VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền thờ Nguyễn Trung Trực

阮忠直 · Đình thần Nguyễn Trung Trực, Đình Nguyễn Trung Trực

Ngôi đình thần lớn nhất của đất Rạch Giá, nơi một người thật được dân trong vùng thờ như thần và giữ giỗ đều đặn suốt hơn một thế kỷ rưỡi.

Lập nơi thờ
1869
linh vị đặt trong một ngôi đình thờ thần Nam Hải của dân chài
Dời về chỗ hiện nay
1891
khu đất bên cửa sông Kiên, phường Rạch Giá
Xếp hạng
Di tích quốc gia
mộ và đền, xếp hạng ngày 23 tháng 3 năm 1988

Đứng trên đường Nguyễn Công Trứ, chỗ mặt đường mở ra gần cửa sông Kiên, quý vị thấy một cổng ba cửa mái ngói hai tầng, trên nóc có hình lưỡng long tranh châu. Qua cổng là một khoảng sân rộng lát gạch, giữa sân là pho tượng đồng, và bên một phía sân là một khối mộ xi măng hình chữ nhật với tấm bia đá cao chừng hai mét. Đền và mộ nằm chung một khuôn viên, thấy được cùng một lúc.

Điều làm nơi này khác các đền thờ nhân thần khác không nằm ở quy mô mà nằm ở cái tên. Người Rạch Giá gọi đây là đình, đình thần, chứ không gọi là đền hay miếu; và chữ ấy giữ nguyên gốc gác của nơi này. Trước khi thành đình thờ ông, đây đã là một nơi thờ thần của dân đi biển, và cái chữ đình còn lại tới nay như một dấu vết của lớp thờ tự có trước.

Đền thờ Nguyễn Trung Trực
Đền thờ Nguyễn Trung Trực. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Vị Được Thờ Và Lối Thờ Nhân Thần

Nơi đây thờ Nguyễn Trung Trực, sinh năm 1838, mất năm 1868 tại Rạch Giá, một người có sử chép và có phần mộ ngay trong khuôn viên. Việc thờ ông vì thế thuộc lối thờ nhân thần, tức thờ người thật đã khuất như một vị thần che chở cho vùng đất.

Cần nói rõ ngay từ đầu, vì chỗ này hay bị xếp nhầm: đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, một lối thờ dân gian không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Đình thần Nguyễn Trung Trực không phải cơ sở của Đạo Giáo, cũng không phải chùa của nhà Phật; người trông coi việc thờ là ban khánh tiết và ban quản trị của đình, không phải tăng ni hay đạo sĩ.

Xin nói trước về phạm vi của bài: thư viện chỉ ghi phần thuộc về thờ tự, tức vị được thờ, lối thờ, kiến trúc nơi thờ, ngày giỗ và tục cúng của dân trong vùng.

Theo giáo nghĩa

Trong lối thờ tự cổ truyền của người Việt, một người thật muốn được thờ như thần thường phải đi qua hai bước. Bước thứ nhất là công trạng với một vùng đất, khiến dân vùng ấy còn nhớ sau khi người ấy mất. Bước thứ hai là một nơi thờ cố định, có ngày giỗ, có ban tế, có lệ cúng hằng năm, để việc nhớ ấy khỏi tan theo một hai đời người.

Ở đây cả hai bước đều rõ, nhưng bước thứ hai diễn ra theo một lối riêng của phương Nam. Không có sắc phong của triều đình đưa ông vào hàng thần, cũng không có một ngôi đền được dựng theo lệnh trên. Việc đưa ông vào hàng thần là việc của dân: linh vị được thỉnh vào giữa bàn thờ của một ngôi đình đã có sẵn, tức đặt vào đúng chỗ của Thành hoàng. Đó là cách dân gian tự phong thần, và nó có sức bền riêng vì không phụ thuộc vào một văn bản nào.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, các nghiên cứu về tín ngưỡng vùng Nam sông Hậu cho biết nơi thờ đầu tiên không phải một ngôi đền mới dựng. Sau năm 1868, dân địa phương thỉnh linh vị của ông vào đình thần Nam Hải Đại Tướng Quân ở Rạch Giá, một ngôi đình vốn của dân chài, và đặt linh vị vào bàn thờ chính giữa, tức vị trí của Thành hoàng. Nam Hải Đại Tướng Quân là danh hiệu mà triều Nguyễn dùng cho vị thần biển được ngư dân phương Nam thờ, nên ngôi đình gốc thuộc lớp tín ngưỡng của người đi biển.

