VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Nhà thờ Tắc Sậy

· Nhà thờ Cha Diệp, Giáo xứ Tắc Sậy, Trung tâm Hành hương Tắc Sậy

Ngôi nhà thờ bên quốc lộ 1A, nơi an nghỉ của vị linh mục mà Giáo hội đã tuyên phong Chân phước tử đạo.

Lập giáo xứ
1925
cha sở đầu tiên là Phaolô Trần Minh Kính
Cha Trương Bửu Diệp coi sóc
1930 tới 1946
nhận sở tháng 3 năm 1930, mười sáu năm
Tuyên phong Chân phước
2 tháng 7 năm 2026
thánh lễ cử hành tại chính Tắc Sậy

Xe dừng bên quốc lộ 1A, giữa một khúc đường thẳng có ruộng hai bên, và quý vị bước vào một khoảnh sân rộng đến mức bất ngờ so với cảnh đường vừa rời. Bên phải sân là ngôi thánh đường ba tầng, bên trái là một khối nhà ba nóc mà nóc giữa có một mặt đồng hồ lớn; dưới khối nhà ấy là phần mộ. Trong sân, người ta đứng thành từng nhóm, nhiều người tay cầm một tờ giấy đã viết sẵn, và phần đông không đọc kinh thành tiếng.

Giấy tờ chép tên nơi này là Giáo xứ Tắc Sậy, thuộc giáo phận Cần Thơ. Người ta thì gọi gọn là nhà thờ Cha Diệp. Hai cách gọi ấy cho biết hai việc riêng: một là một ngôi nhà thờ xứ có từ năm 1925, hai là nơi an nghỉ của cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị linh mục mà Giáo hội đã tuyên phong Chân phước tử đạo vào giữa năm 2026.

Nhà thờ Tắc Sậy
Nhà thờ Tắc Sậy. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Cha Diệp Và Cách Giáo Hội Gọi Ngài

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh ngày mồng một tháng Giêng năm 1897 tại một họ đạo thuộc đất An Giang, thụ phong linh mục năm 1924, nhận nhiệm sở Tắc Sậy tháng Ba năm 1930 và coi sóc họ đạo này mười sáu năm, tới khi qua đời ngày 12 tháng Ba năm 1946.

Bài này không kể lại hoàn cảnh cái chết ấy; chúng tôi chỉ ghi niên đại và ghi điều thuộc phán quyết của Giáo hội. Điều cần biết để hiểu nơi này là: ngày 25 tháng Mười Một năm 2024, Tòa Thánh ban sắc lệnh nhìn nhận rằng ngài chịu chết vì lòng thù ghét đức tin, tức nhìn nhận cái chết ấy là một cái chết tử đạo theo tiêu chuẩn của Giáo hội.

Trên chứng từ của những người cùng thời, ngài được nhớ như một cha sở gần dân, hay giúp người khó và không phân biệt người trong đạo với người ngoài đạo khi giúp; đặc điểm ấy giải thích khá nhiều điều ở nơi này.

Theo giáo nghĩa

Giáo hội Công Giáo có một bậc thang danh hiệu rất chặt, bốn bậc không thay thế nhau được: Tôi tớ Chúa cho người đã được mở án điều tra; Đáng kính sau khi Giáo hội nhìn nhận nhân đức anh hùng hoặc sự tử đạo; Chân phước được tôn kính công khai trong một phạm vi giới hạn, thường là một giáo phận hoặc một nước; Hiển thánh là bậc cuối, tôn kính trong toàn thể Giáo hội. Với tử đạo, thủ tục có chỗ riêng: tuyên phong Chân phước không đòi phép lạ, vì chính cái chết vì đức tin đã là bằng chứng đủ, nhưng tuyên phong Hiển thánh thì vẫn đòi. Vì vậy danh hiệu chính thức của ngài là Chân phước, không phải Thánh.

Điều thứ hai cần nói cho rõ là hai việc khác nhau mà tiếng Việt thường gộp làm một. Thờ phượng, tiếng Latinh là latria, chỉ dành cho Thiên Chúa và không được dành cho bất cứ ai khác. Tôn kính, tiếng Latinh là dulia, dành cho các thánh và các Chân phước; riêng Đức Maria có bậc trung gian gọi là biệt kính, hyperdulia. Một vị Chân phước không ban ơn bằng quyền của chính mình; điều tín hữu xin ở vị ấy là việc cầu bầu, tức chuyển lời cầu lên Thiên Chúa, còn Đấng ban vẫn là Thiên Chúa.

