Qua một cây cầu đá nhỏ và một khoảng sân bằng, quý vị gặp nếp chùa thứ nhất nằm sát chân núi, mái cong đầu đao, ngói đã ngả màu. Nhìn lên, không thấy nếp thứ hai đâu cả vì nó nằm cao hơn, lẫn vào màu đá và màu cây. Muốn tới thì phải leo, và đường leo là những bậc đá đục vào chính vách núi.
Chùa Bích Động không dàn theo một mặt bằng như phần lớn chùa Bắc Bộ mà xếp theo chiều cao, ba nếp trên một trục dọc đứng dựa vào sườn núi Ngũ Nhạc. Đây là chùa Phật Giáo Bắc Tông, tức dòng Đại Thừa của người Việt ở châu thổ, nhưng cách nó ăn vào khối đá vôi thì lại gần với lối chùa hang hơn là lối chùa gỗ. Chính chỗ nửa nhân tạo nửa tự nhiên ấy là điều đáng xem nhất ở đây.

ITên gọi và tông phái
Theo các tài liệu Phật học và giới thiệu di tích, trước khi mang tên hiện nay, ngôi chùa nhỏ trên núi từng có tên là Bạch Ngọc Thạch Sơn Đồng, nghĩa là ngôi chùa bằng đá đẹp và trong trắng như ngọc ở chốn sơn cước. Về sau nơi này mới đổi sang hai chữ Bích Động, nghĩa là động xanh hoặc động biếc, lấy theo sắc của đá và cây trên vách núi. Hai chữ ấy do người ngoài đặt rồi khắc thẳng lên đá, nên tên gọi ở đây có xuất xứ rõ hơn hầu hết chùa cổ khác.
Bên cạnh tên chùa còn một danh xưng nữa là Nam thiên đệ nhị động, nghĩa là động đứng thứ nhì của trời Nam, xếp sau động Hương Tích ở chùa Hương. Danh xưng ấy cho biết người xưa nhìn nơi này như một thắng cảnh có hang chứ không chỉ như một cơ sở thờ tự.
Về tông phái, đây là chùa theo Phật Giáo Bắc Tông, còn gọi là Đại Thừa, dòng chiếm phần lớn chùa chiền ở châu thổ sông Hồng. Dấu của dòng này thấy ngay trong cách bài trí khi chính điện thờ nhiều vị Phật và Bồ Tát cùng lúc chứ không chỉ thờ Đức Phật Thích Ca.
Theo các tài liệu nghiên cứu và giới thiệu di tích, chùa Hạ đặt các ban thờ Phật từ bộ Tam Thế, Di Lặc, Thích Ca sơ sinh tới Tứ Bồ Tát, Thập Điện Diêm Vương và Tứ Pháp. Chùa Trung ở lưng núi gồm ba gian tiền đường và ba gian thượng điện nằm sâu trong hốc núi, chính giữa thờ Phật Thích Ca Mâu Ni có cửu long phù giá, hai bên có Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền, A Nan (Thánh Hiền) và Đức Ông, trên có Tam Thế cùng Tây Phương Tam Thánh, bên trái chùa có Điện Mẫu thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Phía trên chùa Trung là động Tối, nơi đặt các pho tượng đá thờ Phật A Di Đà cùng Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Quán Thế Âm. Trên cùng là chùa Thượng (còn gọi là chùa Đông) thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, hai bên có hai miếu nhỏ thờ Sơn Thần ở cánh bắc (bên trái) và Thổ Địa ở cánh nam (bên phải). Thờ thần núi và thần đất bên cạnh ban Phật là nếp quen của chùa Việt.