Từ ngôi đình ấy, việc thờ ông lan rộng ra cả vùng. Một khảo sát về tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực ghi nhận riêng địa bàn Kiên Giang cũ có tới mười bốn nơi thờ dành riêng cho ông, nhiều hơn các địa bàn An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Ở An Giang, tín ngưỡng này còn hoà vào một tôn giáo bản địa: tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo suy tôn ông là Thượng đẳng đại thần. Lớp thờ dân gian và lớp tôn giáo có tổ chức chồng lên nhau trên cùng một đối tượng, điều thường thấy với các vị nhân thần được thờ rộng.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.

Thứ nhất, ngôi đình không được dựng riêng cho ông từ đầu. Nhiều người hiểu rằng dân làng dựng một ngôi đền mới để thờ ông ngay sau khi ông mất. Theo tư liệu nghiên cứu, việc thờ khởi đầu bằng cách thỉnh linh vị vào một ngôi đình thờ thần Nam Hải đã có trước, chứ không bằng việc dựng nhà mới. Chi tiết ấy giải thích ba điều còn thấy tới nay: nơi này vẫn được gọi là đình chứ không gọi là đền; vị thần biển vẫn có ban thờ riêng trong hai dãy nhà hai bên chánh điện; và vị trí giữa chánh điện, vốn là chỗ của Thành hoàng, nay là chỗ của ông.

Thứ hai, đình và đền là hai chữ cùng chỉ một nơi này. Tư liệu dùng cả hai: đình thần Nguyễn Trung Trực theo lối gọi của dân Rạch Giá, và đền thờ Nguyễn Trung Trực theo lối gọi trong hồ sơ di tích. Theo nghĩa chữ, đình chỉ nơi thờ Thành hoàng của một làng, còn đền chỉ nơi thờ một vị đã được tôn lên hàng thần. Cả hai đều đúng với nơi này, vì nó đã đi qua cả hai vai.

Từ Đình Thần Nam Hải Đến Ngôi Đền Hôm Nay

Lịch sử ngôi đình chia làm ba đoạn: đoạn một ngôi nhà gỗ nhỏ của dân chài, đoạn dời chỗ và dựng lại bằng vật liệu bền hơn, rồi đoạn xây mới quy mô lớn ở thế kỷ 20. Điều đi suốt ba đoạn là linh vị đặt giữa chánh điện.

  • Trước 1868Đình thần Nam Hải của dân chài
    Một nếp nhà gỗ nhỏ do dân đi biển dựng, thờ thần Nam Hải Đại Tướng Quân. Đây là lớp thờ tự có trước và là nền cho mọi lớp về sau.
  • 1869Lập nơi thờ Nguyễn Trung Trực
    Linh vị của ông được thỉnh vào bàn thờ chính giữa đình, tức vị trí của Thành hoàng. Bảng dữ kiện của thư viện lấy năm này làm mốc; một số nguồn ghi việc thờ bắt đầu ngay trong năm 1868.
  • 1881Cải tạo lần thứ nhất
    Ngôi đình được sửa lại, vẫn theo lối nhà gỗ của vùng sông nước. Niên đại này được các tư liệu về di tích ghi lại.
  • 1891Dời về vị trí hiện nay
    Đình được dời tới khu đất bên cửa sông Kiên, chỗ hiện nay thuộc phường Rạch Giá. Từ mốc này trở đi nơi thờ đứng yên một chỗ.
  • 1964 tới 1970Xây lại quy mô lớn
    Công trình được dựng lại từ tháng 12 năm 1964 tới tháng 2 năm 1970 theo thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Văn Lợi. Bố cục chữ Tam, hệ cột bê tông và cổng ba cửa hiện thấy đều định hình từ lần này.
  • 1988Xếp hạng di tích quốc gia
    Mộ và đền Nguyễn Trung Trực được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 23 tháng 3 năm 1988. Mộ và đền nằm chung một khuôn viên và chung một hồ sơ.
  • 2023Lễ hội vào danh mục di sản quốc gia
    Lễ hội đình thần Nguyễn Trung Trực được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 2 tháng 2 năm 2023; lễ đón bằng tổ chức ngày 10 tháng 10 cùng năm.
Theo sử liệu