Theo sử liệu

Tiến trình án phong ở đây khá dài và các mốc đều có văn kiện. Án được mở ở cấp giáo phận năm 2013, phần điều tra làm trong những năm 2011 tới 2017 với hàng chục người làm chứng. Năm 2019, Bộ Tuyên Thánh kết luận cuộc điều tra cấp giáo phận là có giá trị, và ngày 25 tháng Mười Một năm 2024 sắc lệnh nhìn nhận sự tử đạo được ban hành.

Thánh lễ tuyên phong Chân phước cử hành ngày 2 tháng Bảy năm 2026 tại chính thánh đường Tắc Sậy, do một vị hồng y làm đặc sứ của Đức Giáo hoàng chủ sự, với khoảng bảy mươi nghìn người dự theo bản tin của Tòa Thánh. Đây là lần đầu một lễ tuyên phong Chân phước được cử hành trên đất Việt Nam.

Chỗ hay hiểu lầm

Có một chỗ ở nơi này vừa quan trọng vừa tế nhị, xin nói bằng giọng sử liệu và giáo nghĩa, không xét lòng ai và không phê phán người nào đi lễ.

Điều quan sát được là rất nhiều người tới đây theo đúng lối người Việt đi đền, đi miếu: đặt lễ vật, viết một lời khấn thật cụ thể, xin một việc rồi hẹn trả lễ, và nói về cha Diệp bằng những chữ vẫn dùng cho một vị thần linh ban ơn; trong dòng người ấy có rất nhiều người không theo Công Giáo. Đó là một sự thật xã hội và không cần văn kiện nào để tồn tại.

Điều giáo lý Công Giáo dạy thì được phân định khác. Thờ phượng chỉ dành cho Thiên Chúa; điều dành cho một vị Chân phước là tôn kính. Một vị Chân phước không nắm quyền ban ơn; việc của ngài trong lời cầu của tín hữu là cầu bầu, và Đấng ban vẫn là Thiên Chúa. Chính giáo phận Cần Thơ khi nói về lòng sùng kính tại đây cũng nhắc lại chỗ phân biệt ấy. Vì vậy trong cách nhìn của Giáo hội, một lời cầu đặt đúng chỗ ở đây có dạng xin cha Diệp cầu bầu cùng Chúa cho mình, không có dạng xin cha Diệp ban cho mình.

Điều chưa được tuyên cũng cần nói thẳng. Những chuyện được kể lại về ơn lành nhận được sau khi cầu xin ở đây là chứng từ của từng người. Giáo hội có thủ tục thẩm tra riêng cho những trường hợp như vậy và rất dè dặt; chỉ những gì đã nằm trong hồ sơ án phong và trong sắc lệnh mới là điều Giáo hội đã phán quyết, ngoài phần ấy thư viện không xác quyết điều gì. Xin nhắc lại chỗ dễ lẫn nhất: danh hiệu chính thức hiện nay là Chân phước, còn tuyên phong Hiển thánh là một bước khác và chưa diễn ra.

Từ Nhà Nguyện Giữa Đồng Tới Trung Tâm Hành Hương

Tắc Sậy khi lập họ đạo là vùng đất mới khai, ruộng và kênh, dân cư thưa. Nhà nguyện đầu tiên làm bằng vật liệu tạm và không nằm ở chỗ nhà thờ hôm nay. Việc dời ra mặt tiền đường là quyết định của cha sở thứ hai, và về sau nó định luôn số phận của nơi này.

  • 1925Lập họ đạo Tắc Sậy
    Họ đạo được lập với cha sở đầu tiên là cha Phaolô Trần Minh Kính. Nhà nguyện ban đầu dựng bằng vật liệu tạm, ở một vị trí khác chỗ nhà thờ hiện nay.
  • 1930Cha Trương Bửu Diệp nhận sở và dời nhà thờ
    Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp nhận nhiệm sở, cho dựng nhà nguyện mới và dời nhà thờ ra mặt tiền đường, tức vị trí công trình vẫn đứng tới nay.
  • 1946Cha sở qua đời
    Cha Trương Bửu Diệp qua đời ngày 12 tháng Ba năm 1946, sau mười sáu năm coi sóc họ đạo. Bài ghi mốc theo niên đại, không kể lại hoàn cảnh.
  • 1952 tới 1963Gây dựng lại và xây nhà thờ kiên cố
    Họ đạo dần được gây dựng lại trên đất cũ, rồi năm 1963 một ngôi nhà thờ kiên cố được xây, tư liệu ghi khoảng 10 mét nhân 32 mét, thay cho các nhà nguyện tạm trước đó.
  • 1969Cải táng phần mộ về Tắc Sậy
    Hài cốt cha Trương Bửu Diệp được cải táng về khuôn viên nhà thờ. Từ mốc này, nơi đây bắt đầu thành điểm người ta tìm tới kính viếng.
  • Các thập niên gần đâyThánh đường mới và trung tâm hành hương
    Ngôi thánh đường ba tầng hiện nay được dựng, phần mộ chuyển sang một khu mộ mới rộng hơn, và Trung tâm Hành hương Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp được lập với thư viện tư liệu và khu lưu trú.
  • 2013 tới 2026Án phong và lễ tuyên phong Chân phước
    Án mở cấp giáo phận năm 2013, hồ sơ hoàn tất năm 2017, Bộ Tuyên Thánh kết luận điều tra có giá trị năm 2019, sắc lệnh nhìn nhận tử đạo năm 2024 và lễ tuyên phong Chân phước năm 2026 tại chính Tắc Sậy.
Theo sử liệu

