VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Dơi

· Chùa Mahatup, Chùa Mã Tộc, Sêrâytêchô Mahatup

Ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông Khmer mang tên chính là Sêrâytêchô Mahatup, được người Việt quanh vùng gọi theo đàn dơi ngựa trú trong vườn cổ thụ của chùa.

Khởi dựng
1569
theo tư liệu chùa, do ông Thạch Út đứng ra dựng
Chánh điện
20,8 x 11,3 mét
nguồn khác ghi dài gần 20 mét, rộng hơn 10 mét
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng năm 1999, nguồn ghi ngày 12 tháng 2

Quý vị bước qua cổng chùa vào lúc chiều muộn thì nghe trước khi thấy. Trên tầng lá của những cây sao, cây dầu cổ thụ trong vườn là một thứ tiếng rít khẽ và liên tục, xen tiếng vỗ cánh. Ngước lên, quý vị thấy hàng nghìn khối đen treo ngược trên cành, con lớn nhất sải cánh tới một mét rưỡi. Khi trời tắt nắng, chúng lần lượt rời cây, bay thành từng vệt qua nóc chánh điện để đi ăn xa.

Giữa vườn cây ấy là một toà chánh điện nền cao ba cấp, mái xếp thành nhiều lớp, đầu mái vút lên thành hình đuôi rồng Naga. Người Việt quanh vùng gọi cả khu này là chùa Dơi. Nhưng tên chính của chùa là Sêrâytêchô Mahatup, và đây là một ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông Khmer, không phải chùa Bắc Tông của người Kinh.

Chùa Dơi
Chùa Dơi. Ảnh: Phucphucphuc, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Hai Cái Tên Và Một Tông Phái

Chùa mang nhiều tên cùng lúc. Sêrâytêchô Mahatup là tên gọi đầy đủ theo tiếng Khmer, thuộc lớp chính thức. Chùa Mahatup là cách gọi ngắn. Chùa Mã Tộc là cách người Việt phiên âm hai tiếng Mahatup sang âm Hán Việt. Chùa Dơi là tên dân gian, gọi theo đàn dơi trong vườn. Chùa không có tên chữ Hán như chùa Bắc Tông của người Kinh, vì kinh sách và văn tự thờ tự ở đây dùng tiếng Khmer và tiếng Pali.

Theo giáo nghĩa

Đây là chùa của Phật Giáo Nam Tông Khmer, tức dòng Theravada theo hệ kinh điển Pali, do cộng đồng người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long gìn giữ. Dòng này khác dòng Bắc Tông của người Kinh ở nhiều điểm có thể thấy ngay bằng mắt.

Đối tượng thờ. Chánh điện Nam Tông Khmer chỉ thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, không có tượng vị Phật nào khác và không có tượng Bồ Tát. Chùa Bắc Tông thì thờ nhiều lớp: Tam Thế, A Di Đà, Quan Thế Âm, Địa Tạng, cùng các ban Đức Ông, Đức Thánh Hiền, nhiều nơi có cả ban Mẫu.

Kinh và tiếng. Nam Tông Khmer tụng kinh tiếng Pali và giảng tiếng Khmer; Bắc Tông tụng kinh chữ Hán đọc theo âm Hán Việt.

Nếp tu. Sư Nam Tông Khmer giữ giới theo Phật Giáo nguyên thủy, đi khất thực, ăn hai bữa và dứt bữa trước giữa trưa, không giữ lệ ăn chay trường như tăng ni Bắc Tông. Áo cà sa màu vàng cam, khác màu nâu và màu lam của Bắc Tông.

Vai trò của chùa. Theo lệ Khmer, con trai trong làng tới tuổi trên mười hai thường vào chùa xuất gia một thời gian, ít thì bảy ngày, nhiều thì ba tháng hoặc lâu hơn, coi đó là chặng học làm người. Ngôi chùa vì thế vừa là nơi thờ tự, vừa là trường học, vừa là trung tâm sinh hoạt của cả cộng đồng; chùa Bắc Tông không có lệ ấy. Chúng tôi ghi những chỗ khác ra để quý vị đọc đúng nơi mình đang đứng, không xếp dòng nào cao hơn dòng nào.

