Đi vòng bờ ao Bà Om, qua một hàng sao dầu cổ thụ có rễ nổi cao khỏi mặt đất, quý vị gặp một chiếc cổng ba tháp bắc qua hào nước. Trên trụ cổng là tượng thần bốn mặt Mahaprum và Krud, chim thần mình người đầu chim, hai cánh dang ra trong thế đỡ lấy phần trên của cổng. Qua cổng, con đường chạy giữa hai hàng cây dẫn tới ngôi chánh điện dựng trên nền cao hai bậc, mái xếp ba tầng, đầu mái vuốt dài thành đuôi rắn Naga.
Đây không phải mái chùa quen mắt của người Kinh. Đây là chùa của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long, theo Phật Giáo Nam Tông Khmer, và theo tư liệu địa phương thì đây là ngôi chùa cổ nhất trong các chùa Khmer của đất Trà Vinh cũ. Tên Khmer của chùa được dịch là văn minh, nên chùa còn tên Việt là Chùa Văn Minh. Bài này sẽ nói rõ dòng Phật Giáo ấy khác dòng Bắc Tông ở những chỗ nào.

壹Ngôi Cổ Tự Của Người Khmer
Tên Khmer của chùa được các nguồn phiên âm không giống nhau: Angkorajaborey, Angarrãjapurĩ, hoặc Wat Angkor Raig Borei. Điểm chung là phần đầu Ang, và chữ ấy vào tiếng Việt thành tên gọi tắt Chùa Âng.
Chùa không đứng lẻ. Nơi này nằm trong một cụm ba điểm liền nhau: ao Bà Om, chùa Âng và Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khmer ở ngay đối diện. Với đồng bào Khmer vùng này, cụm ấy là một chỗ duy nhất, chỗ hội tụ của cả nếp lễ, nếp học và nếp hội hè.
Nam Tông, tên gọi khác là Theravada, nghĩa là lời dạy của các bậc trưởng lão, là dòng Phật Giáo truyền theo ngả phía nam qua Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Campuchia rồi vào đồng bằng sông Cửu Long theo cộng đồng Khmer. Dòng này lấy bộ Tam tạng Pali làm kinh điển gốc, không dùng hệ Đại thừa.
Theo giáo nghĩa Nam Tông, bậc đáng thờ là Đức Phật Thích Ca, vị Phật lịch sử của thời này; các vị Bồ Tát trong hệ Đại thừa như Quán Thế Âm hay Địa Tạng không nằm trong hệ thờ tự ấy. Quả vị được đặt làm đích tu tập là A La Hán, tức dứt hết phiền não ngay trong đời này, chứ không phải con đường Bồ Tát trải nhiều kiếp của Đại thừa.
Chỗ khác nhau giữa Nam Tông Khmer và Bắc Tông của người Kinh, xin ghi thành từng mục, bằng giọng sử liệu và không xếp bên nào cao hơn bên nào.
Cách thờ. Chánh điện Nam Tông chỉ đặt tượng Phật Thích Ca; ở chùa Âng, quanh pho tượng chính là hơn một trăm pho Thích Ca khác. Chùa Bắc Tông thường có Tam Thế Phật, Quan Âm, Địa Tạng, Hộ Pháp, nhiều nơi còn có ban thờ Mẫu.
Giới luật và ăn uống. Tỳ khưu Nam Tông giữ bộ giới theo luật Pali, đi khất thực và không thọ thực sau giữa trưa, nhận được gì dùng nấy theo phép tam tịnh nhục, nên không có lệ ăn chay trường. Tăng sĩ Bắc Tông giữ lệ ăn chay trường và thường không đi khất thực.
Y phục và ngôn ngữ. Y của sư Nam Tông màu vàng cam hoặc nâu đỏ, quấn quanh người và để hở vai phải khi hành lễ; kinh tụng bằng tiếng Pali ghi bằng chữ Khmer, phần giảng thì dùng tiếng Khmer. Tăng sĩ Bắc Tông mặc áo tràng có tay và tụng theo âm Hán Việt.
