VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Mẫu Ỷ La

倚羅祠 · Đền Ỷ La

Ngôi đền dựng trên chỗ dân làng từng đưa tượng Mẫu về lánh, nay là nơi khởi kiệu của lễ rước Mẫu ba đền xứ Tuyên.

Khởi dựng
Chưa rõ
nguồn ghi năm 1747 hoặc cuối thế kỷ 19
Xếp hạng
Di tích quốc gia
nguồn ghi năm 2015, nguồn khác ghi 2016
Lễ rước Mẫu
tháng Hai và tháng Bảy
di sản phi vật thể quốc gia năm 2018

Đền nằm lùi vào trong khu dân cư phía tây thành phố, không có mặt nước lớn trước cửa, cũng không có núi sau lưng. Quý vị đi qua một nghi môn không cao, vào một khoảng sân phẳng, và thấy một ngôi đền vừa phải, kín đáo, không có gì đáng gọi là hình thế.

Nhưng vào trung tuần tháng Hai âm lịch, chính khoảng sân này là nơi cỗ kiệu đầu tiên nhấc lên. Từ đây kiệu Mẫu đi về đền Hạ bên sông Lô, chờ kiệu từ đền Thượng dưới chân núi Dùm sang, rồi cả ba cùng vào một cuộc lễ. Ngôi đền khiêm tốn nhất trong ba ngôi đền Mẫu xứ Tuyên lại giữ một vai trò mà hai ngôi kia không có, và lý do nằm trong cái tên Ỷ La.

Hai Vị Công Chúa Và Hàng Mẫu

Nơi này được gọi là đền chứ không gọi là phủ, tuy vị được thờ chính là một vị Mẫu. Trong cách dùng chữ của người Việt, phủ thường chỉ nơi thờ Mẫu thuộc mạch Liễu Hạnh với đủ lớp Tứ phủ, còn đền là chữ rộng hơn, dùng cho cả nơi thờ thần bản địa. Ở xứ Tuyên, cả ba ngôi đền Mẫu đều mang chữ đền, dấu vết cho biết lớp thờ tự ở đây có gốc bản địa trước khi được đọc lại theo hệ Tứ phủ.

Theo giáo nghĩa

Theo cách hệ thờ Mẫu tự sắp xếp lấy mình, trên hết là hàng Tam toà Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên cai miền trời sắc đỏ, Mẫu Thượng Ngàn cai miền rừng núi sắc xanh, Mẫu Thoải cai miền sông nước sắc trắng. Dưới hàng Mẫu là hàng Chầu, hàng Quan, hàng Ông Hoàng, rồi hàng Cô và hàng Cậu, mỗi vị một sắc áo, một bản chầu văn. Riêng ở đây còn có ban thờ Cô Tư Ỷ La, một vị hàng Cô mang chính địa danh của mảnh đất này. Lối đặt danh hiệu theo tên đất như vậy quen thấy khi tín ngưỡng Tứ phủ lan tới một địa phương rồi hút tên đất ấy vào hệ thống của mình.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, thần tích của cả ba ngôi đền xứ Tuyên cùng chép một chuyện. Hai vị công chúa Ngọc LânPhương Dung theo xa giá đi men sông Lô; thuyền dừng ở một khúc sông thì gặp cơn giông lớn, hai vị hiển hóa về trời, dân sở tại lập miếu thờ và về sau tôn làm Thánh Mẫu. Các tài liệu địa phương dẫn chuyện này theo Đại Nam nhất thống chí. Đây là lớp thần tích chứ không phải sử biên niên: không niên đại, không tên vua, và bản chép còn khác nhau cả về tên hai vị, có bản gọi là Quỳnh HoaMai Hoa. Nguồn cũng vênh về thân thế: phần lớn ghi hai vị là con vua Hùng, một số bản đặt hai vị vào thời Trần, lại có nguồn coi hai vị là con gái Long Vương, tức đọc theo hướng Thoải phủ.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay được hiểu lệch, xin nói bằng giọng sử liệu. Nhiều người thấy ba ngôi đền mang ba tên Hạ, Thượng, Ỷ La rồi hiểu rằng mỗi ngôi thờ một vị trong Tam toà. Theo thần tích của chính ba ngôi đền thì không phải như vậy: cả ba cùng thờ hai vị công chúa ấy, và chính vì cùng thờ một đối tượng nên mới có lệ rước kiệu từ hai đền về hội với nhau ở đền Hạ. Cách gán mỗi ngôi một vị trong Tam toà là lớp giải thích về sau, nảy ra khi hệ Tứ phủ lan rộng.

