà đại bái, thiêu hương, rồi các cung vào tới hậu cung, hai bên có giải vũ và lầu cô. Bộ mái lợp ngói vẩy, đầu đao uốn, đề tài chạm là rồng phượng và hoa lá theo lối thời Nguyễn. Trong hậu cung là khám thờ sơn son thếp vàng, chỗ tập trung nhất của cả công trình về mặt trang trí.
Cửa vào theo lối chồng diêm hai tầng tám mái, đầu đao uốn hình rồng. Trên mái giữa là bốn chữ ghép bằng mảnh gốm, tôn vị được thờ là bậc mẫu nghi thiên hạ.
Ba gian, mái lợp ngói vẩy rồng, là nơi đặt hương án, hoành phi câu đối và diễn ra phần lớn nghi thức dâng hương thường ngày.
Lớp nhà nối giữa đại bái với hậu cung, thu hẹp dần bề rộng để dẫn người từ chỗ sáng vào chỗ tối, cách bố cục quen của đền miếu Bắc Bộ.
Lớp trong cùng, đặt khám thờ sơn son thếp vàng và tượng vị được thờ thuộc lớp niên đại thế kỷ 17 và 18. Số gian được các nguồn ghi khác nhau.
Khối cây ba gốc đa, sanh, si quấn thành một, đứng ngay trước cửa đền. Nhiều tài liệu gọi đây là cây đa cổ nhất vùng châu thổ Bắc Bộ.
Khối cây ba gốc đáng được nói riêng. Đa, sanh và si là ba loài khác nhau nhưng cùng họ, cùng lối buông rễ khí từ cành xuống đất; khi ba gốc mọc sát nhau thì rễ loài này bám vào thân loài kia, và sau vài trăm năm thì thành một khối không tách được. Đây là hiện tượng sinh học chứ không phải việc lạ, nhưng người Phố Hiến đọc nó theo lối riêng: ba thân trong một gốc, gợi hình một người mẹ ôm con, hợp với chính danh hiệu mẫu nghi trên nghi môn.
Hai chỗ nguồn vênh nhau, xin ghi thẳng. Về tuổi cây, các tài liệu phần lớn ghi gần tám trăm năm, tức tính từ niên đại dựng đền; một nguồn khác ghi trên bảy trăm năm. Khoảng chênh là hệ quả của việc tuổi cây được suy từ niên đại đền chứ không từ một phép định tuổi độc lập. Về hậu cung, một nguồn ghi ba gian, nguồn khác ghi năm gian. Chúng tôi nêu cả hai chứ không chọn bừa.
Một lời về chữ Hán ở đầu bài: tên chữ Hoa Dương linh từ được các tài liệu chép bằng chữ quốc ngữ, còn bốn chữ Hán ở đầu bài do chúng tôi suy ra theo nghĩa từng chữ, không chép từ hoành phi hay bia ký tại đền.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Thứ phải đọc trước tiên là hồ Bán Nguyệt trước cửa đền. Khoảng trống trước cửa một nơi thờ gọi là minh đường, và minh đường tốt nhất là minh đường có nước lặng, vì nước lặng giữ được khí. Một mặt nước hình cung ôm trước cửa thì sách vở ví như một vòng đai vắt qua trước mặt, và vòng đai ấy được coi là thế giữ chứ không phải thế đẩy. Đền Mẫu có sẵn minh đường đúng như vậy, điều mà nhiều đền miếu vùng châu thổ phải đào hồ nhân tạo mới có.
Nhưng nguồn gốc của hồ này không phải phong thủy. Theo cách giải thích phổ biến ở địa phương, hồ Bán Nguyệt là dấu vết một khúc sông Hồng cũ bị bỏ lại khi dòng chảy đổi, tức sản phẩm của địa mạo chứ không của bàn tay người. Điều ấy làm thế đất ở đây thú vị hơn: người xưa dựng đền bên một khúc sông đang chảy, sông rút đi để lại mặt nước lặng, và chỗ đứng của ngôi đền vô tình chuyển từ thế bên dòng sang thế bên đầm, tức từ thế khí dẫn sang thế khí tụ, một cuộc đổi thế theo hướng có lợi mà không ai chủ động làm.
Thứ hai là khối cây trước cửa. Một vật lớn chắn trước cửa thường bị coi là chướng, nhưng có ngoại lệ: cây cổ thụ ở nơi thờ tự được xếp vào loại án, tức vật chắn có lợi, vì nó che bớt gió trực và làm người tới phải đi vòng, phải chậm lại trước khi vào. Cộng với mặt hồ phía ngoài, lối vào đền thành một chuỗi ba lớp: nước, cây, rồi nghi môn, làm chậm bước chân theo đúng thứ tự mà đền miếu cổ truyền vẫn muốn. Sau cùng, Phố Hiến là đất cửa sông, đất buôn, tức đất thuộc về động chứ không thuộc về tĩnh: khí đến rồi đi, người đến rồi đi. Một vị thần được đưa tới bằng đường nước rồi ở lại và được nhận vào hàng Mẫu của người bản địa là chuyện chỉ có thể xảy ra ở một mảnh đất như thế; và trong phong thủy, sự ăn khớp giữa thân thế vị được thờ với tính chất mảnh đất đáng kể hơn việc ngôi đền có tựa núi hay không.