Vai trò của chùa. Trong nếp Khmer, chùa còn là trường học. Chùa Âng từng là giảng đường dạy chữ Pali và chữ Khmer, và là chỗ thanh niên vào tu một thời gian để báo hiếu cha mẹ rồi hoàn tục.
Có hai chỗ hay hiểu lầm ở đây, xin nói bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, các vị thần trên cổng và trên mái. Người mới tới thấy thần bốn mặt Mahaprum, chim thần Krud và rắn Naga đắp khắp cổng, cột và diềm mái, rồi kết luận rằng chùa Khmer thờ thần Ấn Độ Giáo, hoặc rằng đây là một đền tháp chứ không phải một ngôi chùa. Xét theo cách bài trí thì không phải. Những hình tượng ấy là lớp tạo hình mà mỹ thuật Khmer thừa hưởng từ thời kỳ Ấn Độ Giáo và Phật Giáo cùng tồn tại trên đất Angkor; chúng nằm ở cổng, ở cột, ở mái, tức ở phần trang trí và phần che đỡ, chứ không nằm trên bàn thờ. Các vị ấy đứng trong vai người giữ cửa và người đỡ mái, không đứng trong vai đối tượng lễ bái.
Thứ hai, niên đại một nghìn năm. Rất nhiều bài viết gọi chùa Âng là ngôi chùa hơn một nghìn năm tuổi, dựa vào mốc khai sơn năm 990. Cần phân biệt: mốc ấy là truyền tụng, các nguồn đều ghi kèm rằng chưa có tư liệu kiểm chứng. Mốc có tư liệu là năm 1695 cho lần dựng chùa và năm 1842 cho lần dựng lại bằng tường xây mái ngói. Ngôi chánh điện quý vị đang thấy thuộc lớp 1842 và các lần tu bổ về sau, không phải công trình của thế kỷ mười.
貳Từ Chánh Điện Tre Lá Tới Tường Xây Mái Ngói
Lịch sử chùa Âng có hai lớp rất khác nhau về độ chắc của tư liệu: lớp truyền tụng trong cộng đồng, đặt mốc khai sơn vào cuối thế kỷ mười, và lớp các mốc được chép lại, bắt đầu từ cuối thế kỷ mười bảy. Chúng tôi ghi cả hai và nói rõ lớp nào là lớp nào.
- 990Truyền tụng khai sơnMốc khai sơn theo truyền tụng là năm 990, tức Phật lịch 1543, và các nguồn đều ghi kèm rằng mốc này chưa được kiểm chứng, tức thuộc lớp ký ức cộng đồng.
- 1695Dựng chùa, chánh điện tre láMốc dựng chùa được các nguồn ghi là năm 1695, tức Phật lịch 2239. Chánh điện thời ấy làm bằng tre lá, chưa phải công trình xây.
- 1842Dựng lại bằng tường xây và mái ngóiĐời Thiệu Trị, chùa được dựng lại với tường xây, mái lợp ngói, hệ cột và kết cấu bằng gỗ quý. Phần lớn hình dáng chánh điện còn thấy hôm nay định hình từ lần này.
- Thế kỷ 19 tới 20Giảng đường dạy chữ Pali và chữ KhmerChùa giữ vai một cơ sở giáo dục, mở lớp dạy chữ Pali và chữ Khmer cho con em trong vùng, đúng nếp chùa Khmer là vừa thờ tự vừa dạy học.
- 1994Di tích quốc giaChùa được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 25 tháng 8 năm 1994, cùng lúc với việc xếp hạng ao Bà Om liền kề.
- Những thập niên gần đâyTu bổ và cụm di tíchChùa qua nhiều đợt tu bổ theo từng hạng mục, phần trang trí và hệ mái làm lại theo đúng mẫu thức Khmer. Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khmer dựng ngay đối diện, làm thành một cụm cùng ao Bà Om.
Về địa giới, chùa nay thuộc phường Nguyệt Hóa, tỉnh Vĩnh Long. Trước đây nơi này thuộc phường 8 thành phố Trà Vinh cũ, nên phần lớn tư liệu về chùa còn ghi theo địa danh Trà Vinh; bản thân ngôi chùa không dời đi đâu.
