VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Kỳ Cùng

奇窮祠 · Kỳ Cùng đại vương từ, Đền Quan lớn Tuần Tranh

Ngôi đền bên bờ một dòng sông chảy ngược, nơi lớp thờ thần sông có trước còn nằm dưới lớp thờ một vị quan bị hàm oan có sau.

Khởi dựng
Chưa rõ
các nguồn ghi khoảng thời Hậu Lê
Bia trùng tu
Tháng 2 năm 1931
hiện vật ghi lịch sử di tích
Xếp hạng
Di tích quốc gia
nguồn ghi xếp hạng năm 1993

Đền đứng sát bờ nước, mặt trông ra sông Kỳ Cùng, lưng dựa vào phố. Trước cửa là một bến đá dẫn xuống mặt nước, hai bên cổng có rồng đá và sư tử đá, trên cao là hai tháp chuông tám mái. Qua ba cửa vòm cuốn, quý vị vào một toà nhà không lớn, nóc mái chạm lưỡng long chầu nguyệt, bên trong bày hương án của một vị được gọi là Kỳ Cùng đại vương.

Điều nên biết trước khi vào lễ là ở đây có hai lớp thờ nằm lên nhau. Lớp dưới cùng thờ thần Giao Long, tức thần của chính dòng sông này; lớp trên thờ Quan lớn Tuần Tranh, một vị được thần tích kể là người thật bị hàm oan. Nói cho gọn, đền Kỳ Cùng là chỗ hội đủ cả hai lối thờ quen thuộc của người Việt: thờ nhiên thần, tức thần của một hiện tượng tự nhiên, và thờ nhân thần, tức người thật được thờ như thần.

Đền Kỳ Cùng
Đền Kỳ Cùng. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Thần Sông Và Vị Quan Bị Hàm Oan

Tên chữ của đền là Kỳ Cùng đại vương từ, nghĩa là đền thờ vị đại vương Kỳ Cùng, tức thờ chính con sông. Tư liệu di tích của tỉnh ghi vị được thờ là Kỳ Cùng đại vương, còn gọi là ông Cộcông Dài, thần sông Kỳ Cùng. Dân gian ngày nay thì quen gọi đây là đền Quan lớn Tuần Tranh. Trong đền còn phối thờ Tam toà Thánh Mẫu và một số vị nhân thần khác.

Xin nói rõ về chữ Hán ghi kèm trang này. Chúng tôi chưa tra được hoành phi hay văn bia nào cho phép chép nguyên dạng chữ Hán tên đền, nên dòng chữ 奇窮祠 ở đầu trang là do thư viện suy từ tên chữ Kỳ Cùng đại vương từ, không phải bản chép từ hiện vật.

Theo giáo nghĩa

Giao Long trong cách nghĩ cổ truyền là loài thuồng luồng, vật linh cai quản vùng nước sâu. Thờ Giao Long tức thờ nhiên thần: người xưa không hình dung một nhân vật có tên tuổi, mà thờ chính cái sức mạnh của dòng nước, thứ có thể cho thuyền đi lại yên lành hoặc có thể nhấn chìm người. Hai cái tên ông Cộcông Dài là cách gọi dân gian cho một cặp thần sông, gặp ở nhiều vùng ven sông Bắc Bộ chứ không riêng ở đây.

Còn Quan lớn Tuần Tranh thuộc một hệ khác. Trong hệ thần linh Tứ phủ, ông là vị thứ năm trong hàng Ngũ vị Tôn quan, nên còn gọi Đệ Ngũ Tôn Quan. Hàng Quan đứng dưới hàng Mẫu, giữ việc tuần phòng và xử đoán, và riêng vị này gắn với miền sông nước. Việc một vị thuộc hàng Quan của Tứ phủ được đưa vào ngôi đền thờ thần sông là bước chuyển khiến nơi đây có thêm lớp thờ nhân thần.

Theo sử liệu

Thần tích Quan lớn Tuần Tranh được các nguồn kể khác nhau khá xa, xin ghi cả ra thay vì chọn một bản.

Bản thứ nhất, theo tư liệu báo chí về hệ thống đền thờ vị này, ông là hoàng tử thứ năm của vua Thủy Tề, được giao cai quản vùng ngã ba sông Tranh; vì mắc vào chuyện tình cảm với người đã có chồng mà không biết, ông bị đày lên miền biên giới phía bắc, rồi gieo mình xuống sông Kỳ Cùng để tỏ lòng trong sạch. Bản thứ hai, theo tư liệu báo chí về chính ngôi đền này, ông là một vị quan thời Trần bị tố cáo sai là thông đồng với giặc và phải chịu án. Bản thứ ba, theo tư liệu di tích của tỉnh, ông là một nhân vật lịch sử từng làm trấn thủ Lạng Sơn.