Bản thân tài liệu cũng vênh ở điểm này: có nguồn ghi đền Ỷ La thờ Mẫu Thượng Ngàn, nguồn khác ghi Mẫu Thượng Thiên, lại có tài liệu gắn vị được thờ ở đây với công chúa Phương Dung trong vai Mẫu Thoải. Chúng tôi nêu cả ba. Điều các nguồn thống nhất là đền còn thờ Đức Thánh Trần.

Từ Chỗ Lánh Nạn Thành Ngôi Đền

Gốc tích ngôi đền này khác hẳn gốc tích của hai ngôi kia. Đền Hạ và đền Thượng được dựng ở nơi thần tích xảy ra, tức ở khúc sông và ở chân núi. Đền Ỷ La được dựng ở nơi mà tượng Mẫu từng được đưa tới để lánh, một chỗ không có liên hệ gì với thần tích trước đó.

Các tài liệu địa phương chép rằng vào thời Nguyễn, khi có tin loạn sắp tràn tới, dân sở tại đã chở tượng Mẫu từ đền Hạ vào thôn Gốc Đa thuộc xã Ỷ La để lánh. Sau khi yên, tượng được rước về chỗ cũ, nhưng dân thôn Gốc Đa dựng một ngôi đền ngay tại nơi tượng từng đặt, để giữ lấy dấu. Chính từ đấy mà có tên đền Ỷ La, lấy thẳng tên xã làm tên đền, và cũng chính từ đấy mà có lệ rước kiệu từ Ỷ La về đền Hạ: đường rước hôm nay là đường mà cỗ tượng ngày xưa đã đi, đi ngược lại.

  • Thần tíchHai công chúa hiển hóa bên sông Lô
    Hai vị Ngọc Lân và Phương Dung hiển hóa ở một khúc sông Lô, dân sở tại lập miếu thờ. Lớp thần tích không có niên đại, được dẫn theo Đại Nam nhất thống chí.
  • 1738Dựng đền Hạ
    Đền Hạ bên sông Lô dựng thời Lê Trung Hưng, là ngôi đền gốc nơi thờ tượng Mẫu trước khi có việc lánh nạn. Đền Thượng dưới chân núi Dùm dựng khoảng năm 1801.
  • 1747Niên đại dựng đền theo một hướng nguồn
    Một số tài liệu ghi đền Ỷ La dựng năm Cảnh Hưng thứ tám, đời Lê. Niên đại này vênh với hướng nguồn nêu ngay dưới đây.
  • Thời NguyễnĐưa tượng Mẫu về Ỷ La rồi dựng đền
    Dân sở tại chở tượng Mẫu từ đền Hạ vào thôn Gốc Đa xã Ỷ La để lánh khi có loạn. Sau khi yên, tượng được rước về, và đền mới được dựng tại chỗ tượng từng đặt.
  • Thế kỷ 19Các đạo sắc phong
    Đền còn giữ sắc phong của các vua triều Nguyễn, nội dung nêu công lao phù giúp việc nước và giữ yên cho dân. Số lượng được các nguồn ghi khác nhau.
  • 2018Di sản phi vật thể quốc gia
    Lễ hội rước Mẫu ba đền được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Lệ rước này được tổ chức lại từ năm 2007 sau một thời gian gián đoạn.
Theo sử liệu

