VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Bích Động

碧洞 · Nam thiên đệ nhị động

Ba nếp chùa xếp theo chiều cao của một khối núi đá vôi, nửa dựng bằng gỗ nửa nhờ vào hang đá, được chúa Trịnh Sâm xếp vào hàng thứ nhì của trời Nam.

Khởi dựng
1428
theo tư liệu di tích; mở rộng thành ba tầng đầu thế kỷ 18
Chuông đồng
1707
do hai vị sư khai sơn đúc, hiện treo trong động Tối
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 548 ngày 10 tháng 5 năm 2012

Qua một cây cầu đá nhỏ và một khoảng sân bằng, quý vị gặp nếp chùa thứ nhất nằm sát chân núi, mái cong đầu đao, ngói đã ngả màu. Nhìn lên, không thấy nếp thứ hai đâu cả: nó nằm cao hơn, lẫn vào màu đá và màu cây. Muốn tới thì phải leo, và đường leo là những bậc đá đục vào chính vách núi.

Chùa Bích Động không dàn theo một mặt bằng như phần lớn chùa Bắc Bộ mà xếp theo chiều cao, ba nếp trên một trục dọc đứng. Đây là chùa Phật Giáo Bắc Tông, tức dòng Đại Thừa của người Việt ở châu thổ, nhưng cách nó ăn vào khối đá vôi thì lại gần với lối chùa hang hơn là lối chùa gỗ. Chính chỗ nửa nhân tạo nửa tự nhiên ấy là điều đáng xem nhất ở đây.

Chùa Bích Động
Chùa Bích Động. Ảnh: Jakub Hałun, giấy phép CC BY 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tên Gọi Và Tông Phái

Hai chữ Bích Động nghĩa là động xanh, hoặc động biếc, lấy theo sắc của đá và cây trên vách núi. Hai chữ ấy không phải tên dân gian mà do người ngoài đặt rồi khắc thẳng lên đá, nên tên gọi ở đây có xuất xứ rõ hơn hầu hết chùa cổ khác.

Bên cạnh tên chùa còn một danh xưng nữa: Nam thiên đệ nhị động, nghĩa là động đứng thứ nhì của trời Nam, xếp sau động Hương Tích ở chùa Hương. Danh xưng ấy cho biết người xưa nhìn nơi này như một thắng cảnh có hang chứ không chỉ như một cơ sở thờ tự.

Theo giáo nghĩa

Về tông phái, đây là chùa theo Phật Giáo Bắc Tông, còn gọi là Đại Thừa, dòng chiếm phần lớn chùa chiền ở châu thổ sông Hồng. Dấu của dòng này thấy ngay trong cách bài trí: chính điện thờ nhiều vị Phật và Bồ Tát cùng lúc chứ không chỉ thờ Đức Phật Thích Ca.

Theo các tài liệu giới thiệu di tích, chùa Hạ đặt các ban thờ Phật đầu tiên; chùa Trung thờ Phật A Di Đà cùng Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Quán Thế Âm; chùa Thượng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, và các tài liệu còn nhắc tới ban thờ Thổ Địa cùng Sơn Thần ở khu vực trên cùng. Thờ thần núi và thần đất bên cạnh ban Phật là nếp quen của chùa Việt.

Theo sử liệu

Người đặt tên là chúa Trịnh Sâm. Theo hồ sơ di tích, chúa cho khắc hai chữ Bích Động lên vách đá vào năm 1774; một số tài liệu phổ thông ghi mốc 1773. Hai con số cách nhau một năm, nên có thể một mốc là năm chúa tới và một mốc là năm khắc xong, nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm, nên ghi cả hai.

Thời ấy việc đi xem núi, đặt tên đất, đề thơ và khắc chữ lên vách đá là thói quen của giới có học và của người cầm quyền; hai chữ khắc lên đá vừa là lời khen cảnh, vừa là cách ghi dấu rằng nơi này đã được biết tới ngoài vùng.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, chữ động trong tên chùa không có nghĩa là cả ngôi chùa nằm trong hang. Chỉ một phần ở đây là hang: chùa Trung có nửa lọt vào vách núi và nửa nhô ra ngoài, phía trên nó là động Tối, còn chùa Hạ và chùa Thượng đều là nhà gỗ trên nền đá lộ thiên. Chữ động chỉ cả khối núi có hang, theo cách dùng của người xưa.