參Cổng Ba Tháp Và Chánh Điện Trên Nền Cao
Chùa Khmer có một quy cách riêng và chùa Âng giữ gần đủ: chánh điện là công trình cao nhất, dựng trên nền cao và theo truyền thống Nam Tông thì quay mặt về hướng Đông. Quanh đó là trai đường, giảng đường, tăng xá, tháp đựng di cốt và sân. Bao ngoài cùng là vòng rào và một hào nước sâu, khiến cả khu chùa nằm trên một khoảnh đất nổi giữa cây cối.
Cổng làm theo lối tam quan với ba ngọn tháp tượng trưng, bắc qua hào nước. Trên trụ cổng đắp tượng thần bốn mặt Mahaprum và chim thần Krud mình người đầu chim; phần chống đỡ có tượng Keynor. Các nguồn xem chạm khắc ở cổng là phần công phu nhất của chùa.
Chánh điện đặt trên nền cao khoảng hai mét, lên theo hai bậc. Nâng nền là quy cách chùa Khmer: bàn thờ Phật phải cao hơn đầu người đứng dưới sân, và ở vùng đất thấp thì nền cao còn giữ chánh điện khỏi nước.
Mái chánh điện xếp ba tầng chồng lên nhau, lợp ngói, các đầu mái vuốt dài thành đuôi rắn Naga. Cách xếp mái nhiều tầng làm khối nhà trông cao hơn thực tế.
Pho tượng Thích Ca chính cao khoảng 2,1 mét, sơn son thếp vàng. Quanh đó các nguồn ghi có tới 111 pho tượng Phật khác bằng đá, đồng, đồng thau và xi măng, mỗi pho một thế. Chánh điện không đặt tượng Bồ Tát.
Bốn mặt tường trong chánh điện vẽ kín các cảnh trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca, phần trần vẽ những chặng trọng nhất. Đây là lối kể chuyện bằng tranh của chùa Khmer.
Trước chánh điện có ngôi tháp năm ngọn giữ di cốt các vị sư cả, kiểu tháp mà các nguồn cho biết là ít thấy ở chùa Khmer vùng này. Khuôn viên có hàng trăm cây sao dầu cổ thụ cùng lớp tre trúc, làm thành một vành rừng quanh chùa.
Ba chỗ các nguồn ghi khác nhau, xin nêu thẳng thay vì chọn bừa một con số.
Diện tích khuôn viên. Một nguồn ghi con số chi tiết 32.749,6 mét vuông; các bài của cơ quan du lịch và báo chí ghi gọn là khoảng 4 hecta; một bản tin phát thanh ghi theo lối đo địa phương là khoảng 45 công, tức gần 45.000 mét vuông. Ba con số chênh nhau khá xa, nhiều khả năng vì mỗi nguồn tính một phạm vi khác, có nguồn chỉ tính phần trong vòng rào, có nguồn tính cả rừng cây và hào nước.
Số cột chánh điện. Có nguồn ghi 12 cây cột gỗ; có nguồn ghi 18 cột gỗ quý, trong đó 12 cột được chạm rồng và sơn son thếp vàng. Cách đọc hợp lý là coi con số 12 chỉ hệ cột chính bên trong, còn 18 tính cả hàng cột ngoài; nhưng đây là suy luận của chúng tôi, không phải điều nguồn nào nói ra.
Cách phiên âm tên Khmer. Ba lối ghi Angkorajaborey, Angarrãjapurĩ và Wat Angkor Raig Borei là chuyện phiên âm chữ Khmer sang chữ Latinh, không phải ba cái tên khác nhau; bảng dữ liệu của thư viện lấy lối Angkorajaborey.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, không phải điều được chép trong tư liệu của chùa. Cần nói thêm rằng hướng chánh điện ở đây đã được định sẵn bằng một quy tắc của chính tông phái: chùa Nam Tông đặt chánh điện quay về hướng Đông theo truyền thống về thế ngồi thành đạo của Đức Phật, chứ không do một phép chọn hướng nào khác. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Trước hết là thế đất giồng. Cả vùng này là đất giồng cát, tức những dải đất nổi cao hơn ruộng chung quanh, do cát biển bồi tụ lại từ rất lâu. Trong phép xem đất của người Việt, một dải đất nổi cao giữa vùng thấp được coi là mạch nổi, chỗ đất có xương chứ không phải chỗ đất bùn; người xưa ở đồng bằng hay chọn những dải như thế để dựng công trình thờ tự, vì đất cao thì khô và bền.
