Đứng trên triền đê sông Hồng ở thôn Đa Hòa, quý vị nhìn thấy trước mặt một dãy mái ngói xếp lô xô, đầu mái nào cũng vểnh lên như mũi thuyền, và cả khu đền quay hẳn mặt ra mặt nước. Bên kia sông là bãi Tự Nhiên, dải cát giữa dòng mà thần tích đặt làm chỗ gặp nhau của một chàng trai không có mảnh khố che thân và một nàng công chúa con vua.
Cách bày ấy không tùy ý. Đền Đa Hòa là ngôi đền chính của một cụm gồm hai nơi thờ: Đa Hòa ở đây, và Dạ Trạch cách đó hơn mười cây số, nơi thần tích đặt đoạn cuối của câu chuyện. Cần nói rõ ngay một điều: đây là nơi thờ người, không thờ thần thiên nhiên. Chử Đồng Tử được thờ theo tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, tức lối thờ đem một con người của truyền thuyết hay của sử lên hàng thần linh, và ông được xếp vào hàng Tứ bất tử.

壹Vị Thần Được Thờ Và Thần Tích
Hậu cung đền thờ ba vị cùng lúc: Đức thánh Chử Đồng Tử ở giữa, hai bên là hai vị phu nhân, công chúa Tiên Dung và công chúa Tây Sa. Ba pho tượng đồng ấy là trung tâm thờ tự của cả khu đền, và cách bày ba vị ngang một hàng cho biết ngay rằng nơi này thờ một gia đình chứ không thờ một vị lẻ.
Xin nói rõ một điểm về chữ viết. Ba chữ Hán đặt cạnh tên bài là chữ viết tên Chử Đồng Tử theo âm Hán Việt, do thư viện suy ra để quý vị tiện đối chiếu, chứ không phải chép lại từ một tấm hoành phi hay một tấm bia nào trong đền.
Theo lối thờ tự cổ truyền của người Việt, thần linh chia làm mấy lớp: thiên thần là thần của trời đất và hiện tượng tự nhiên, thổ thần là thần của một khoảnh đất, còn nhân thần là người thật hoặc người trong truyền thuyết được tôn lên hàng thần sau khi mất. Đền Đa Hòa thuộc lớp thứ ba.
Chử Đồng Tử còn đi thêm một bước: ông được xếp vào Tứ bất tử, bốn vị thần bất tử trong tâm thức dân gian người Việt, cùng Thánh Tản Viên, Thánh Gióng và Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Bốn vị ấy không phải hệ thần do một tôn giáo nào quy định mà là bảng xếp do dân gian dựng nên, nên danh sách có lúc ghi khác nhau ở vị thứ tư.
Thần tích chép như sau. Chử Đồng Tử quê làng Chử Xá, nhà nghèo tới mức cha con chỉ còn một cái khố dùng chung. Cha mất, ông ở lại bãi sông kiếm ăn, không có gì che thân. Một hôm thuyền của Tiên Dung, con gái vua Hùng thứ mười tám, ghé bãi cát giữa dòng; nàng cho quây màn tắm đúng chỗ ông đang vùi mình dưới cát. Nước xối làm cát trôi, hai người gặp nhau, nàng coi đó là duyên trời định nên nên duyên vợ chồng ngay trên bãi ấy. Vua cha không nhận, đôi vợ chồng ở lại vùng ven sông mở chợ buôn bán.
Lớp thứ hai là lớp đạo: trong một chuyến buôn xa, Chử Đồng Tử gặp vị sư tên Phật Quang trên hòn núi ngoài biển, ở lại học đạo, khi về được trao một cây gậy và một chiếc nón làm vật hộ thân, rồi hai vợ chồng bỏ nghề buôn mà đi tìm đạo. Lớp thứ ba là lớp hóa: cả gia đình cùng nhà cửa một đêm bay lên trời, chỗ đất sụt lại thành đầm Dạ Trạch, nghĩa là đầm một đêm.
Cần ghi rõ: toàn bộ đoạn trên thuộc lớp truyền thuyết, chép trong các tập truyện dân gian và thần tích các làng ven sông, không phải sử biên niên. Giá trị sử liệu của nó nằm ở chỗ cho thấy người Việt châu thổ đã dựng một vị thần của riêng mình từ chất liệu nào.
Một chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu. Nhiều người đọc thần tích rồi xếp Chử Đồng Tử vào hàng thần tài, vì trong truyện có đoạn ông và Tiên Dung mở chợ làm giàu. Các tư liệu di tích thì không đặt trọng tâm ở đó: lớp nghĩa được nhấn mạnh nhất là lớp đạo hiếu ở đầu truyện và lớp tìm đạo ở cuối truyện, còn đoạn buôn bán chỉ là khúc giữa. Cũng vì lớp cuối ấy mà một số nhà nghiên cứu Phật học coi Chử Đồng Tử là hình ảnh sớm nhất trong truyền thuyết Việt về một người bản địa nhận pháp từ một vị sư.