Thứ hai, Nam thiên đệ nhị động không phải một hạng bậc do cơ quan nào xếp. Đó là lời khen cảnh thuộc lớp văn nhân, nằm trong một bộ ba danh xưng quen dùng trong thư tịch cũ, với đệ nhất động chỉ động Hương Tích. Xếp hạng chính thức là việc khác: chùa nằm trong hồ sơ danh lam thắng cảnh Tràng An, Tam Cốc, Bích Động.

Từ Một Thảo Am Đến Ba Nếp Chùa

Lịch sử nơi này đọc gọn thành một câu: một thảo am nhỏ trên núi, rồi hai vị sư tới, tìm ra hang, và biến một chỗ tu lẻ thành ba nếp chùa xếp theo chiều cao. Đoạn sau ấy diễn ra vào khoảng bản lề giữa thế kỷ 17 và 18, lớp niên đại của hầu hết những gì quý vị thấy hôm nay.

  • 1428Thảo am đầu tiên
    Tài liệu di tích đặt việc khởi dựng vào đầu thời Hậu Lê, quy mô ban đầu chỉ là một ngôi chùa nhỏ trên núi, mốc không có văn bản đương thời xác nhận.
  • Đầu thế kỷ 18Hai vị sư khai sơn
    Hai nhà sư Trí Kiên và Trí Thể tới đây, tìm ra hệ hang động trong núi và vận động dựng lại thành ba ngôi chùa riêng biệt; năm cụ thể thì nguồn ghi khác nhau.
  • 1707Đúc quả chuông đồng
    Hai vị sư khai sơn cho đúc một quả chuông đồng lớn, hiện treo trong động Tối, là hiện vật có niên đại chắc chắn nhất của cả khu chùa.
  • 1709Dựng bia đá
    Một tấm bia khắc chữ Hán ghi việc tu tạo; theo tài liệu, riêng phần khắc bia mất khoảng tám tháng công thợ.
  • 1774Chúa Trịnh Sâm khắc hai chữ Bích Động
    Theo hồ sơ di tích, chúa Trịnh Sâm cho khắc hai chữ Bích Động lên vách đá trong năm này; một số tài liệu ghi năm 1773.
  • 2012Di tích quốc gia đặc biệt
    Danh lam thắng cảnh Tràng An, Tam Cốc, Bích Động được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 548 ngày 10 tháng 5 năm 2012.
  • 2014Tràng An thành di sản thế giới
    Quần thể danh thắng Tràng An, phạm vi chứa khu vực Bích Động, được UNESCO ghi danh là di sản thế giới.
Theo sử liệu

Ba chỗ nguồn vênh nhau, xin ghi thẳng.

Năm mở rộng thành ba nếp chùa. Một tạp chí nghiên cứu Phật học ghi hai vị sư Trí Kiên và Trí Thể mở rộng chùa năm 1695; một nguồn Phật giáo khác ghi khoảng năm 1705, đời Lê Dụ Tông. Bảng dữ liệu của thư viện lấy mốc 1705. Cả hai đều trước năm đúc chuông 1707 nên không mâu thuẫn về thứ tự, nhưng khoảng mười năm chênh nhau thì chưa có tài liệu nào giải quyết.

Vị vua đi kinh lý. Các tài liệu đều kể một vị vua nhà Lê tới đây, thấy cảnh đẹp mà chùa chỉ là thảo am nên cho quyên góp dựng lại. Nguồn ghi Lê Hiển Tông, nguồn khác ghi Lê Dụ Tông.

Số bậc đá. Từ chùa Hạ lên chùa Trung, tài liệu ghi 78 bậc; từ chùa Trung lên chùa Thượng, nguồn ghi 40, 43 hoặc 45 bậc, có lẽ do cách đếm những bậc đá tự nhiên xen trong bậc xây.