Người đặt tên Bích Động là chúa Trịnh Sâm. Theo hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa, chúa cho khắc hai chữ Bích Động lên vách đá vào năm 1774, còn một số tài liệu Phật giáo và du lịch ghi mốc năm Quý Tỵ 1773. Hai con số cách nhau một năm, thư viện ghi rõ cả hai để quý vị đối chiếu. Bên cạnh hai chữ lớn Bích Động cao khoảng một mét rưỡi trên vách đá chùa Trung còn khắc hai dòng chữ nhỏ Nhật Nam Nguyên chủ bút (tức chúa Trịnh Sâm) và Nguyễn Nghiễm phụng đề (tức Tể tướng Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm, thân phụ đại thi hào Nguyễn Du, vâng mệnh đề chữ). Theo bài khảo trên báo Giác Ngộ, các nghệ nhân thời ấy đã phải đục đá khắc chữ trên vách núi ròng rã khoảng tám tháng mới hoàn thành.
Thời ấy việc đi xem núi, đặt tên đất, đề thơ và khắc chữ lên vách đá là thói quen của giới có học và của người cầm quyền. Hai chữ khắc lên đá vừa là lời khen cảnh, vừa là cách ghi dấu rằng nơi này đã được biết tới ngoài vùng.
Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, chữ động trong tên chùa không có nghĩa là cả ngôi chùa nằm trong hang. Chỉ một phần ở đây là hang, trong đó chùa Trung có nửa lọt vào vách núi và nửa nhô ra ngoài, phía trên nó là động Tối và dưới chân núi là động Xuyên Thủy, còn chùa Hạ và chùa Thượng đều là nhà gỗ trên nền đá lộ thiên. Chữ động chỉ cả khối núi có hang, theo cách dùng của người xưa.
Thứ hai, Nam thiên đệ nhị động không phải một hạng bậc do cơ quan nào xếp. Đó là lời khen cảnh thuộc lớp văn nhân, nằm trong một bộ ba danh xưng quen dùng trong thư tịch cũ, với đệ nhất động chỉ động Hương Tích. Xếp hạng chính thức là việc khác, khi chùa nằm trong hồ sơ danh lam thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động.
IITừ một thảo am đến ba nếp chùa
Lịch sử nơi này có thể tóm gọn từ một thảo am nhỏ trên núi, rồi hai vị sư tới tìm ra hang và biến một chỗ tu lẻ thành ba nếp chùa xếp theo chiều cao. Đoạn mở rộng ấy diễn ra vào khoảng bản lề giữa thế kỷ 17 và 18, lớp niên đại của hầu hết những gì quý vị thấy hôm nay.
- 1428Thảo am đầu tiênTài liệu di tích đặt việc khởi dựng vào đầu thời Hậu Lê với tên gọi Bạch Ngọc Thạch Sơn Đồng, quy mô ban đầu chỉ là một ngôi chùa nhỏ trên núi.
- Đầu thế kỷ 18Hai vị sư khai sơnHai nhà sư Trí Kiên và Trí Thể tới đây, tìm ra hệ hang động trong núi và vận động dựng lại thành ba ngôi chùa Hạ, Trung, Thượng theo thế tam cấp. Năm cụ thể được nguồn ghi là 1695 hoặc 1705.
- 1707Đúc quả chuông đồngHai vị sư khai sơn cho đúc một quả chuông đồng lớn vào năm Vĩnh Thịnh thứ 3 đời Lê Dụ Tông, hiện treo trong động Tối, là hiện vật có niên đại chắc chắn nhất của khu chùa.
- 1709Dựng bia đáMột tấm bia khắc chữ Hán dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 5 ghi việc tu tạo chùa Bích Động.
- 1773 hoặc 1774Chúa Trịnh Sâm đặt tên Bích ĐộngChúa Trịnh Sâm tới thăm chùa, đặt tên Bích Động và sai Tể tướng Nguyễn Nghiễm trông coi việc khắc chữ lên vách đá chùa Trung, công việc đục khắc kéo dài khoảng tám tháng.
- 2012Di tích quốc gia đặc biệtDanh lam thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2012.
- 2014Tràng An thành di sản thế giớiQuần thể danh thắng Tràng An, phạm vi chứa khu vực Bích Động, được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới.