Ba chỗ nguồn vênh nhau, xin nói thẳng. Về niên đại dựng đền, một hướng tài liệu ghi năm Cảnh Hưng 1747, tức đời Lê; hướng khác ghi cuối thế kỷ 19. Hai con số cách nhau hơn trăm năm, và đáng chú ý là chính câu chuyện lánh nạn lại được các tài liệu đặt vào thời Nguyễn, tức sau năm 1802, nên niên đại 1747 khó khớp với gốc tích mà chính các tài liệu ấy kể. Về năm xếp hạng, có nguồn ghi năm 2015, nguồn khác ghi 2016. Về số sắc phong, một nguồn ghi sáu bản của bốn vua triều Nguyễn, nguồn khác ghi bốn đạo sắc. Chưa có bản kiểm kê công khai nào để nói dứt điểm, nên chúng tôi ghi cả hai.

Kiến Trúc Và Hiện Vật

Đền không lớn và không cố làm cho lớn. Bố cục theo trục dọc quen thuộc của đền miếu Bắc Bộ: nghi môn, sân, rồi các lớp nhà thờ tự nối vào trong. Trang trí mang dấu nghệ thuật thời Nguyễn, lối chạm gọn, đề tài rồng phượng và hoa lá cách điệu. Quy mô nhỏ ở đây là hệ quả của gốc tích: đền được dựng bởi dân một thôn, trên đất một thôn, để giữ một việc của thôn ấy.

Nghi môn và sân

Cửa vào theo lối trụ biểu, không cao, mở thẳng ra khu dân cư. Sau nghi môn là khoảng sân phẳng, nơi tập kết đội rước và dàn nhạc trước khi kiệu nhấc lên.

Toà thờ chính

Lớp nhà đặt hương án và các pho tượng thờ, trong đó có tượng Mẫu. Hoành phi câu đối treo kín các gian, phần lớn thuộc lớp niên đại thế kỷ 19 và 20.

Ban Cô Tư Ỷ La

Ban thờ một vị hàng Cô mang chính tên đất này, cho biết nơi này đã được đọc theo hệ Tứ phủ đủ lớp chứ không chỉ thờ riêng hàng Mẫu.

Ban Đức Thánh Trần

Ban thờ Hưng Đạo Đại Vương, lớp thờ tự thứ hai trong đền, theo lối một nơi thờ nhiều đối tượng rất phổ biến ở Bắc Bộ.

Về hiện vật, tài liệu địa phương nêu đền còn giữ hai quả chuông cổmười sáu pho tượng cũ, cùng đồ tế khí bằng đồng, đồ sành sứ, hoành phi, câu đối, đại tự và các đạo sắc phong triều Nguyễn. Trong một ngôi đền nhỏ, mười sáu pho tượng là con số không nhỏ, và nó cho biết nơi này từng bày khá đủ lớp thần linh chứ không chỉ có một vị.

Theo sử liệu

Một lời về chữ Hán ghi ở đầu bài. Tên đền trong các tài liệu tiếng Việt đều viết là Đền Ỷ La; chúng tôi chưa tra được bản chụp hoành phi hay bia ký nào cho biết ngôi đền tự ghi tên mình bằng chữ Hán thế nào. Ba chữ ở đầu bài do chúng tôi suy ra từ cách viết địa danh Ỷ La cùng chữ từ chỉ đền thờ, không chép từ hiện vật tại đền.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều phải nói trước tiên: mảnh đất này không được chọn theo phép xem đất. Nó được chọn vì xa sông, xa đường lớn, nằm sâu trong làng, tức theo tiêu chuẩn của việc lánh nạn. Đọc thế đất ở đây là đọc một chỗ ẩn được nâng lên thành chỗ thờ, chứ không phải một huyệt do thầy địa lý tìm ra. Điều thú vị là chính tiêu chuẩn ẩn ấy lại không xa một khái niệm có thật trong phép xem đất: chỗ tàng phong, tức chỗ giấu được gió.