Ba Nếp Chùa Và Động Tối

Bố cục toàn khu theo lối chữ tam, tức ba nét ngang xếp lên nhau: ba toà nhà độc lập, không nối mái, không chung tường, đặt ở ba cao độ trên cùng một sườn núi. Cách xếp này khác hẳn lối nội công ngoại quốc của chùa Bắc Bộ, nơi các toà nhà khép thành khung vuông trên mặt bằng; ở đây không có khung nào cả, vì khung chính là khối núi.

Vật liệu thì vẫn là vật liệu chùa Việt: cột và kèo xà bằng gỗ lim, mái lợp ngói, đầu mái uốn cong theo lối lưỡi đao. Cái riêng là chỗ các bộ khung gỗ ấy phải ăn vào đá.

Chùa Hạ

Nếp thứ nhất, trên khoảng đất bằng ở chân núi, bố cục theo lối chữ Đinh, với bộ cột đá lớn cao trên bốn mét.

Bậc đá lên chùa Trung

Khoảng 78 bậc đục theo vách núi, uốn theo thế đá chứ không đi thẳng, làm người lên chùa mất hẳn tầm nhìn về chùa Hạ trước khi thấy chùa Trung.

Chùa Trung

Nếp thứ hai, ở lưng núi, có một nửa lọt vào trong vách đá và một nửa nhô ra ngoài. Hai chữ Bích Động khắc trên vách đá ở khu vực này, mỗi chữ cỡ một mét rưỡi.

Động Tối

Hang phía trên chùa Trung, lòng hang cao chừng tám mét, vách và trần đầy nhũ đá. Quả chuông đồng đúc năm 1707 treo trong hang này.

Chùa Thượng

Nếp trên cùng, cách chùa Trung thêm khoảng bốn mươi bậc đá, ở độ cao chừng sáu mươi mét theo tài liệu giới thiệu. Ban thờ chính là Bồ Tát Quán Thế Âm.

Bia đá năm 1709

Tấm bia khắc chữ Hán ghi việc tu tạo, dựng hai năm sau khi đúc chuông.

Hai điểm đáng dừng lại. Thứ nhất, ở đây đường đi là một phần của kiến trúc: tại chùa trên đất bằng, người lễ đi thẳng một trục và thấy đích ngay từ đầu, còn ở đây mỗi đoạn bậc đá uốn theo thế đá và mỗi lần lên hết một đoạn thì nếp chùa tiếp theo mới hiện ra. Thứ hai là sự phân vai theo cao độ: chùa Hạ ở dưới nhận phần đông đảo, chùa Trung ở giữa là chỗ chuyển, chùa Thượng ở trên nhỏ nhất và thoáng nhất, hợp thành một lối đi từ chỗ ồn tới chỗ tĩnh.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong bia đá năm 1709 hay hồ sơ di tích. Phần này dài hơn các bài khác trong mục Địa Điểm, vì đây là một trong ít nơi mà thế đất hiện ra đủ cả bốn thứ sách địa lý cổ đòi: núi thật để tựa, hang trong núi, nước trước mặt và vòng núi khép chung quanh.

Thế đất và hướng

Một, chỗ tựa là núi thật. Ở đồng bằng sông Hồng, không có núi để tựa nên người xưa phải lấy đê, lấy gò hoặc lấy mặt nước lớn làm chỗ dựa, đó là một phép bù. Ở Bích Động thì không cần bù: cả ba nếp chùa đều dựa lưng thẳng vào một khối đá vôi, và cái hậu chẩm ấy vừa cao, vừa liền mạch, vừa không thể dời đi. Đá vôi bị nước mưa hòa tan dần nên khối núi nào cũng đầy hang, khe và mạch nước ngầm; sách cũ gọi núi loại này là núi có tạng, tức núi có phần rỗng bên trong.

Hai, hang trong núi đọc là chỗ tàng khí. Theo phép cũ, một huyệt tốt là chỗ khí tụ mà không tán, và không gì giữ khí chắc bằng một khoảng kín trong lòng đá. Động Tối nằm đúng giữa trục ba nếp chùa, nên đọc theo lối cổ truyền thì cái hang ấy giữ vai trò trung cung, tức tâm của thế đất. Việc quả chuông năm 1707 treo trong hang chứ không treo ở gác ngoài trời càng làm đậm cách đọc này: âm cũng đi từ tâm ra ngoài đúng như khí.