Ba chỗ nguồn vênh nhau, xin ghi thẳng.
Năm mở rộng thành ba nếp chùa. Một bài trên tạp chí nghiên cứu Phật học ghi hai vị sư Trí Kiên và Trí Thể (người làng Vọng Nguyệt, Bắc Ninh và làng Đồng Đội, Nam Định cũ) mở rộng chùa năm 1695, còn báo Giác Ngộ và nhiều tài liệu khác ghi năm 1705 đời Lê Dụ Tông. Bảng dữ liệu của thư viện lấy mốc 1705. Cả hai đều trước năm đúc chuông 1707 nên không mâu thuẫn về thứ tự, nhưng khoảng mười năm chênh nhau thì chưa có tài liệu nào giải quyết dứt điểm.
Vị vua đi kinh lý. Các tài liệu đều kể một vị vua nhà Lê tới đây, thấy cảnh đẹp mà chùa chỉ là thảo am nên cho quyên góp dựng lại. Có nguồn ghi Lê Hiển Tông, nguồn khác ghi Lê Dụ Tông hoặc gắn với thời Lê Cảnh Hưng.
Số bậc đá. Từ chùa Hạ lên chùa Trung, các nguồn ghi vênh nhau giữa 78 bậc, khoảng 90 bậc hoặc 120 bậc đá dọc theo sườn núi. Từ chùa Trung lên động Tối qua dưới cầu Giải Oan là 21 hoặc 22 bậc đá, còn lên chùa Thượng là khoảng 40, 43 hoặc 45 bậc. Sự chênh lệch này do cách đếm từ chân núi hay từ từng đoạn dốc và những bậc đá tự nhiên xen trong bậc xây.
IIIBa nếp chùa và động Tối
Bố cục toàn khu theo lối chữ Tam Hán tự, tức ba nét ngang xếp lên nhau gồm ba tòa nhà độc lập, không nối mái, không chung tường, đặt ở ba cao độ trên cùng sườn núi Ngũ Nhạc. Cách xếp này khác hẳn lối nội công ngoại quốc của chùa Bắc Bộ, nơi các tòa nhà khép thành khung vuông trên mặt bằng. Ở đây không có khung nào cả, vì khung chính là khối núi.
Vật liệu thì vẫn là vật liệu chùa Việt với cột và kèo xà bằng gỗ lim, mái lợp ngói không có bờ nóc, đầu mái uốn cong theo lối lưỡi đao. Cái riêng là chỗ các bộ khung gỗ ấy phải ăn khớp vào vách đá.
Nếp thứ nhất gồm năm gian dựng trên nền đá cao ở chân núi, bố cục theo lối chữ Đinh, tiền đường và thượng điện dùng vì kèo giá chiêng, có tám cột đá liền khối cao trên bốn mét.
Đường bậc đá uốn hình chữ S men theo sườn núi (tài liệu ghi từ 78, 90 tới 120 bậc tùy điểm tính), làm người lên chùa mất hẳn tầm nhìn về chùa Hạ trước khi thấy chùa Trung.
Nếp thứ hai ở lưng núi, một nửa gắn vào hang đá và một nửa lộ thiên, mái có hai tầng sáu đao. Trên vách đá cao khắc hai chữ Bích Động cỡ một mét rưỡi cùng dòng chữ của Trịnh Sâm và Nguyễn Nghiễm.
Từ tiền đường chùa Trung bước lên 21 hoặc 22 bậc đá đi dưới cầu Giải Oan là tới động Tối. Lòng động cao rộng, treo quả chuông đồng đúc năm 1707 và đặt các pho tượng đá Phật A Di Đà, Văn Thù, Quán Thế Âm.
Nếp trên cùng quay hướng đông nam, ở độ cao gần sáu mươi mét, thờ Bồ Tát Quán Thế Âm. Hai bên có miếu thờ Sơn Thần và Thổ Địa, cạnh chùa có bể nước Cam Lộ.