Xét theo bộ ba ngôi đền, cái đáng đọc nhất không phải từng ngôi mà là quan hệ giữa ba ngôi. Đền Thượng dưới chân núi Dùm là phần sơn. Đền Hạ bên sông Lô là phần thủy. Đền Ỷ La giữa đất làng, không núi không sông, là phần trung, tức đất. Ba ngôi làm thành một bộ đủ sơn, thủy, thổ, và cỗ kiệu đi giữa ba ngôi ấy là sợi dây nối ba hành lại. Theo lối cổ truyền, hệ thờ tự chỉ có sơn mà thiếu thủy thì khí cứng, chỉ có thủy mà thiếu sơn thì khí tán; đủ cả ba thì khí vận được, và cái vận ấy ở đây được làm cho thấy bằng một cuộc rước.

Về minh đường, khoảng trống trước cửa đền chỉ đủ một cái sân. Theo lối nhìn cổ truyền, minh đường hẹp là thế của nơi thờ kín đáo, hợp với một cộng đồng nhỏ, khác minh đường mở rộng của những nơi đón khách thập phương; điều ấy khớp với đời thường của ngôi đền, lặng lẽ suốt năm và chỉ ồn ào trong ít ngày hội. Sau cùng, chữ trong địa danh Ỷ La có nghĩa là nương tựa. Đây là trùng hợp của địa danh chứ không phải dụng ý phong thủy, nhưng đọc lên thì khớp lạ: một ngôi đền dựng trên chỗ người ta từng nương vào lúc loạn, lại mang chính cái tên ấy.

Lễ Rước Mẫu Xuân Thu Nhị Kỳ

Lễ hội ở đây không phải lễ của một ngôi đền mà là lễ của ba ngôi cùng lúc, và cái làm nên nó là đường rước chứ không phải sân đền. Hội mở hai kỳ trong năm, vào trung tuần tháng Hai và trung tuần tháng Bảy âm lịch, lệ mà tài liệu địa phương gọi là xuân thu nhị kỳ. Kỳ tháng Hai lớn hơn, thường trải từ khoảng ngày 11 tới ngày 16 tháng Hai âm lịch.

Trình tự các ngày có thể xê dịch giữa các năm, riêng lệ hai kỳ tháng Hai và tháng Bảy âm lịch thì giữ nguyên. Nguồn: Tài liệu giới thiệu lễ hội của cơ quan chuyên môn tỉnh Tuyên Quang và các bản tin về lễ rước Mẫu..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Trung tuần tháng HaiKỳ hội xuânKỳ hội chính trong năm, gồm rước kiệu Mẫu giữa ba đền và tế lễ tại đền Hạ, thường trải từ khoảng ngày 11 tới ngày 16.
Ngày 11 tháng HaiKhởi kiệu tại đền Ỷ LaKiệu Mẫu nhấc lên từ sân đền Ỷ La và rước về đền Hạ, theo đúng đường cỗ tượng xưa đã đi khi lánh nạn.
Ngày 12 tháng HaiRước kiệu từ đền ThượngKiệu từ đền Thượng dưới chân núi Dùm rước sang đền Hạ, hội với kiệu đã tới từ đền Ỷ La.
Ngày 16 tháng HaiRước kiệu hồi đềnCác cỗ kiệu được rước trở về đền Ỷ La và đền Thượng, khép lại kỳ hội xuân.
Trung tuần tháng BảyKỳ hội thuKỳ hội thứ hai trong năm, giữ đủ phần rước kiệu và tế lễ nhưng gọn hơn kỳ tháng Hai.