Ba, trục dựng đứng thay cho trục nằm ngang. Chùa Bắc Bộ trên đất bằng dẫn khí theo một trục nằm; ở đây trục ấy được dựng đứng lên qua chùa Hạ, chùa Trung, động Tối, chùa Thượng. Phép cũ coi chiều cao là thứ bậc nên trục dọc ấy đọc ra được ngay. Đáng chú ý là ban thờ thần đất và thần núi lại ở khu vực trên cùng chứ không dưới chân: chỗ cao ở đây không đọc theo thứ bậc thần linh mà đọc theo địa vật, thần núi thì ở với núi.

Bốn, hướng và minh đường. Khu thờ chính mở mặt về phía có đồng ruộng và mặt nước, tức có khoảng đất bằng ngay trước cửa để khí dừng lại trước khi vào, điều sách cũ gọi là minh đường. Minh đường ở đây thuộc loại hiếm, vì không phải một cái sân do người làm ra mà là cả vùng ruộng nước và sông ngòi của lòng chảo đá vôi. Riêng chùa Thượng còn thêm tầm nhìn vượt qua vật chắn, thứ mà minh đường dưới chân núi không có.

Năm, vòng núi khép chung quanh. Từ chùa Thượng nhìn ra thấy một cụm năm ngọn núi vây quanh, và tài liệu giới thiệu di tích ghi rằng năm ngọn ấy xếp thành thế giống một bông sen đang nở. Đọc theo phép cũ, đây là thế nhiều ngọn cùng chầu về một điểm giữa; vòng núi khép được coi là thế kín, giữ được khí. Hình bông sen không chỉ là phép so sánh cho đẹp: trong nhà Phật, hoa sen là biểu tượng của sự sinh ra từ bùn mà không nhiễm bùn, nên đặt chùa vào giữa vòng núi hình sen là đặt công trình vào giữa hình ảnh của chính giáo lý mình, điều phép cũ gọi là đắc vị.

Sáu, chỗ khuyết và cách người xưa bù lại. Sách địa lý cổ không bao giờ khen một thế đất là hoàn hảo. Thế đất dốc đứng làm khu chùa không có sân rộng liền mạch, tức thiếu chỗ tụ người; người xưa bù lại bằng cách chia ba. Một chỗ khuyết nữa là ẩm: nhà gỗ tựa vào đá vôi luôn phải chịu mạch nước rỉ từ trong núi, nên các toà nhà đều để hở và phần tựa vách đặt sao cho nước theo đá chảy xuống chứ không đọng vào chân cột.

Bảy, vị trí trong vùng. Chung quanh Bích Động là cả một vùng núi đá vôi với hệ hang xuyên nước và nhiều điểm thờ tự khác trải trong lòng chảo. Người xưa đã nhận ra điều mà địa chất về sau nói bằng từ khác: đây là khối đá vôi bị nước khoét rỗng, nên chỗ nào cũng vừa có núi vừa có hang vừa có nước. Trong phép cũ, vùng như vậy được coi là đất có mạch.

Lễ Và Ngày Lễ Theo Âm Lịch

Chùa Bích Động không có một kỳ hội làng lớn theo lối các ngôi đền, mà giữ nhịp lễ theo lịch Phật Giáo Bắc Tông, tức những ngày cố định theo âm lịch của nhà chùa. Vì chùa Thượng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, các ngày lễ gắn với vị Bồ Tát này được giữ khá đều.