Chùa còn tấm bia chữ Hán dựng năm 1709 ghi việc tu tạo. Dưới chân khối núi là động Xuyên Thủy, một hang nước tối và bằng phẳng dài khoảng 350 mét uốn hình bán nguyệt từ đông sang tây.
Hai điểm đáng dừng lại ở kiến trúc này. Thứ nhất, đường đi là một phần của kiến trúc. Tại chùa trên đất bằng, người lễ đi thẳng một trục và thấy đích ngay từ đầu, còn ở đây mỗi đoạn bậc đá uốn theo thế đá và mỗi lần lên hết một đoạn thì nếp chùa tiếp theo mới hiện ra. Thứ hai là sự phân vai theo cao độ, khi chùa Hạ ở dưới nhận phần đông đảo, chùa Trung ở giữa là chỗ chuyển tiếp vào lòng đá, còn chùa Thượng ở trên nhỏ nhất và thoáng nhất, hợp thành một lối đi từ chỗ ồn tới chỗ tĩnh.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong bia đá năm 1709 hay hồ sơ di tích. Phần này dài hơn các bài khác trong mục Địa Điểm, vì đây là một trong ít nơi mà thế đất hiện ra đủ cả bốn thứ sách địa lý cổ đòi gồm núi thật để tựa, hang trong núi, nước trước mặt và vòng núi khép chung quanh.
Một, chỗ tựa là núi thật. Ở đồng bằng sông Hồng, không có núi để tựa nên người xưa phải lấy đê, lấy gò hoặc lấy mặt nước lớn làm chỗ dựa, đó là một phép bù. Ở Bích Động thì không cần bù, vì cả ba nếp chùa đều dựa lưng thẳng vào khối đá vôi của núi Ngũ Nhạc, và cái hậu chẩm ấy vừa cao, vừa liền mạch, vừa không thể dời đi. Đá vôi bị nước mưa hòa tan dần nên khối núi nào cũng đầy hang, khe và mạch nước ngầm, sách cũ gọi núi loại này là núi có tạng, tức núi có phần rỗng bên trong.
Hai, hang trong núi đọc là chỗ tàng khí. Theo phép cũ, một huyệt tốt là chỗ khí tụ mà không tán, và không gì giữ khí chắc bằng một khoảng kín trong lòng đá. Động Tối nằm đúng giữa trục ba nếp chùa, nên đọc theo lối cổ truyền thì cái hang ấy giữ vai trò trung cung, tức tâm của thế đất. Việc quả chuông năm 1707 treo trong hang chứ không treo ở gác ngoài trời càng làm đậm cách đọc này, khi âm thanh cũng đi từ tâm ra ngoài đúng như khí.
Ba, trục dựng đứng thay cho trục nằm ngang. Chùa Bắc Bộ trên đất bằng dẫn khí theo một trục nằm, còn ở đây trục ấy được dựng đứng lên qua chùa Hạ, chùa Trung, động Tối, chùa Thượng. Phép cũ coi chiều cao là thứ bậc nên trục dọc ấy đọc ra được ngay. Đáng chú ý là hai miếu thờ Sơn Thần và Thổ Địa lại ở khu vực trên cùng bên cạnh chùa Thượng chứ không ở dưới chân, bởi chỗ cao ở đây đọc theo địa vật, thần núi thì ở với đỉnh núi.
Bốn, hướng và minh đường. Khu thờ mở mặt về phía đông nam có đầm sen, đồng ruộng và mặt nước, tức có khoảng đất bằng ngay trước cửa để khí dừng lại trước khi vào, điều sách cũ gọi là minh đường. Minh đường ở đây thuộc loại hiếm, vì không phải một cái sân do người làm ra mà là cả vùng ruộng nước và sông ngòi của lòng chảo đá vôi. Riêng chùa Thượng còn thêm tầm nhìn vượt qua vật chắn, thứ mà minh đường dưới chân núi không có.