Có mấy chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói rõ thay vì chọn bừa. Về năm lập nơi thờ, bảng dữ kiện của thư viện ghi năm 1869, trong khi các bài nghiên cứu và báo chí đều nói việc thỉnh linh vị diễn ra ngay sau khi ông mất, tức trong khoảng 1868 tới 1869; khoảng chênh này nhiều khả năng là chênh giữa lúc bắt đầu thờ và lúc việc thờ thành lệ, nhưng chúng tôi chưa tra được văn bản nào nói dứt điểm.

Về địa danh, phần lớn tư liệu ghi đền thuộc phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Sau lần sắp xếp địa giới năm 2025, địa bàn này thuộc phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, và đó là tên dùng trong bài; tra cứu tư liệu cũ quý vị sẽ gặp cả hai cách ghi.

Bố Cục Chữ Tam Và Phần Mộ Trong Sân

Đình dựng theo lối đình miếu Nam Bộ, mặt bằng hình chữ tam, gồm ba khối: chánh điện ở giữa, đông langtây lang hai bên. Đây là bố cục quen của đình làng phương Nam, khác lối trục dọc nhiều lớp của đình Bắc Bộ: ở đây ba khối dàn ra theo bề ngang, cùng trông vào một khoảng sân.

Cổng ba cửa

Cổng mở ba lối, mái ngói hai tầng, trên nóc trang trí hình lưỡng long tranh châu. Đây là mô típ trang trí quen của đình miếu Nam Bộ, đặt trên cổng để đánh dấu ranh giới giữa mặt đường và khu thờ tự.

Sân và tượng đồng

Khoảng sân rộng lát gạch, giữa sân đặt pho tượng đồng tạc ông trong dáng đứng. Sân giữ vai trò làm chậm bước chân và là nơi bày các nghi thức ngoài trời trong ba ngày giỗ.

Chánh điện

Mái ngói cong bốn góc, hoa văn rồng trên bờ mái, hệ mười cột bê tông chân bát giác. Hoành phi và câu đối sơn son thiếp vàng treo khắp gian giữa, trong đó có bức hoành ghi bốn chữ Anh Khí Như Hồng.

Ba ngai thờ

Trong chánh điện đặt ba ngai. Ngai giữa thờ Nguyễn Trung Trực bằng linh vị và ảnh chân dung; hai ngai hai bên thờ các vị được phối hưởng theo lệ của đình.

Đông lang và tây lang

Hai dãy nhà hai bên chánh điện, thờ các vị phó tướng của ông cùng thần Nam Hải, tức vị thần vốn được thờ ở ngôi đình gốc. Hai dãy này là chỗ giữ lại lớp thờ tự có trước.

Phần mộ

Khối mộ xi măng hình chữ nhật nằm trong khuôn viên, phía một bên cổng, dưới bóng cây cổ thụ, có tấm bia đá cao chừng hai mét ghi tên và hai niên đại 1838 và 1868.