Ba bản ấy khác nhau ở thân thế nhưng gặp nhau ở hai điểm: ông bị hàm oan, và ông trẫm mình xuống sông Kỳ Cùng. Về phần minh oan, các nguồn cùng chép rằng người đứng ra chứng cho ông là Hán quận công Thân Công Tài, Tả đô đốc được chúa Trịnh cử lên làm phó tướng ở Lạng Sơn, người được thờ ở đền Tả Phủ. Chính việc minh oan ấy là gốc của đám rước tháng Giêng nối hai ngôi đền, sẽ nói ở phần dưới.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm ở đây là thứ tự hai lớp thờ. Vì tên gọi quen dùng là đền Quan lớn Tuần Tranh, nhiều người hiểu đền được dựng để thờ vị ấy ngay từ đầu. Theo tư liệu di tích, trình tự ngược lại: ban đầu đền thờ thủy thần Giao Long, tức thần của dòng sông, và tên chữ Kỳ Cùng đại vương từ giữ đúng lớp thờ ấy; về sau người ta mới thờ thêm Quan lớn Tuần Tranh, gắn với thần tích ông hóa tại khúc sông này.

Nói bằng giọng sử liệu thì đây là một hiện tượng bình thường trong lịch sử thờ tự nước ta: một nơi thờ nhiên thần được bồi thêm lớp nhân thần, và lớp sau vì có câu chuyện nên dễ nhớ hơn lớp trước, rốt cuộc lấn cả tên gọi. Hai lớp không loại nhau; trong đền hôm nay cả hai vẫn cùng được thờ.

Niên Đại Và Các Hiện Vật Còn Lại

Không có văn bản đương thời nào cho biết năm dựng đền. Bảng tư liệu mà thư viện dùng ghi niên đại khởi dựng là chưa rõ, và lấy tấm bia trùng tu năm 1931 làm mốc có hiện vật làm chứng. Các nguồn báo chí thì đặt việc dựng đền vào khoảng thời Hậu Lê, nhưng đó là một khoảng rộng chứ không phải một mốc.

  • Thời Hậu LêDựng đền bên bờ sông
    Các nguồn báo chí đặt việc dựng đền vào khoảng thời Hậu Lê. Không có văn bản đương thời xác nhận năm cụ thể, nên niên đại này ghi bằng chữ.
  • 1683Dựng đền Tả Phủ
    Năm Chính Hòa thứ tư, đền Tả Phủ ở khu Kỳ Lừa được dựng để thờ Hán quận công Thân Công Tài. Đây là ngôi đền về sau gắn chặt với đền Kỳ Cùng qua đám rước tháng Giêng.
  • 1783Lớp hoành phi đại tự thời Lê
    Tư liệu di tích của tỉnh ghi trong đền còn hoành phi và đại tự mang niên đại năm này, cùng một số hiện vật thời Nguyễn.
  • 1931Bia trùng tu đền
    Tấm bia tạo dựng vào tháng 2 năm 1931, ghi lại quá trình xây dựng và lịch sử di tích. Đây là hiện vật quan trọng nhất để đọc lịch sử ngôi đền.
  • 1993Di tích quốc gia
    Theo tư liệu báo chí, đền được công nhận là di tích quốc gia vào năm này, trong cụm di tích lịch sử văn hóa của thành phố.
  • 2015Lễ hội thành di sản quốc gia
    Lễ hội đền Kỳ Cùng và đền Tả Phủ được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1877 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ký ngày 8 tháng 6 năm 2015.
Theo sử liệu

Một điểm cần nói rõ về cách đọc niên đại ở đây. Ngôi đền này không có bia dựng, không có minh văn khắc năm khởi dựng, và lớp hiện vật sớm nhất được tư liệu tỉnh nêu ra là hoành phi đại tự năm 1783. Nghĩa là việc thờ tự ở khúc sông này chắc chắn đã có trước cuối thế kỷ 18, còn trước đó bao lâu thì chưa có vật chứng nào nói được. Con số năm 1931 trên tấm bia là mốc của một lần trùng tu, không phải mốc khởi dựng, và quý vị nên phân biệt hai thứ ấy khi đọc các bài giới thiệu về đền.