Đoàn rước gồm cỗ kiệu Mẫu, đội bát âm, đội múa lân, cùng người mang cờ, lọng, bát bửu và các đồ tế khí. Trên đường đi có lệ dừng kiệu tại một số điểm để dân hai bên dâng hương, nên một cuộc rước kéo dài hơn khoảng cách địa lý gợi ra rất nhiều. Trong các kỳ hội còn có hát chầu văn, lối hát nghi lễ của hệ thờ Mẫu, dàn nhạc gồm đàn nguyệt, trống, phách và cảnh.

Theo sử liệu

Tài liệu của cơ quan chuyên môn tỉnh giải thích ý nghĩa cuộc rước theo hướng gặp gỡ và đoàn tụ: ba ngôi đền cùng thờ hai vị, nên việc đưa kiệu về một chỗ được hiểu như đưa những vị vốn là chị em về hội với nhau, và cộng đồng ba địa bàn cũng nhân đó mà hội lại. Lễ hội rước Mẫu ba đền được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018. Điều được ghi danh là tập quán thực hành cùng giá trị văn hóa của nó, không phải một phán xét về niềm tin.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Phường Ỷ La cũ, nay là phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang
Đường tới
Đền nằm ở phường Ỷ La cũ, nay thuộc phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang, ở phía tây khu trung tâm thành phố. Đền Hạ bên sông Lô và đền Thượng dưới chân núi Dùm đều nằm trong cùng địa bàn thành phố, đi lại giữa ba ngôi trong một ngày là được.
Toạ độ
21.8175, 105.1972
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, không chạm vào tượng thờ, chuông cổ và đồ tế khí, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên hương án. Vào ngày khởi kiệu, sân đền dành cho đội rước, xin quý vị đứng ngoài đoàn rước và không đi cắt ngang trước cỗ kiệu. Muốn thấy trọn lệ của nơi này thì nên đi cả ba ngôi, vì lễ ở đây là lễ của ba đền hợp lại.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Đền Ỷ La thờ ai

Thờ hai vị công chúa Ngọc Lân và Phương Dung, theo thần tích đã hiển hóa bên sông Lô rồi được tôn làm Thánh Mẫu, cùng chung thần tích với đền Hạ và đền Thượng. Đền còn có ban thờ Cô Tư Ỷ La trong hàng Cô và ban thờ Đức Thánh Trần.

Vì sao đền có tên là Ỷ La

Vì đền được dựng ở thôn Gốc Đa thuộc xã Ỷ La, nơi dân sở tại từng chở tượng Mẫu từ đền Hạ vào để lánh khi có loạn dưới thời Nguyễn. Sau khi yên, tượng được rước về chỗ cũ, còn dân thôn dựng đền ngay tại nơi tượng từng đặt và lấy tên xã làm tên đền.

Lễ rước Mẫu Tuyên Quang diễn ra ngày nào

Hai kỳ trong năm, vào trung tuần tháng Hai và trung tuần tháng Bảy âm lịch. Kỳ tháng Hai là kỳ chính, thường trải từ khoảng ngày 11 tới ngày 16, mở đầu bằng việc khởi kiệu tại đền Ỷ La rồi rước về đền Hạ, sau đó kiệu từ đền Thượng sang hội cùng.

Ba đền Hạ, Thượng, Ỷ La có thờ ba vị Mẫu khác nhau không

Theo thần tích của chính ba ngôi đền thì không. Cả ba cùng thờ hai vị công chúa ấy, và vì cùng thờ một đối tượng nên mới có lệ rước kiệu về hội với nhau ở đền Hạ. Cách gán mỗi ngôi một vị trong Tam toà Thánh Mẫu là lớp giải thích về sau.

Đền Ỷ La được dựng năm nào

Nguồn vênh nhau. Một hướng tài liệu ghi năm Cảnh Hưng 1747, hướng khác ghi cuối thế kỷ 19. Con số 1747 khó khớp với gốc tích lánh nạn mà chính các tài liệu ấy đặt vào thời Nguyễn. Bảng dữ kiện của thư viện để niên đại khởi dựng là chưa rõ, và chúng tôi giữ đúng mức ấy.

Đọc Tiếp