貳Từ Thần Tích Đến Cụm Hai Ngôi Đền
Lịch sử nơi này chia hai lớp rất tách bạch. Lớp thứ nhất là lớp truyền thuyết, không có niên đại chắc chắn. Lớp thứ hai là lớp công trình, và lớp này thì có mốc rõ: phần lớn những gì quý vị thấy hôm nay thuộc cuối thế kỷ 19.
- Lớp thần tíchChuyện Chử Đồng Tử và Tiên DungTruyền thuyết đặt câu chuyện vào đời Hùng Vương thứ mười tám, chép trong các tập truyện dân gian và thần tích các làng ven sông Hồng, không có văn bản đương thời xác nhận.
- Trước năm 1894Ngôi đền cũ trong vùngCác tư liệu đều dùng chữ dựng lại cho mốc 1894, tức trước đó vùng này đã có nơi thờ Đức thánh. Niên đại lớp đền cũ không tư liệu nào nêu cụ thể.
- 1890Dựng lại đền Dạ TrạchTheo tài liệu giới thiệu di tích, đền Dạ Trạch được dựng lại trong năm này, sớm hơn đền Đa Hòa vài năm.
- 1894Chu Mạnh Trinh dựng lại đền Đa HòaTiến sĩ Chu Mạnh Trinh, người cùng vùng, đứng ra thiết kế và vận động các làng dựng lại khu đền theo quy mô mười tám nóc nhà còn thấy hôm nay.
- 1989Xếp hạng di tích quốc giaTheo tài liệu giới thiệu di tích, đền Dạ Trạch được xếp hạng di tích cấp quốc gia trong năm này, mốc do tài liệu phổ thông nêu.
- 2024Di tích quốc gia đặc biệtKhu di tích Đa Hòa và Dạ Trạch được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1473 ngày 26 tháng 11 năm 2024. Hồ sơ gồm đền Đa Hòa, đền Dạ Trạch, đền Trung, chùa Đa Hòa và đền thờ Triệu Việt Vương.
- 2026Công bố quyết định và đón bằngLễ công bố quyết định và đón bằng được tổ chức đúng dịp khai hội tháng Hai âm lịch tại đền Đa Hòa.
Hai chỗ nguồn vênh nhau, xin ghi thẳng thay vì chọn bừa một con số.
Diện tích khu đền Đa Hòa. Một tài liệu giới thiệu di tích ghi khoảng 18.720 mét vuông, tài liệu khác ghi 19.720 mét vuông. Khoảng chênh ấy nhiều khả năng đến từ phạm vi đo, và chúng tôi chưa tra được hồ sơ khoanh vùng nào để nói dứt điểm.
Nhịp tổ chức lễ hội. Ngày thì các nguồn thống nhất, từ mùng mười tới mười hai tháng Hai âm lịch. Về nhịp thì có nguồn ghi hội mở hằng năm, có nguồn ghi chính hội ba năm mới mở một lần, nên chúng tôi ghi cả hai.
參Mười Tám Nóc Mái Và Bộ Đồ Thờ
Điều đầu tiên người ta nhớ về đền Đa Hòa là mười tám nóc nhà lớn nhỏ khác nhau, xếp thành một cụm chứ không thành một khối. Con số ấy có ý: các tài liệu di tích giải thích theo hai hướng cùng lúc, mười tám là tuổi của công chúa Tiên Dung lúc gặp Chử Đồng Tử theo thần tích, và mười tám là đời Hùng Vương mà truyền thuyết đặt câu chuyện vào.
Hình dáng mái cũng có ý. Đầu mái các nóc đều vểnh cong lên, và người trong vùng đọc đường cong ấy là hình mũi thuyền, gợi lại đoàn thuyền của công chúa trên sông Hồng. Đứng từ xa nhìn vào, cả khu đền quả có dáng một đoàn thuyền đang đậu sát bờ, mũi quay ra nước.
Cổng chính, mở ra phía bờ sông. Đây là lớp đầu trong trục dẫn từ ngoài vào, cũng là chỗ đoàn rước đi qua trong ngày hội.
Toà lớn nhất trong khu, nơi tiến hành phần tế chính và cũng là chỗ tập trung nhiều mảng chạm gỗ nhất của cả khu đền.
Lớp nhà nối giữa đại tế và các cung trong, giữ vai trò dâng hương. Bố cục ba lớp nối nhau theo trục dọc là lối quen của đền miếu Bắc Bộ.