Điểm đáng ghi nhất về kiến trúc nơi này là việc mộ và nơi thờ đặt chung một khuôn viên. Trong lối thờ tự cổ truyền hai thứ ấy thường tách nhau: mộ ở ngoài đồng hoặc trong đất dòng họ, nơi thờ ở giữa làng. Đặt cả hai trong một vòng tường có nghĩa là người đi lễ gặp cả lớp thần lẫn lớp người trong cùng một lần đi, và chỗ ấy khiến việc thờ ở đây gần với giỗ chạp của một nhà hơn là gần với nghi lễ của một đền lớn.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên phải nói là chỗ này không được chọn theo phép xem đất. Ngôi đình gốc là nhà của dân chài, dựng ở chỗ tiện cho người đi biển, tức gần bến và gần cửa sông; lần dời năm 1891 cũng theo tiện lợi của dân cư chứ không theo một huyệt được thầy địa lý tìm ra. Khi đọc thế đất ở đây, ta đọc thế đất của một bến nước đã thành phố, chứ không đọc một cuộc đất được tính trước.

Xét về nước, đây là chỗ gần nơi sông Kiên ra biển Tây, tức một cửa nước. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi: dòng chảy dẫn khí, chỗ nước tụ lại thì giữ khí. Cửa sông vừa dẫn vừa tụ, và sách cũ xếp cửa nước vào hàng đất mạnh: được cái dồi dào, phải chịu cái động. Cái động ấy hợp lạ với đối tượng được thờ, vì ngôi đình gốc thờ thần biển và người lập đình sống bằng nghề nước.

Thứ ba là quan hệ giữa mộ và đền. Theo lối nhìn cổ truyền, phần mộ thuộc phần âm, nơi thờ thuộc phần dương, và hai phần ấy thường được đặt cách nhau. Ở đây chúng ở chung một khuôn viên, mộ nằm lệch sang một bên sân chứ không nằm sau lưng chánh điện. Đọc theo lối cũ, đó là cách không để phần âm chắn mất trục thờ: trục từ cổng qua sân vào chánh điện vẫn thông suốt.

Sau cùng là lớp nghĩa của việc đứng yên. Ngôi đình dời một lần vào năm 1891, từ đó không dời nữa, rồi được xây lại quy mô lớn ngay trên chỗ ấy. Đọc theo lối phong thủy, cái đáng chú ý ở đây không phải hình thế của mảnh đất mà là việc nơi thờ được giữ liên tục trên cùng một chỗ suốt hơn một trăm ba mươi năm: trong phép cũ, khí tụ dần theo lệ cúng, và đó là thứ không mảnh đất tốt nào thay được.

Lễ Giỗ Cuối Tháng Tám Và Tục Cúng Của Dân

Kỳ lễ lớn nhất trong năm của đình là lễ giỗ, tổ chức vào ba ngày 26, 27 và 28 tháng Tám âm lịch. Đây là lễ hội lớn nhất của cả vùng Rạch Giá, và cũng là kỳ lễ mà tục lệ của dân trong vùng hiện ra rõ nhất.

Các nghi thức chính trong kỳ lễ giỗ và lệ thường kỳ của đình. Nguồn: Hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về lễ hội đình thần Nguyễn Trung Trực và các bản tin về kỳ lễ..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Ngày 26 tháng TámLễ Thượng đại kỳ và lễ phần hươngNghi thức mở đầu ba ngày lễ: dựng đại kỳ tại sân đình rồi dâng hương tại chánh điện.
Ngày 27 tháng TámLễ Tế đàn cảBuổi tế chính do ban tế của đình đứng làm, theo trình tự tế lễ cổ truyền của đình Nam Bộ, kèm nghi thức hậu phối dành cho các vị được thờ theo.
Ngày 28 tháng TámLễ chánh giỗNgày trọng nhất, có rước linh vị quanh khu đền và đọc chúc văn trước chánh điện.
Trong ba ngày lễTục góp gạo củi và nấu cơmNgười trong vùng tự nguyện góp gạo, củi, rau và thực phẩm, dựng bếp chung quanh khu đền và nấu ăn phục vụ người về dự mà không lấy tiền.
Trong ba ngày lễDiễn xướng và thả hoa đăngCác buổi diễn xướng dân gian của ba cộng đồng Kinh, Hoa và Khmer trong vùng, cùng tục thả hoa đăng trên sông Kiên.
Rằm và mùng một hằng thángLệ dâng hương thường kỳNhịp lui tới đều đặn quanh năm của người trong vùng, đông thêm vào dịp đầu xuân.
Theo sử liệu