Ba chỗ các nguồn ghi khác nhau, xin nêu thẳng thay vì chọn bừa một con số.

Năm lập giáo xứ. Có nguồn ghi giáo xứ lập tháng Sáu năm 1925 với cha sở đầu tiên là cha Phaolô Trần Minh Kính; có nguồn ghi nhà thờ thành lập năm 1925 nhưng cha Kính nhận sở từ tháng Tám năm 1926. Bảng dữ liệu của thư viện lấy mốc 1925.

Nơi sinh của cha Diệp. Có nguồn ghi ngài sinh tại họ đạo Cồn Phước thuộc đất An Giang, có nguồn ghi tại Tấn Đức, nay là Long Kiến, cũng thuộc An Giang. Hai cách ghi có thể chỉ cùng một vùng dưới hai tên qua các thời kỳ, nhưng chưa có tư liệu nói rõ nên chúng tôi ghi cả hai.

Năm dựng ngôi thánh đường hiện nay. Phần lớn tư liệu mô tả rất kỹ ngôi thánh đường ba tầng nhưng không nêu năm khởi công và năm khánh thành; chúng tôi không tìm được nguồn đủ tin cậy nên không ghi con số nào.

Thánh Đường Ba Tầng Và Khu Mộ Ba Nóc

Khuôn viên ở đây không tổ chức theo một trục duy nhất như phần lớn nhà thờ xứ, mà theo hai tâm: ngôi thánh đường và khu mộ, đặt cạnh nhau trên cùng một sân rộng. Cách bố trí ấy phản ánh đúng thực tế sinh hoạt, vì dòng người tới đây chia làm hai luồng không cùng nhịp, luồng dự thánh lễ và luồng kính viếng phần mộ.

Về ngôn ngữ tạo hình, cả khu theo lối mà tư liệu gọi là Á Đông: mái ngói xếp nhiều lớp, đầu mái vuốt cong, nhiều nóc chồng nhau, gỗ chạm trong lòng nhà. Đây là một hướng khác của kiến trúc nhà thờ Việt Nam, hướng mượn hình thức đình chùa bản địa, chứ không phải lối Gothic hay Roman quen thấy.

Ngôi thánh đường ba tầng

Công trình chính, chia ba tầng theo công dụng: tầng dưới dành cho khách hành hương nghỉ chân, hai tầng trên là nơi cử hành thánh lễ. Cách chia tầng ấy ít gặp ở nhà thờ xứ và sinh ra từ nhu cầu của một nơi đông người hành hương.

Khu mộ ba nóc và phần mộ cũ

Khối nhà đặt phần mộ cha Diệp làm theo dạng ba nóc lớn, nóc chính giữa có một mặt đồng hồ lớn; dáng ba nóc đối xứng khiến khối nhà trông gần một ngôi đình hơn là một lăng mộ lối châu Âu. Phần mộ cũ, nơi hài cốt được cải táng về năm 1969, vẫn còn trong khuôn viên bên cạnh, và nhiều người kính viếng cả hai chỗ.

Nhà chờ, trung tâm hành hương và sân ra quốc lộ

Các dãy nhà mái che quanh sân cho khách đứng chờ và đọc lời nguyện; khu nhà của Trung tâm Hành hương với phần trưng bày tư liệu về cuộc đời ngài và về tiến trình án phong; khu lưu trú; và khoảng sân lớn nối ra quốc lộ 1A. Những hạng mục này sinh ra từ số lượng người, và là chỗ dễ thấy nhất cái khác giữa một nhà thờ xứ thường và một trung tâm hành hương.