Hai lớp cung giữa thiêu hương và hậu cung, đặt hương án và đồ thờ. Số lớp cung nhiều là dấu hiệu của một ngôi đền thờ theo nghi thức đủ bậc.
Lớp trong cùng, đặt ba pho tượng đồng Đức thánh Chử Đồng Tử cùng hai vị phu nhân. Không gian hẹp và tối hơn các lớp ngoài.
Hiện vật được nhắc nhiều nhất trong bộ đồ thờ: một đôi lọ gốm, trên thân khắc một trăm chữ thọ, không chữ nào viết giống chữ nào.
Ngoài ba pho tượng đồng và đôi lọ Bách thọ, khu đền còn giữ ngai thờ, hương án, hoành phi và câu đối cùng lớp niên đại với lần dựng lại năm 1894. Điều đáng chú ý là bộ đồ thờ ở đây đủ bộ và cùng một lớp: đền được dựng lại trong một đợt, dưới sự chủ trì của một người, nên đồ thờ không phải tập hợp chắp vá của nhiều đời mà là một bộ thống nhất.
Cũng nên nói một câu về đền Dạ Trạch, ngôi thứ hai trong cụm: đền dựng bên đầm Dạ Trạch, bộ mái ba tầng cong, quy mô gọn hơn Đa Hòa nhưng vị trí gắn chặt vào đoạn kết của thần tích.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia, thần tích hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đáng đọc trước nhất là chỗ đặt và hướng nhìn. Đền Đa Hòa không quay vào làng mà quay hẳn mặt ra sông Hồng, nhìn sang bãi Tự Nhiên bên kia dòng. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì dòng nước lớn thay chỗ cho mạch núi, và một công trình mở mặt ra chính giữa dòng được coi là trực diện thủy khẩu, tức đối diện thẳng với chỗ nước đi qua. Lối đặt này thường tránh trong nhà ở, vì dòng chảy mạnh coi là xổ khí; nhưng với nơi thờ tự thì lại được chuộng, bởi đền không cần giữ khí cho một gia đình mà cần đón khí của cả một vùng nước.
Kế đến là sự trùng khớp giữa nước và vị được thờ. Cả ba lớp của thần tích đều diễn ra trên nước hoặc cạnh nước: bãi cát giữa dòng, những chuyến buôn bằng thuyền, và một cái đầm hiện ra sau đêm hóa. Đặt đền ngay bờ sông là đặt nơi thờ vào đúng hành của vị được thờ, điều mà phép cũ gọi là đắc vị. Xét theo ngũ hành thì đây là thế Thủy Thổ tương giao: dòng lớn là Thủy, bãi bồi và triền đê là Thổ, hai thứ gặp nhau sinh phù sa, mà phù sa là chỗ sinh của nghề nông và chợ búa ven sông, đúng hai thứ thần tích kể.
Thứ ba là hình thể của khối mái. Mười tám nóc nhà không xếp thành một khối vuông mà trải thành cụm có cao có thấp, đầu mái cong cùng một chiều. Đọc theo lối cổ truyền, cụm mái nhấp nhô như vậy dẫn mắt cùng về một điểm, ở đây là hậu cung. Cái dáng thuyền mà người trong vùng nhận ra còn nói thêm một điều: khối kiến trúc không đối lập với dòng nước trước mặt mà bắt chước nó, và trong phép cũ, công trình mượn hình của cảnh chung quanh thì gọi là tá hình.
Thứ tư là thế lưng tựa đê. Sau lưng đền là triền đê sông Hồng, dải đất nhân tạo cao hơn đồng ruộng chung quanh. Sách địa lý cổ đòi công trình phải có hậu chẩm, tức chỗ dựa phía sau, mà ở châu thổ không núi thì con đê là hậu chẩm duy nhất có thể có. Đây là điểm nên để ý khi đọc thế đất của bất cứ ngôi đền nào ven sông Hồng: chỗ tựa lưng của chúng phần lớn do người làm ra, và người xưa vẫn dùng nó như dùng một quả núi.
Sau cùng là bố cục của cả cụm. Hai ngôi đền chính cách nhau hơn mười cây số, một ngôi ở bờ sông, một ngôi bên đầm. Đọc theo lối phong thủy thì đây không phải hai điểm rời mà là một trục đi từ nước chảy sang nước đọng, từ chỗ mở sang chỗ kết, đúng theo thứ tự của thần tích. Bố trí một cụm thờ theo diễn biến của một câu chuyện là lối riêng của các vùng thờ nhân thần ở châu thổ.