Năm, vòng núi Ngũ Nhạc khép chung quanh. Từ chùa Thượng nhìn ra thấy năm ngọn núi độc lập là núi Tầm Sặng, núi Gia Định, núi Con Lợn, núi Đầu Cầu và núi Hang Dựa chầu về núi Bích Động ở giữa, xếp thành thế giống năm cánh hoa sen đang nở được gọi chung là Ngũ Nhạc Sơn. Đọc theo phép cũ, đây là thế nhiều ngọn cùng chầu về một điểm giữa, vòng núi khép được coi là thế kín giữ được khí. Hình bông sen không chỉ là phép so sánh cho đẹp, vì trong nhà Phật hoa sen là biểu tượng của sự thanh tịnh, nên đặt chùa vào giữa vòng núi hình sen là đặt công trình vào giữa hình ảnh của chính giáo lý mình, điều phép cũ gọi là đắc vị.
Sáu, chỗ khuyết và cách người xưa bù lại. Sách địa lý cổ không bao giờ khen một thế đất là hoàn hảo. Thế đất dốc đứng làm khu chùa không có sân rộng liền mạch, tức thiếu chỗ tụ người, nên người xưa bù lại bằng cách chia làm ba tầng. Một chỗ khuyết nữa là ẩm, vì nhà gỗ tựa vào đá vôi luôn phải chịu mạch nước rỉ từ trong núi, nên các tòa nhà đều để hở và phần tựa vách đặt sao cho nước theo đá chảy xuống chứ không đọng vào chân cột.
Bảy, vị trí trong vùng và mạch nước xuyên núi. Ngay dưới chân núi Bích Động là động Xuyên Thủy dài khoảng 350 mét dẫn nước ngầm xuyên qua lòng khối đá vôi, nối với cả vùng non nước Tam Cốc - Tràng An. Người xưa đã nhận ra điều mà địa chất về sau nói bằng từ khác, rằng đây là khối đá vôi bị nước khoét rỗng nên chỗ nào cũng vừa có núi vừa có hang vừa có nước. Trong phép cũ, vùng như vậy được coi là đất có mạch.
VLễ và ngày lễ theo âm lịch
Chùa Bích Động không có một kỳ hội làng lớn theo lối các ngôi đền, mà giữ nhịp lễ theo lịch Phật Giáo Bắc Tông, tức những ngày cố định theo âm lịch của nhà chùa. Vì chùa Thượng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, các ngày lễ gắn với vị Bồ Tát này được giữ khá đều.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 1 và ngày 15 hằng tháng | Lệ thường kỳ | Hai ngày sóc vọng, có tụng kinh và dâng hương tại cả ba nếp chùa. |
| Tháng Giêng | Lễ đầu xuân | Dịp đông người nhất trong năm, nối vào lệ đi chùa đầu năm của người trong vùng. |
| Ngày 19 tháng Hai | Lễ Bồ Tát Quán Thế Âm | Ngày kính Bồ Tát Quán Thế Âm, có ý nghĩa riêng ở đây vì chùa Thượng thờ vị Bồ Tát này. |
| Ngày 15 tháng Tư | Lễ Phật đản | Ngày kính Đức Phật Thích Ca đản sinh theo lịch Bắc Tông hiện dùng ở Việt Nam. |
| Ngày 19 tháng Sáu và 19 tháng Chín | Hai ngày lễ Quán Thế Âm còn lại | Hai ngày kính khác trong năm, quy mô gọn hơn ngày 19 tháng Hai. |
| Ngày 15 tháng Bảy | Lễ Vu Lan | Ngày lễ báo hiếu, một trong những dịp trọng của năm theo lịch Bắc Tông. |
Một nếp riêng của chính nơi này là vì ba nếp chùa ở ba cao độ và nối với nhau chỉ bằng bậc đá hẹp, nghi thức dâng hương không diễn ra cùng lúc ở một chỗ mà đi theo trình tự từ dưới lên, tức lễ ở chùa Hạ trước, lên chùa Trung, qua động Tối, rồi mới lên chùa Thượng.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Đam Khê, xã Ninh Hải cũ, nay là phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
- Đường tới
- Chùa nằm ở thôn Đam Khê, xã Ninh Hải cũ, nay thuộc phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, trong vùng núi đá vôi phía tây nam thành phố. Đi cùng tuyến thường ghé thêm động Xuyên Thủy và các điểm khác trong khu Tam Cốc - Bích Động.