伍Lễ Hội Tháng Ba Và Lệ Đổi Áo
Đền có một kỳ hội lớn và một lệ nhỏ, cả hai tính theo âm lịch. Kỳ hội lớn mở từ mùng Mười tháng Ba và kéo tới rằm, là một trong những kỳ hội đông nhất vùng Phố Hiến. Lệ nhỏ là lễ mộc dục, tức lễ tắm tượng và đổi áo cho vị được thờ, vào ngày mười bốn tháng Bảy.
| Ngày âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 10 tháng Ba | Khai hội | Ngày mở hội, có tế lễ mở đầu và dâng hương. Đây là ngày được lấy làm mốc chính của lễ hội đền Mẫu. |
| Ngày 12 tháng Ba | Rước du | Ngày rước kiệu, đoàn rước đi quanh khu vực Phố Hiến, có múa rồng, múa lân và dàn nhạc lễ đi kèm. |
| Ngày 13 tháng Ba | Tế lễ chính | Ngày đại tế của đội tế, gồm đọc văn tế, dâng hương và hát chầu văn tại đền. |
| Ngày 15 tháng Ba | Tế tạ và khép hội | Ngày cuối kỳ hội, làm lễ tạ rồi hạ cờ hội. |
| Ngày 14 tháng Bảy | Lễ mộc dục và đổi áo | Lệ tắm tượng và thay bộ áo mũ của vị được thờ, tiến hành gọn trong nội bộ nhà đền chứ không thành hội. |
Trong kỳ hội có các sinh hoạt gắn với đất sông nước và đất buôn: đua thuyền trên hồ, múa nước, cùng chọi gà, cờ tướng và cờ người. Phần nghi lễ gồm tế, rước kiệu, dâng hương và hát chầu văn, lối hát nghi lễ của hệ thờ Mẫu với dàn nhạc đàn nguyệt, trống, phách và cảnh. Đền cũng có lệ xin thẻ, dùng một ống thẻ trăm quẻ; chúng tôi ghi lại như một dữ kiện về tập quán.
Một điểm đáng ghi về lễ tiết ở đây. Nếu vị được thờ là nhân vật gốc Trung Hoa, người ta có thể chờ đợi các nghi thức mang dấu Trung Hoa; nhưng lễ tiết tại đền lại thuần theo lối Việt: ngày lễ tính theo âm lịch Việt, có đội tế nam quan và đội dâng hương nữ theo khuôn đình đền Bắc Bộ, có hát chầu văn là lối hát nghi lễ riêng của hệ thờ Mẫu người Việt, có đua thuyền và cờ người là trò hội của làng Việt. Đây là dấu rõ nhất cho biết việc tiếp nhận ở đây đã đi trọn đường: không chỉ nhận một vị thần, mà đặt vị ấy vào nguyên một bộ nghi thức của mình.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường Bãi Sậy, phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên
- Đường tới
- Đền nằm trên đường Bãi Sậy, phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên, ngay bên hồ Bán Nguyệt ở khu trung tâm. Các di tích khác của Khu di tích Phố Hiến đều nằm trong bán kính đi bộ hoặc đi xe ngắn.
- Toạ độ
- 20.6497, 106.0522
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm vào khám thờ, tượng, kiệu cổ và long sàng, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên hương án. Không leo lên rễ và gốc cây đa sanh si trước cửa. Đền Mẫu nằm trong Khu di tích Phố Hiến, đi một nơi mà bỏ các di tích lân cận là mới thấy một phần.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Mẫu Hưng Yên thờ ai
Thờ một quý phi họ Dương của triều Tống, thời Tống Đế Bính, được dân Phố Hiến tôn là mẫu nghi thiên hạ. Tên chữ của đền là Hoa Dương linh từ, trong đó Hoa chỉ Trung Hoa và Dương là họ của vị được thờ. Đền được các tài liệu ghi là khởi dựng năm 1279.
Đây có phải Dương Quý Phi nhà Đường không
Không. Dương Quý Phi mà người Việt quen biết là Dương Ngọc Hoàn, sủng phi của Đường Minh Hoàng ở thế kỷ 8. Vị được thờ ở Phố Hiến là một quý phi họ Dương của triều Tống, gắn với việc nhà Tống mất năm 1279, cách nhân vật kia hơn năm trăm năm.
Cây đa trước đền bao nhiêu tuổi
Nguồn vênh nhau. Phần lớn tài liệu ghi gần tám trăm năm, tức tính theo niên đại dựng đền; một nguồn khác ghi trên bảy trăm năm. Đây là khối ba gốc đa, sanh và si quấn thành một, được nhiều tài liệu gọi là cây đa cổ nhất vùng châu thổ Bắc Bộ.
Lễ hội đền Mẫu vào ngày nào
Kỳ hội chính mở từ mùng Mười tháng Ba âm lịch và kéo tới rằm, gồm khai hội, rước du ngày 12, tế chính ngày 13 và tế tạ ngày 15. Ngoài ra ngày 14 tháng Bảy âm lịch có lễ mộc dục, tức lễ tắm tượng và đổi áo cho vị được thờ.
Đền Mẫu có phải cơ sở thờ tự của người Hoa không
Không. Theo tài liệu di tích, đền do dân sở tại người Việt lập, vị được thờ được đưa vào hàng Mẫu của người Việt với danh hiệu tiếng Việt, sắc phong do các triều Việt ban và lễ tiết theo lối Việt. Phố Hiến cũng có nơi thờ tự do chính cộng đồng người Hoa lập, nhưng đó là các cơ sở khác.