Thế Đất Và Hướng

Phần này cần một lời rào trước rõ ràng. Công Giáo không dạy phong thủy. Đạo ấy không có phép chọn hướng theo la bàn, không có thuyết khí mạch, và hướng của một ngôi nhà thờ theo truyền thống là hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ và cung thánh theo quy tắc của việc cử hành. Riêng ở đây còn một lý do rất cụ thể nữa: vị trí hiện nay là vị trí được dời ra mặt tiền đường từ năm 1930, tức chọn theo đường đi lại, không theo hướng nào.

Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc thế đất theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra để bạn đọc quen lối ấy có một chỗ đối chiếu; nó không phải điều được chép trong tư liệu của nhà thờ, cũng không phải điều những người dựng công trình này tính tới.

Thế đất và hướng

Trước hết là đường đến. Khuôn viên mở thẳng ra quốc lộ 1A, con đường xương sống của cả vùng. Trong phép xem đất, đường đi được coi như một dòng chảy, và sách địa lý gọi con đường dẫn tới cửa là lai lộ; nơi có lai lộ lớn và thẳng thì được coi là đắc thế nghênh khí. Đây là chỗ lối đọc cổ truyền và sự thật thực tế trùng khít: nơi này đông người chính vì nằm ngay trục đường lớn, không có gì huyền bí.

Thứ hai là minh đường và thế đất. Khoảng sân rộng trước hai khối nhà chính, theo lối đọc cũ, là minh đường, chỗ đất bằng trước cửa để khí dừng lại; sách xưa đòi minh đường phải rộng, bằng và sáng, và ở đây thì đủ cả ba, dù cái sân ấy rộng vì một lý do rất đời là phải chứa hàng nghìn người. Cả vùng này là đồng bằng ven biển, không có núi, mạng kênh rạch dày; trong phép xem đất vùng đồng bằng, nơi không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi. Ngay cái tên Tắc Sậy cũng thuộc lớp địa danh nước ấy: cách giải thường được nhắc là tên ghép từ chữ tắc, tức một con kênh ngắn nối hai dòng nước theo lối gọi của người Nam Bộ, với cây sậy mọc dày ở đó; đây là cách giải quen được nhắc, không phải kết luận từ nguyên học.

Thứ ba là chuyện phần mộ nằm trong khuôn viên nơi thờ tự, và đây là chỗ đáng đọc nhất. Với con mắt cổ truyền của người Việt, việc mộ của một vị được cả vùng kính nhớ nằm ngay trong đất của nơi thờ tự là điều rất quen, vì người Việt vốn đặt mộ tổ trong đất từ đường và coi đó là chỗ giữ gốc cho cả họ. Điều lạ là nếp Công Giáo cũng đi tới đúng cách làm ấy bằng một lý do khác hẳn: Giáo hội có truyền thống lâu đời chôn các đấng trong nhà thờ và đặt thánh tích dưới bàn thờ. Hai truyền thống khác gốc mà kết quả nhìn bằng mắt thì giống nhau. Chúng tôi ghi chỗ trùng nhau ấy và dừng ở đó.

Sau cùng là hình thể. Khối nhà mộ dựng ba nóc cân xứng, nóc giữa cao hơn hai nóc bên. Theo lối đọc cũ, một khối có phần giữa trội lên mà hai bên kèm giữ cân nhau được xem là thế ổn định. Xin nhắc lại rằng bố cục ba nóc là mẫu thức sẵn có của kiến trúc mái ngói Á Đông, có từ trước công trình này rất lâu; sự trùng khớp với một khái niệm phong thủy chỉ là trùng khớp của hình thể, không phải của chủ ý.

Lễ Theo Lịch Phụng Vụ Và Ngày Kính Nhớ

Nơi này theo lịch phụng vụ chung của Giáo hội, và có thêm mấy ngày riêng gắn với vị Chân phước được an nghỉ tại đây. Bài chỉ ghi những ngày cố định theo lịch, không ghi giờ giấc, vì lịch cử hành thay đổi theo từng năm.