- Toạ độ
- 20.2181, 105.9144
Vài lệ của chính nơi này. Đường lên là bậc đá đục vào vách núi, nhiều đoạn hẹp và trơn khi mưa, nên quý vị đi một chiều và không dừng giữa đoạn bậc. Trong động Tối thiếu sáng, xin không chạm tay vào nhũ đá và không tự ý gõ vào quả chuông đồng cổ. Ở cả ba nếp chùa, lệ chung vẫn là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ, đặt tiền vào hòm công đức.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Bích Động
Contribute photos, information or video for Bich Dong PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Bích Động ở đâu và thờ ai
Chùa ở sườn núi Ngũ Nhạc, thôn Đam Khê, xã Ninh Hải cũ, nay thuộc phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Đây là chùa Phật Giáo Bắc Tông. Chùa Hạ đặt các ban thờ Phật Tam Thế, Di Lặc, Thích Ca. Chùa Trung thờ Phật Thích Ca Mâu Ni cùng Văn Thù, Phổ Hiền, A Nan, Đức Ông và có Điện Mẫu bên trái. Động Tối phía trên chùa Trung đặt tượng đá Phật A Di Đà, Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Quán Thế Âm. Chùa Thượng (chùa Đông) thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, hai bên có miếu thờ Sơn Thần và Thổ Địa.
Nam thiên đệ nhị động nghĩa là gì
Nghĩa là động đứng thứ nhì của trời Nam, xếp sau động Hương Tích ở chùa Hương. Đây là lời khen cảnh thuộc lớp văn nhân, gắn với việc chúa Trịnh Sâm đặt tên và cho khắc hai chữ Bích Động lên vách đá chùa Trung vào năm 1773 hoặc 1774, chứ không phải hạng bậc hành chính.
Chùa Bích Động có mấy tầng và leo bao nhiêu bậc
Chùa có ba nếp xếp theo chiều cao gồm chùa Hạ ở chân núi, chùa Trung ở lưng núi và chùa Thượng ở trên cùng. Từ chùa Hạ lên chùa Trung các nguồn ghi vênh nhau giữa 78, khoảng 90 hoặc 120 bậc đá tùy điểm tính. Từ chùa Trung qua cầu Giải Oan lên động Tối là 21 hoặc 22 bậc, và lên chùa Thượng là khoảng 40, 43 hoặc 45 bậc đá.
Quả chuông cổ ở chùa Bích Động có từ năm nào
Quả chuông đồng do hai vị sư khai sơn Trí Kiên và Trí Thể cho đúc năm Đinh Hợi niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), hiện treo trong động Tối phía trên chùa Trung. Cùng tấm bia đá khắc chữ Hán dựng năm 1709, đây là hai hiện vật cho niên đại chắc chắn nhất của lớp dựng lại đầu thế kỷ 18.
Chùa Bích Động dựng năm nào
Các tài liệu di tích đặt việc khởi dựng vào năm 1428 đầu thời Hậu Lê với tên gọi Bạch Ngọc Thạch Sơn Đồng, khi đó chỉ là một ngôi chùa nhỏ trên núi. Việc mở rộng thành ba nếp chùa do hai vị sư Trí Kiên và Trí Thể tiến hành, nguồn ghi vênh nhau giữa năm 1695 và năm 1705.