Thứ hai là nước. Chùa có nước ở hai lớp: hào nước sâu chạy vòng quanh khu chùa, và mặt nước lớn của ao Bà Om ngay bên. Trong phép cũ, nước là thứ tụ khí, và một khoảnh đất có nước bao quanh thì khí không tán. Đáng nói là cái hào ấy trước hết có công dụng thực: ngăn ranh đất chùa, giữ nền khỏi lở và chứa nước trong mùa khô. Chỗ hợp lý về công dụng và chỗ đắc cách theo lối đọc cũ ở đây trùng nhau.
Thứ ba là vành rừng cổ thụ và hình thể. Hàng trăm cây sao dầu vây quanh chùa, tán giao nhau kín trên đầu; theo lối đọc cổ truyền, một vành cây cao vây quanh công trình giữ vai che chắn, giữ cho khí của một nơi không bị thổi tán. Bên trong vành ấy, chánh điện dựng trên nền cao hai bậc với hệ mái ba tầng vuốt nhọn: phần nền vuông rộng thuộc dáng Thổ nằm ngang, tức thế vững, phần mái nhọn vươn lên thuộc dáng Hỏa, tức thế bốc. Nhọn ở trên mà bè ở dưới thì phép cũ gọi là có ngọn có gốc. Xin nhắc rằng bố cục này là mẫu thức có sẵn của kiến trúc chùa Khmer.
Sau cùng là hướng Đông. Phương Đông trong phép cũ thuộc hành Mộc, ứng với mùa xuân và khí buổi sớm, được coi là phương khởi phát; cửa mở hướng Đông là cửa đón sinh khí đầu ngày. Ở đây hướng ấy không do thầy địa lý chọn mà do quy tắc tông phái định, nhưng nhìn bằng con mắt cũ thì kết quả trùng nhau. Hai truyền thống khác gốc gặp nhau vì cùng lấy mặt trời làm chuẩn, và đó là tất cả những gì nói chắc được.
伍Lễ Theo Lịch Khmer
Lịch lễ ở đây đi theo lịch Khmer và theo lịch nhà Phật Nam Tông, nên không trùng với lịch hội hè theo âm lịch của người Kinh. Ba kỳ lớn nhất trong năm là Chôl Chnăm Thmây, Sen Đôlta và Ok Om Bok. Riêng Ok Om Bok ở đây có một chỗ đặc biệt: phần hội của kỳ lễ này diễn ra ngay trên bờ ao Bà Om liền kề, nên chùa và ao làm thành một địa bàn lễ chung.