Theo sử liệu

Nghĩa của hai tiếng Mahatup thì nguồn vênh nhau. Cách giải được nhắc nhiều nhất, có trong bài của báo Pháp Luật và phần lớn tư liệu địa phương, là trận kháng cự lớn, gắn với một sự việc xảy ra trên vùng đất này theo lời truyền trong dân. Một nguồn khác giải là do phúc đức mà thành. Chúng tôi chưa tra được tài liệu ngôn ngữ học nào nói dứt điểm nên ghi cả hai.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất về nơi này nằm ngay trong cái tên.

Nhiều người nghĩ chùa Dơi là tên do người Khmer đặt cho chùa của mình theo đàn dơi trong vườn. Không phải. Tên chính của chùa là Sêrâytêchô Mahatup, thuộc tiếng Khmer và không có chữ nào nghĩa là dơi. Tên chùa Dơi là tên dân gian do người Việt quanh vùng gọi theo thứ dễ thấy nhất ở đây, rồi lan ra cả nước qua sách báo và các bản tin du lịch, tới mức lấn hẳn tên chính. Bảng tên chùa và các văn bản của chùa vẫn ghi Mahatup.

Kèm theo đó là một chỗ nhầm nhỏ hơn: đàn dơi ở đây không phải dơi ăn muỗi thường thấy quanh nhà, mà là dơi ngựa, dân gian còn gọi dơi quạ, loài dơi lớn ăn quả. Chúng không ăn quả trong vườn chùa mà bay rất xa để tìm ăn.

Bốn Trăm Năm Mươi Năm Của Một Ngôi Chùa Làng

Chùa dựng vào thế kỷ 16, khi vùng đất này còn thưa người. Buổi đầu chùa làm bằng tre gỗ lợp lá, như hầu hết chùa Khmer khi mới lập; các lớp kiến trúc bằng gạch và ngói đến về sau, qua nhiều đợt dựng lại.

  • 1569Khởi dựng
    Theo tư liệu của chùa, chùa được dựng năm 1569 do ông Thạch Út đứng ra. Công trình buổi đầu bằng tre gỗ lợp lá.
  • Các thế kỷ sauDựng lại bằng gạch ngói
    Chùa được dựng lại nhiều lần bằng vật liệu bền hơn, hình thành dần khối chánh điện nền cao ba cấp cùng các dãy sala, tăng phòng và khu tháp cốt trong vườn.
  • 1960Trùng tu chánh điện
    Một đợt sửa lớn đối với chánh điện, được tư liệu về chùa nhắc tới như mốc trùng tu quan trọng của thế kỷ 20.
  • 1989Bắt đầu tục an táng heo năm móng
    Theo lời kể trong vùng, khoảng năm này một con heo có năm móng tìm tới cổng chùa và được nuôi. Từ đó người trong vùng gửi heo năm móng vào chùa.
  • 1999Di tích quốc gia
    Chùa được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Một nguồn ghi cụ thể ngày 12 tháng 2 năm 1999.
  • 2007Chánh điện bị cháy
    Chánh điện bị hỏa hoạn, phần lớn cấu kiện gỗ và nhiều hiện vật bên trong hư hại. Đàn dơi trong vườn tản đi một thời gian sau đó.
  • 2009 tới 2010Dựng lại chánh điện
    Chánh điện được phục dựng theo dáng cũ; năm khánh thành các nguồn ghi khác nhau, chi tiết nêu ngay dưới đây. Đàn dơi dần trở về nhưng số lượng không bằng trước.
Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau, xin ghi cả. Về năm cháy chánh điện, báo Pháp Luật và một bản tin của VietnamNet ghi năm 2007; hai trang tổng hợp tư liệu khác ghi năm 2008. Về năm khánh thành lại, một nguồn ghi tháng 4 năm 2009, nguồn khác ghi năm 2010. Chúng tôi chưa tra được văn bản của cơ quan quản lý di tích để chốt nên ghi cả hai cặp.

Kích thước chánh điện cũng lệch nhẹ: nguồn ghi 20,8 mét nhân 11,3 mét, nguồn ghi gọn là dài gần 20 mét và rộng hơn 10 mét. Về pho tượng Phật, nguồn ghi tượng cao khoảng 2 mét đặt trên bệ, nguồn khác ghi bệ sen cao khoảng 1,5 mét.