Các dịp lễ chính theo lịch phụng vụ cùng hai ngày gắn riêng với vị Chân phước. Bài không ghi giờ lễ vì lịch cử hành thay đổi theo từng năm. Ngày lễ nhớ chính thức của Chân phước trong lịch phụng vụ là điều chúng tôi chưa xác minh được bằng một văn kiện, nên không ghi vào bảng. Nguồn: Bản tin của Tòa Thánh, tư liệu của giáo phận Cần Thơ và tư liệu báo chí về nơi này..
Thời điểmLễNội dung
12 tháng Ba dương lịchNgày cha Diệp qua đờiNgày kính nhớ tại chỗ từ nhiều thập niên trước khi có án phong, và là ngày hành hương đông nhất trong năm.
2 tháng Bảy dương lịchKỷ niệm ngày tuyên phong Chân phướcNgày thánh lễ tuyên phong Chân phước cử hành tại chính Tắc Sậy năm 2026, lần đầu một lễ như vậy diễn ra trên đất Việt Nam.
Mùa Vọng và lễ Giáng SinhChuẩn bị và mừng Chúa giáng sinhDịp trọng của năm phụng vụ và là một trong những dịp đông người nhất ở đây, kể cả người không theo đạo.
Tuần Thánh và lễ Phục SinhĐỉnh cao của năm phụng vụBa ngày cuối Tuần Thánh cùng lễ Phục Sinh là phần trọng nhất trong lịch phụng vụ Công Giáo.
1 và 2 tháng Mười MộtLễ Các Thánh và lễ cầu cho các tín hữu đã qua đờiỞ một nơi có phần mộ trong khuôn viên, hai ngày này mang sắc riêng.

Ngoài lịch trên, nơi này đông người quanh năm chứ không chỉ đông theo dịp, và đó là điều làm nó khác một nhà thờ xứ thường. Nhịp ấy kéo dài nhiều thập niên và là lý do nhà chờ, khu lưu trú và sân rộng phải có.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Ấp 2, quốc lộ 1A, xã Phong Thạnh (xã Tân Phong, thị xã Giá Rai cũ), Cà Mau
Đường tới
Nhà thờ nằm ngay mặt tiền quốc lộ 1A, ấp 2, xã Phong Thạnh, tức khu vực thị xã Giá Rai cũ, trên tuyến từ Bạc Liêu cũ về Cà Mau. Xe khách chạy quốc lộ đều qua trước cửa, nên phần lớn khách tới đây ghé dọc đường.
Toạ độ
9.2272, 105.4094
Khi tới nơi

Đây là nơi cử hành phụng vụ chứ không phải điểm tham quan thuần túy, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, giữ im lặng trong lòng thánh đường và ở khu mộ. Khi đang có Thánh lễ, xin không đi lại giữa các hàng ghế và không chụp ảnh; muốn xem kiến trúc thì đợi lễ xong. Ở khu mộ, xin đặt hoa và nến đúng chỗ nhà thờ đã sắp.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Nhà thờ Tắc Sậy ở đâu và thuộc giáo phận nào

Nhà thờ nằm ở ấp 2, mặt tiền quốc lộ 1A, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, tức khu vực xã Tân Phong thị xã Giá Rai thuộc Bạc Liêu cũ. Giáo xứ Tắc Sậy thuộc giáo phận Cần Thơ. Tư liệu cũ phần lớn còn ghi theo địa danh Bạc Liêu.

Cha Trương Bửu Diệp đã được phong thánh chưa

Chưa. Danh hiệu chính thức hiện nay là Chân phước, tuyên phong ngày 2 tháng Bảy năm 2026 tại chính Tắc Sậy, sau sắc lệnh nhìn nhận sự tử đạo ngày 25 tháng Mười Một năm 2024. Tuyên phong Hiển thánh là một bước khác, với trường hợp tử đạo thì còn đòi phép lạ, và bước ấy chưa diễn ra.

Người ngoài Công Giáo có được vào nhà thờ Tắc Sậy không

Được, và trên thực tế người ngoài Công Giáo tới đây rất đông. Điều cần lưu ý là lệ của nơi thờ tự: ăn mặc kín đáo, giữ im lặng trong thánh đường và khu mộ, không đi lại hay chụp ảnh khi đang có Thánh lễ. Riêng việc rước lễ dành cho người Công Giáo đủ điều kiện theo luật Giáo hội, nên khách chỉ dự lễ.

Cầu xin ở mộ cha Diệp thì theo giáo lý Công Giáo là cầu thế nào

Giáo lý Công Giáo phân biệt thờ phượng chỉ dành cho Thiên Chúa với tôn kính dành cho các thánh và các Chân phước. Một vị Chân phước không ban ơn bằng quyền của chính mình; điều tín hữu xin ở ngài là việc cầu bầu. Vì vậy lời cầu đặt đúng chỗ có dạng xin ngài cầu bầu cùng Chúa, không phải xin ngài ban.

Phần mộ cha Diệp được đưa về Tắc Sậy năm nào

Năm 1969, hài cốt được cải táng về khuôn viên nhà thờ Tắc Sậy, và từ mốc ấy nơi đây thành chỗ người ta tìm tới kính viếng. Về sau phần mộ chuyển sang một khu mộ mới rộng hơn trong cùng khuôn viên, dạng ba nóc lớn với mặt đồng hồ ở nóc giữa; phần mộ cũ vẫn còn tại chỗ.

Đọc Tiếp