伍Lễ Tháng Hai Âm Lịch
Kỳ lễ lớn của cụm đền mở vào tháng Hai âm lịch, ngày chính từ mùng mười tới mười hai. Đây là hội của cả một vùng chứ không của riêng một làng: các làng ven sông trong vùng đều có phần trong đám rước, và phần rước ấy đi trên nước chứ không chỉ đi trên đường.
| Ngày âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 10 tháng Hai | Khai hội | Mở đầu kỳ lễ tại đền Đa Hòa, có tế lễ và dâng hương của các làng trong vùng. |
| Mùng 10 tháng Hai | Rước nước sông Hồng | Đoàn thuyền ra giữa dòng lấy nước về đền. Đây là nghi thức được nhắc tới nhiều nhất trong kỳ lễ, gắn với việc thần tích đặt cả câu chuyện trên mặt nước. |
| Mùng 11 tháng Hai | Rước kiệu | Kiệu được rước theo tuyến giữa các làng có phần trong hội, nối các nơi thờ trong vùng thành một vòng. |
| Mùng 11 và 12 tháng Hai | Múa rồng và diễn xướng | Phần hội gồm múa rồng, hát quan họ và các hình thức diễn xướng dân gian của các làng trong vùng. |
| Mùng 12 tháng Hai | Tế và hoàn cung | Phần tế cuối kỳ lễ, sau đó các kiệu được rước về chỗ cũ, khép lại vòng hội. |
Lễ rước nước đáng nói thêm một câu. Một đám rước của đền mà phần trọng nhất diễn ra trên thuyền, giữa dòng sông, thì đã tự nói ra gốc gác của nơi thờ: nó lặp lại đúng khung cảnh mà thần tích dựng nên. Nhiều nơi khác diễn lại sự tích bằng lời văn tế; ở đây người ta diễn lại bằng chính mặt nước.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Đa Hòa, xã Bình Minh cũ, nay là xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên
- Đường tới
- Đền nằm ở thôn Đa Hòa, xã Bình Minh cũ, nay thuộc xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên, ngay sát triền đê sông Hồng. Đi cùng tuyến nên tính ghé cả đền Dạ Trạch, ngôi thứ hai trong cụm di tích.
- Toạ độ
- 20.8533, 105.9144
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ của chính nơi ấy là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp cung trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm vào ba pho tượng đồng, đôi lọ Bách thọ và các ngai thờ, đặt tiền vào hòm công đức. Việc chụp ảnh trong hậu cung tùy lệ từng lúc, xin hỏi người trông coi đền trước. Mùa lễ tháng Hai có đám rước cắt ngang sân, xin nhường đường cho kiệu.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Chử Đồng Tử thờ ai
Thờ Đức thánh Chử Đồng Tử cùng hai vị phu nhân là công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng thứ mười tám theo thần tích, và công chúa Tây Sa. Đây là lối thờ nhân thần của người Việt, tức đem một nhân vật của truyền thuyết lên hàng thần linh; Chử Đồng Tử còn được xếp vào hàng Tứ bất tử.
Đền Đa Hòa và đền Dạ Trạch khác nhau thế nào
Hai ngôi cùng thuộc một cụm di tích và cùng thờ một vị. Đền Đa Hòa sát bờ sông Hồng, nhìn sang bãi Tự Nhiên, chỗ thần tích đặt cuộc gặp đầu tiên, và là ngôi đền chính. Đền Dạ Trạch nằm bên đầm Dạ Trạch, chỗ thần tích đặt đoạn cuối. Một nơi giữ phần mở, một nơi giữ phần kết.
Vì sao đền Đa Hòa có mười tám nóc mái
Các tài liệu di tích giải thích theo hai hướng cùng lúc: mười tám là tuổi của công chúa Tiên Dung lúc gặp Chử Đồng Tử theo thần tích, và mười tám là đời Hùng Vương mà truyền thuyết đặt câu chuyện vào. Đầu mái các nóc đều vểnh cong như mũi thuyền, gợi lại đoàn thuyền của công chúa trên sông Hồng.
Chu Mạnh Trinh có phải người dựng đền đầu tiên không
Không phải. Trước năm 1894, vùng này đã có nơi thờ Đức thánh; tiến sĩ Chu Mạnh Trinh là người đứng ra thiết kế và vận động các làng dựng lại khu đền theo quy mô còn thấy hôm nay. Vì thế các tư liệu đều dùng chữ dựng lại chứ không dùng chữ khởi dựng cho mốc 1894.
Lễ hội đền Chử Đồng Tử mở vào ngày nào
Từ mùng mười tới mười hai tháng Hai âm lịch, với nghi thức được nhắc nhiều nhất là lễ rước nước, tức đoàn thuyền ra giữa dòng sông Hồng lấy nước về đền. Về nhịp tổ chức thì nguồn vênh nhau, có nguồn ghi hội mở hằng năm, có nguồn ghi chính hội ba năm một lần.