Các ngày lễ cố định theo âm lịch. Bài chỉ ghi ngày theo lịch âm, không ghi giờ giấc. Nguồn: Lịch lễ theo Phật Giáo Bắc Tông và các tài liệu giới thiệu về chùa Bích Động..
Ngày âm lịchLễNội dung
Mùng 1 và ngày 15 hằng thángLệ thường kỳHai ngày sóc vọng, có tụng kinh và dâng hương tại cả ba nếp chùa.
Tháng GiêngLễ đầu xuânDịp đông người nhất trong năm, nối vào lệ đi chùa đầu năm của người trong vùng.
Ngày 19 tháng HaiLễ Bồ Tát Quán Thế ÂmNgày kính Bồ Tát Quán Thế Âm, có ý nghĩa riêng ở đây vì chùa Thượng thờ vị Bồ Tát này.
Ngày 15 tháng TưLễ Phật đảnNgày kính Đức Phật Thích Ca đản sinh theo lịch Bắc Tông hiện dùng ở Việt Nam.
Ngày 19 tháng Sáu và 19 tháng ChínHai ngày lễ Quán Thế Âm còn lạiHai ngày kính khác trong năm, quy mô gọn hơn ngày 19 tháng Hai.
Ngày 15 tháng BảyLễ Vu LanNgày lễ báo hiếu, một trong những dịp trọng của năm theo lịch Bắc Tông.

Một nếp riêng của chính nơi này: vì ba nếp chùa ở ba cao độ và nối với nhau chỉ bằng bậc đá hẹp, nghi thức dâng hương không diễn ra cùng lúc ở một chỗ mà đi theo trình tự từ dưới lên, tức lễ ở chùa Hạ trước, lên chùa Trung, qua động Tối, rồi mới lên chùa Thượng.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Đam Khê, xã Ninh Hải cũ, nay là phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Chùa nằm ở thôn Đam Khê, xã Ninh Hải cũ, nay thuộc phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, trong vùng núi đá vôi phía tây nam thành phố. Đi cùng tuyến thường ghé thêm các điểm khác trong khu Tam Cốc và Bích Động.
Toạ độ
20.2186, 105.9239
Khi tới nơi

Vài lệ của chính nơi này. Đường lên là bậc đá đục vào vách núi, nhiều đoạn hẹp và trơn khi mưa, nên quý vị đi một chiều và không dừng giữa đoạn bậc. Trong động Tối thiếu sáng, xin không chạm tay vào nhũ đá và không gõ vào quả chuông đồng. Ở cả ba nếp chùa, lệ chung vẫn là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ, đặt tiền vào hòm công đức.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Bích Động ở đâu và thờ ai

Chùa ở thôn Đam Khê, xã Ninh Hải cũ, nay thuộc phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Đây là chùa Phật Giáo Bắc Tông: chùa Hạ đặt các ban thờ Phật, chùa Trung thờ Phật A Di Đà cùng Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Quán Thế Âm, chùa Thượng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm.

Nam thiên đệ nhị động nghĩa là gì

Nghĩa là động đứng thứ nhì của trời Nam, xếp sau động Hương Tích ở chùa Hương. Đây là lời khen cảnh thuộc lớp văn nhân, ra đời cùng mạch với việc chúa Trịnh Sâm khắc hai chữ Bích Động lên vách đá, chứ không phải hạng bậc do cơ quan nào xếp.

Chùa Bích Động có mấy tầng và leo bao nhiêu bậc

Chùa có ba nếp xếp theo chiều cao: chùa Hạ ở chân núi, chùa Trung ở lưng núi và chùa Thượng ở trên cùng. Từ chùa Hạ lên chùa Trung tài liệu ghi khoảng 78 bậc đá. Từ chùa Trung lên chùa Thượng thì nguồn ghi 40, 43 hoặc 45 bậc, nên chúng tôi ghi cả ba.

Quả chuông cổ ở chùa Bích Động có từ năm nào

Quả chuông đồng do hai vị sư khai sơn Trí Kiên và Trí Thể cho đúc năm 1707, hiện treo trong động Tối phía trên chùa Trung. Cùng tấm bia đá khắc chữ Hán dựng năm 1709, đây là hai hiện vật cho niên đại chắc chắn nhất của lớp dựng lại đầu thế kỷ 18.

Chùa Bích Động dựng năm nào

Các tài liệu di tích đặt việc khởi dựng vào năm 1428, đầu thời Hậu Lê, khi đó chỉ là một ngôi chùa nhỏ trên núi. Việc mở rộng thành ba nếp chùa do hai vị sư khai sơn tiến hành đầu thế kỷ 18, nhưng nguồn ghi vênh nhau giữa năm 1695 và khoảng năm 1705.

Đọc Tiếp