| Thời điểm | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Khoảng giữa tháng Tư dương lịch | Chôl Chnăm Thmây | Tết năm mới của người Khmer, kéo dài ba ngày, có lễ rước đại lịch, tắm tượng Phật, đắp núi cát và dâng cơm lên chư tăng. Kỳ đông nhất trong năm. |
| Rằm tháng Tư theo lịch Phật | Visakha Bochea | Lễ tưởng niệm ba sự kiện lớn trong đời Đức Phật là đản sinh, thành đạo và nhập Niết Bàn, theo quan niệm Nam Tông đều rơi vào cùng một ngày rằm. |
| Ba tháng mùa mưa | Nhập hạ và xuất hạ | Mùa an cư của chư tăng, các vị ở yên trong chùa tu học và không đi xa. Mùa này kết thúc bằng lễ xuất hạ, rồi tới lễ dâng y Kathina. |
| Cuối tháng Tám tới đầu tháng Chín lịch Khmer | Sen Đôlta | Lễ cúng ông bà. Phật tử mang cơm và vật phẩm tới chùa dâng cúng, nhờ chư tăng tụng kinh hồi hướng; ở chùa Âng lễ này gắn với các tháp đựng di cốt. |
| Rằm tháng Mười theo lịch Khmer | Ok Om Bok | Lễ cúng trăng, tạ ơn mặt trăng đã cho mùa màng, có nghi thức đút cốm dẹp dưới trăng rằm. Phần hội tổ chức bên ao Bà Om, quy tụ cả người Khmer, Kinh và Hoa trong vùng. |
Ngoài phần lễ, chùa giữ hai việc thuộc nếp chung của chùa Khmer: tụng kinh Pali trong các thời khóa, và giữ vai một chỗ học. Với một cộng đồng mà chữ viết không được dùng nhiều ngoài đời thường, việc dạy chữ ấy quan trọng không kém phần lễ bái.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu vực Ao Bà Om, phường Nguyệt Hóa (phường 8 thành phố Trà Vinh cũ), Vĩnh Long
- Đường tới
- Chùa nằm trong cụm di tích ao Bà Om, phường Nguyệt Hóa, cách khu trung tâm thành phố Trà Vinh cũ chừng năm cây số về phía tây nam. Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khmer nằm ngay đối diện cổng chùa, đi bộ được.
- Toạ độ
- 9.9106, 106.3253
Đây là nơi tu học đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ của chính nơi ấy là lệ phải theo. Bỏ giày trước khi lên chánh điện, ăn mặc kín vai kín gối. Trong chánh điện nên ngồi xếp chân sang một bên, không duỗi chân về phía tượng Phật. Khi dâng vật phẩm cho chư tăng thì đặt xuống trước mặt hoặc đưa qua một tấm khăn, nữ giới không chạm tay vào sư. Không trèo lên nền các tháp đựng di cốt trong khuôn viên.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Âng thờ ai
Chánh điện chỉ thờ Đức Phật Thích Ca. Pho tượng chính cao khoảng 2,1 mét, sơn son thếp vàng; quanh đó các nguồn ghi có tới 111 pho Thích Ca khác. Theo quy cách Nam Tông, chùa không đặt tượng Bồ Tát như Quán Thế Âm hay Địa Tạng, cũng không có ban thờ Mẫu.
Chùa Âng có thật là hơn một nghìn năm tuổi không
Mốc khai sơn năm 990 là truyền tụng, và các nguồn đều ghi kèm rằng chưa có tư liệu kiểm chứng. Mốc có tư liệu là năm 1695 cho lần dựng chùa với chánh điện tre lá, và năm 1842 cho lần dựng lại bằng tường xây mái ngói. Ngôi chánh điện hiện thấy thuộc lớp 1842 và các lần tu bổ về sau.
Tượng thần bốn mặt và chim thần trên cổng chùa là thần gì
Tượng bốn mặt là Mahaprum, chim thần mình người đầu chim là Krud, rắn nhiều đầu trên đầu mái là Naga. Đây là lớp tạo hình mà mỹ thuật Khmer thừa hưởng từ thời Ấn Độ Giáo và Phật Giáo cùng tồn tại trên đất Angkor. Các hình tượng ấy nằm ở cổng, cột và mái, không nằm trên bàn thờ.
Phật Giáo Nam Tông Khmer khác Bắc Tông ở chỗ nào
Nam Tông giữ Tam tạng Pali, chỉ thờ Phật Thích Ca, tỳ khưu đi khất thực và không thọ thực sau giữa trưa nên không có lệ ăn chay trường, y vàng cam quấn hở vai phải, tụng kinh bằng tiếng Pali. Bắc Tông của người Kinh thờ nhiều vị, giữ lệ ăn chay trường, mặc áo tràng có tay và tụng theo âm Hán Việt.
Chùa Âng nay thuộc tỉnh nào
Chùa thuộc phường Nguyệt Hóa, tỉnh Vĩnh Long. Trước đây nơi này là phường 8 thành phố Trà Vinh cũ, nên phần lớn tư liệu và bài viết về chùa còn ghi theo địa danh Trà Vinh. Bản thân ngôi chùa không dời đi đâu, chỉ có tên đơn vị hành chính thay đổi.