Xét theo góc nhân học, kỳ lễ ở đây là một chỉnh thể gồm ba lớp chồng lên nhau. Lớp trong cùng là giỗ, tức nghi thức của một nhà dành cho người đã mất, giữ nguyên trình tự tế lễ của đình Nam Bộ. Lớp thứ hai là hội, tức phần diễn xướng và tụ hội của cả vùng, trong đó có phần của ba cộng đồng cùng sống trên đất ấy. Lớp thứ ba là tục góp và cho: người trong vùng góp gạo, củi và thực phẩm, dựng bếp tạm quanh khu đền, tự chia nhau việc nấu và việc dọn, còn người về dự thì ăn mà không phải trả gì. Đây không phải dịch vụ do ban tổ chức lo mà là một tục của cộng đồng, và chính tục ấy được nêu như một căn cứ khi lễ hội được xét vào danh mục di sản quốc gia.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 14 đường Nguyễn Công Trứ, phường Rạch Giá, An Giang
Đường tới
Đền nằm ở số 14 đường Nguyễn Công Trứ, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, gần cửa sông Kiên và cách khu trung tâm Rạch Giá một quãng ngắn. Mộ và đền chung một khuôn viên, vào được từ cổng chính trên mặt đường.
Toạ độ
10.0111, 105.0794
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ, không trèo lên bệ mộ và không chạm tay vào bia đá, hoành phi, câu đối. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức chứ không đặt lên ngai thờ. Ba ngày cuối tháng Tám âm lịch là lúc đông nhất, lối vào phân luồng, xin quý vị theo hướng dẫn tại chỗ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

đền thờ nguyễn trung trực ở rạch giá thờ ai

Thờ Nguyễn Trung Trực, sinh năm 1838, mất năm 1868, một người thật được dân vùng Rạch Giá tôn thờ như thần. Đây là lối thờ nhân thần của người Việt, một tín ngưỡng dân gian không giáo chủ và không thuộc tôn giáo có giáo hội nào. Hai dãy nhà bên chánh điện còn thờ thần Nam Hải và các vị phó tướng.

vì sao gọi là đình thần mà không gọi là đền

Vì nơi thờ khởi đầu là một ngôi đình thờ thần Nam Hải Đại Tướng Quân của dân chài Rạch Giá; linh vị của ông được thỉnh vào bàn thờ giữa đình, tức vị trí của Thành hoàng. Chữ đình còn lại tới nay như dấu vết của lớp thờ tự có trước. Tư liệu hành chính thì quen dùng chữ đền.

lễ giỗ nguyễn trung trực tổ chức ngày nào

Ba ngày 26, 27 và 28 tháng Tám âm lịch. Ngày 26 có lễ Thượng đại kỳ và lễ phần hương, ngày 27 có lễ Tế đàn cả do ban tế của đình đứng làm, ngày 28 là ngày chánh giỗ với nghi thức rước linh vị và đọc chúc văn.

lễ hội đình thần nguyễn trung trực có gì đặc biệt

Đặc biệt nhất là tục người trong vùng tự nguyện góp gạo, củi và thực phẩm, dựng bếp quanh khu đền và nấu ăn phục vụ người về dự mà không lấy tiền. Ngoài ra còn phần diễn xướng dân gian của ba cộng đồng Kinh, Hoa, Khmer và tục thả hoa đăng trên sông Kiên.

mộ nguyễn trung trực nằm ở đâu

Nằm ngay trong khuôn viên đền, ở một bên sân phía cổng, dưới bóng cây cổ thụ. Đó là một khối mộ xi măng hình chữ nhật với tấm bia đá cao chừng hai mét ghi tên và hai niên đại 1838 và 1868. Mộ và đền được xếp hạng chung trong một hồ sơ di tích quốc gia năm 1988.

Đọc Tiếp