Chánh Điện Lối Khmer Và Khu Vườn Bốn Hecta

Khuôn viên chùa rộng khoảng bốn hecta, phần lớn là vườn cây cổ thụ và ao. Các hạng mục không dàn theo một trục dọc sâu như chùa Bắc Tông, mà đặt rải trong vườn quanh khối chánh điện đứng giữa trên nền cao. Cách bố trí ấy là lệ chung của chùa Nam Tông Khmer: chánh điện là tâm, mọi thứ khác vây quanh.

Chánh điện

Toà nhà chính, nền nâng ba cấp, mặt bằng khoảng 20,8 mét nhân 11,3 mét theo một nguồn. Mái xếp thành nhiều lớp chồng lên nhau, bốn đầu mái vút cong thành hình đuôi rồng Naga. Bên trong chỉ thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, pho chính cao khoảng 2 mét đặt trên bệ sen.

Hoa văn và tượng đỡ cột

Trên cột và trên hệ mái là các mô típ đặc trưng Khmer: rồng Naga nhiều đầu, chim thần Krud đứng đỡ cột ở hành lang, và các hình tiên nữ Kẽn naarr. Trần và vách có tranh kể các chặng trong đời Đức Phật, vẽ theo lối Khmer.

Sala và tăng phòng

Sala là nhà hội của chùa, nơi làm lễ đông người, nơi dạy chữ Khmer và tiếng Pali cho con em trong vùng, cũng là nơi tập nhạc ngũ âm. Tăng phòng là chỗ ở của các vị sư.

Khu tháp cốt

Trong vườn có nhiều ngọn tháp nhỏ đặt tro cốt. Theo lệ Khmer, người mất được hỏa táng rồi tro cốt gửi vào tháp trong chùa, nên khu tháp cốt là nơi cả họ tộc trở về chứ không phải mộ phần riêng lẻ.

Vườn cổ thụ và đàn dơi

Vườn sao, dầu và các cây lớn khác là chỗ đàn dơi ngựa treo mình suốt ngày. Loài này nặng khoảng nửa cân tới một cân, sải cánh từ một mét tới một mét rưỡi, mỗi năm chỉ sinh một lứa và mỗi lứa một con.

Khu mộ heo năm móng

Một góc vườn có những nấm mộ nhỏ, trên mộ vẽ hình con heo. Đây là chỗ an táng những con heo có năm móng được người trong vùng gửi vào chùa từ khoảng năm 1989. Về sau chùa không nhận nuôi thêm heo nữa.

Khu mộ heo năm móng là hạng mục lạ nhất trong khuôn viên, và nó không thuộc giáo nghĩa nhà Phật mà thuộc một lớp tín niệm dân gian. Trong quan niệm truyền trong vùng, con heo có năm móng thay vì bốn được coi là mang linh tính của người, nên người nuôi không dám giết, không dám bán, mà gửi vào chùa. Chùa nhận, nuôi cho tới khi heo chết già, rồi chôn trong vườn và vẽ hình con heo lên mộ. Chúng tôi ghi lại như một sự việc có thật trong vùng, không bàn đúng sai.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, không phải điều được chép trong văn bản của chùa. Xin nói rõ thêm một điều quan trọng: Phật Giáo Nam Tông Khmer không dạy phong thủy. Hướng của chánh điện chùa Khmer định theo quy tắc riêng của dòng này, tức mặt tiền quay về hướng Đông, theo lệ Đức Phật thành đạo trong thế ngồi mặt hướng về phía Đông. Phần dưới đây chỉ là chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt.

Thế đất và hướng

Trước hết là hướng Đông. Trong phép xem đất của người Việt, phương Đông thuộc hành Mộc, là phương của mặt trời mọc và của khí sinh phát trong ngày. Một công trình quay mặt về Đông thì buổi sáng nhận sáng trực tiếp vào chính giữa gian thờ, buổi chiều thì tránh được nắng gắt hắt vào mặt tiền. Đọc theo phép cũ, đó là hướng của sự khởi đầu. Điều đáng nói là lệ tôn giáo của người Khmer và lối đọc phong thủy của người Việt ở đây trùng kết luận với nhau, tuy đi từ hai lý lẽ khác hẳn: một bên theo tích Đức Phật thành đạo, một bên theo ngũ hành và phương vị.

Kế đến là nền cao ba cấp. Cả vùng châu thổ này thấp và ngập nước theo mùa, nên chánh điện được nâng lên ba cấp nền, cấp nào cũng có bậc và có lan can. Lý do thực dụng là tránh nước. Nhưng đọc theo phép cũ thì nền cao đóng vai trò hậu chẩm nhân tạo: nơi không có núi để tựa, người ta tự dựng lấy một thế cao.

Thứ ba là vườn cây và ao. Bốn hecta vườn cổ thụ vây quanh chánh điện, giữa vườn có ao. Trong phép cũ, một vòng cây dày bao ngoài được đọc thay cho hai dãy đất cao hai bên vốn phải có ở một huyệt hoàn chỉnh; còn ao đóng vai trò tụ thủy, giữ khí không tán. Ở đồng bằng, nơi không có núi và không có gò, hai thứ ấy là cách bù duy nhất, và người Khmer dựng chùa nào cũng giữ đủ vườn cây với ao nước.

Sau cùng là chỗ đáng chú ý nhất: đàn dơi. Lối xem đất cổ truyền coi chim thú tự tìm về ở là dấu của đất lành. Trường hợp ở đây giải được bằng lẽ thường: vườn cổ thụ rộng, không ai săn bắt, không tiếng nổ, không phá tổ, thì loài dơi lớn chọn chỗ ấy mà ở. Nhưng lẽ thường và cách đọc của phép cũ gặp nhau ở cùng một điểm: con vật ở lại được là vì người giữ đất đã tạo ra chỗ yên. Việc đàn dơi tản đi sau vụ cháy rồi trở về khi chánh điện dựng lại cho thấy cái gọi là đất lành ở đây phần lớn là công của người.

Lễ Tiết Theo Lịch Khmer

Lịch lễ ở đây là lịch của Phật Giáo Nam Tông Khmer, không phải lịch lễ của chùa Bắc Tông. Ba kỳ lớn nhất trong năm là Chôl Chnăm Thmây, Sen ĐôltaOk Om Bok; ngoài ra có chuỗi lễ theo ba tháng an cư của tăng đoàn. Thời điểm tính theo lịch Khmer, nên khi đổi sang lịch thường dùng thì có thể lệch một hai ngày giữa các năm.

Các kỳ lễ chính theo lịch Phật Giáo Nam Tông Khmer. Thời điểm chuyển sang lịch thường dùng có thể lệch một hai ngày giữa các năm. Nguồn: Tài liệu giới thiệu về Phật Giáo Nam Tông Khmer của cơ quan quản lý tôn giáo và các bài viết về chùa..
Thời điểmLễNội dung
Giữa tháng 4 dương lịch, thường ba ngàyChôl Chnăm ThmâyTết năm mới của người Khmer. Tên nghĩa là vào năm mới. Có lễ rước đại lịch, tắm tượng Phật, đắp núi cát, dâng cơm cho chư tăng và tắm tượng cho các vị sư cao tuổi.
Rằm tháng 4 âm lịchVisakha BocheaLễ tưởng niệm ba sự kiện trong đời Đức Phật là đản sinh, thành đạo và nhập diệt, được Nam Tông tính chung vào một ngày rằm, khác cách Bắc Tông tách riêng ngày Phật Đản.
Rằm tháng 6 tới rằm tháng 9 âm lịchNhập hạ và xuất hạBa tháng an cư của chư tăng, tiếng Khmer gọi Chôl Vossa khi vào và Chênh Vossa khi ra. Trong ba tháng này các vị sư không đi xa.
Cuối tháng 8 tới đầu tháng 9 theo lịch KhmerSen ĐôltaLễ cúng ông bà, kỳ lễ hướng về tổ tiên lớn nhất trong năm. Người Khmer về chùa dâng cơm, nghe tụng kinh hồi hướng cho người đã mất, thăm khu tháp cốt của họ tộc.
Rằm tháng 10 âm lịchOk Om BokLễ cúng trăng, tạ ơn mặt trăng sau mùa thu hoạch. Có lễ đút cốm dẹp cho trẻ nhỏ, thả đèn nước và đèn gió; ở nhiều nơi trong vùng gắn với hội đua ghe ngo.
Trong khoảng rằm tháng 9 tới rằm tháng 10 âm lịchKathina dâng yLễ dâng áo cà sa và vật dụng cho chư tăng sau ba tháng an cư, do từng nhóm gia đình trong vùng nhận đứng ra tổ chức.

Có một tiết mục ít nơi khác có: dàn nhạc ngũ âm của chùa. Đây là bộ nhạc cụ cổ truyền Khmer gồm năm nhóm chất liệu sinh âm, do các vị sư trẻ và thanh niên trong vùng tập tại sala. Nhạc ngũ âm đi cùng các kỳ lễ lớn, và việc chùa đứng ra giữ dàn nhạc là một phần của vai trò trung tâm văn hóa mà ngôi chùa Khmer đảm nhiệm bên cạnh việc thờ tự.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đường Văn Ngọc Chính, phường Phú Lợi (phường 3 thành phố Sóc Trăng cũ), Cần Thơ
Đường tới
Chùa nằm trên đường Văn Ngọc Chính, phường Phú Lợi, thành phố Cần Thơ; địa bàn này trước thuộc phường 3 thành phố Sóc Trăng cũ, cách trung tâm Sóc Trăng cũ chừng hai cây số. Đi cùng tuyến có thể ghé chùa Kh'leang.
Toạ độ
9.5843, 105.9692
Khi tới nơi

Vài lệ của chính chùa này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và bỏ giày trước khi vào chánh điện, không quay lưng vào tượng Phật khi lui ra. Nữ khách không đưa vật trực tiếp vào tay các vị sư mà đặt xuống để sư nhận. Đàn dơi trên cây là vật chùa giữ, xin quý vị không vỗ tay, không hò reo, không ném vật lên cây. Khu mộ heo và khu tháp cốt là chỗ an nghỉ, đi nhẹ và không trèo lên.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Dơi Sóc Trăng thờ ai

Chánh điện chỉ thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, pho chính cao khoảng 2 mét đặt trên bệ sen. Đây là lệ của Phật Giáo Nam Tông Khmer: chỉ thờ Đức Phật lịch sử, không thờ các vị Phật khác và không thờ Bồ Tát như chùa Bắc Tông của người Kinh.

Tên thật của chùa Dơi là gì

Tên chính là Sêrâytêchô Mahatup, gọi ngắn là chùa Mahatup, người Việt còn phiên âm thành chùa Mã Tộc. Chùa Dơi là tên dân gian do người Việt quanh vùng đặt theo đàn dơi trú trong vườn, không phải tên do người Khmer đặt. Trong tiếng Khmer, Mahatup không có chữ nào nghĩa là dơi.

Chùa Dơi khác chùa Bắc Tông của người Kinh ở chỗ nào

Khác ở hệ kinh điển là Pali chứ không phải chữ Hán, ở việc chỉ thờ Phật Thích Ca, ở màu cà sa vàng cam, ở nếp khất thực và ăn hai bữa trước giữa trưa, ở lệ con trai vào chùa tu học một thời gian, và ở lịch lễ tính theo lịch Khmer với ba kỳ Chôl Chnăm Thmây, Sen Đôlta, Ok Om Bok.

Vì sao trong chùa Dơi có mộ heo năm móng

Theo tín niệm truyền trong vùng, con heo có năm móng thay vì bốn được coi là mang linh tính của người, nên người nuôi không giết mà gửi vào chùa. Chùa nuôi tới khi heo chết già rồi chôn trong vườn, trên mộ vẽ hình con heo. Tục này bắt đầu khoảng năm 1989; về sau chùa không nhận nuôi thêm.

Dơi ở chùa Dơi là loài dơi gì

Là dơi ngựa, dân gian còn gọi dơi quạ, loài dơi lớn ăn quả, nặng khoảng nửa cân tới một cân, sải cánh từ một mét tới một mét rưỡi, mỗi năm sinh một lứa và mỗi lứa một con. Chúng treo mình trên cây cổ thụ trong vườn suốt ngày và bay đi ăn xa khi trời tối.

Đọc Tiếp