Kiến Trúc Và Bến Đá Kỳ Cùng

Đền không lớn và không trải rộng. Toàn bộ khu thờ tự nằm gọn trên một khoảnh đất sát bờ nước, mặt tiền hướng nam, mặt bằng theo lối chữ Đinh, tức một toà ngang nối với một toà dọc phía sau. Điều làm nơi này khác các đền khác không nằm trong toà nhà mà nằm ở chỗ nó đứng: ngay đầu một bến đá dẫn xuống sông.

Bến đá Kỳ Cùng

Bến đá trước cửa đền, dẫn từ sân đền xuống mặt nước. Cảnh bến đá bên sông này được Ngô Thì Sĩ, đốc trấn Lạng Sơn cuối thế kỷ 18, xếp vào tám cảnh đẹp của trấn.

Cổng và hai tháp chuông

Phía trước là hai tháp chuông tám mái dựng hai bên, tạo cho mặt tiền một chiều cao mà bản thân toà nhà thờ không có.

Ba cửa vòm cuốn

Mặt tiền mở ba cửa vòm cuốn, phần trên trang trí gạch chồng diêm, lối xây gặp ở các công trình thờ tự vùng biên thời Nguyễn về sau.

Toà thờ chữ Đinh

Mái lợp ngói, nóc chạm lưỡng long chầu nguyệt. Trong toà thờ bày hương án của Kỳ Cùng đại vương và Quan lớn Tuần Tranh, cùng ban thờ Tam toà Thánh Mẫu và các vị nhân thần phối thờ.

Rồng đá và sư tử đá

Một cặp rồng đá và một cặp sư tử đá đặt phía ngoài, giữ vai trò canh cửa theo lối bày quen của đền miếu.

Bia và hoành phi

Tấm bia trùng tu tháng 2 năm 1931 cùng hệ thống hoành phi, đại tự mang niên đại thời Lê năm 1783 và thời Nguyễn. Đây là lớp tư liệu gốc của di tích.

Bến đá đáng được nhìn như một phần của kiến trúc chứ không phải một chi tiết phụ. Với một ngôi đền thờ thần sông, lối đi xuống nước là chỗ nối giữa nơi thờ và đối tượng được thờ; không có bến thì việc thờ mất một nửa. Cũng chính vì thế mà cảnh bến đá được người xưa xếp vào hàng cảnh đẹp của trấn, và vì thế mà mọi bài viết về đền đều mở đầu bằng hình ảnh bến đá bên sông.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước tiên phải nói về chính dòng sông. Phần lớn sông lớn trên đất nước ta chảy về phía đông hoặc đông nam để ra biển; sông Kỳ Cùng thì chảy về phía tây bắc, rời khỏi địa phận nước ta ở phía trên. Trong cách nói của dân gian đây là một dòng sông chảy ngược, và riêng cái ngược ấy đã đủ để người xưa coi khúc sông này là nơi có khí khác thường, cần có nơi thờ tự trấn giữ.

Kế đến là sự tương hợp giữa hành của đất và vị được thờ. Sông là Thủy, thần Giao Long là thủy thần, Quan lớn Tuần Tranh cũng là vị gắn với miền sông nước trong hệ Tứ phủ. Cả hai lớp thờ ở đây đều thuộc hành Thủy, và cả hai đều được đặt ngay trên bờ nước. Trong phép cũ, sự trùng khớp giữa hành của chỗ đứng và hành của vị chủ nơi thờ gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ. Ngôi đền này là một trường hợp đắc vị rõ tới mức không cần giải thích dài.

Thứ ba là bến đá và minh đường. Đền trông ra mặt sông rộng, tức có một minh đường mở, không bị nhà cửa chắn ngang. Bến đá dẫn xuống nước làm thêm một việc nữa: nó nối nền đền với mặt nước thành một dải liền, không để nơi thờ bị cắt khỏi dòng chảy bằng một bờ kè dựng đứng. Theo lối nhìn cổ truyền, chỗ nào khí của đất và khí của nước còn thông nhau thì nơi ấy còn sống; bến đá giữ đúng vai ấy.

Về hướng, mặt tiền đền mở về phía nam, tức hướng mà đền miếu nước ta chuộng nhất, đón nắng và gió lành, tránh gió lạnh phương bắc. Lưng đền dựa vào phía phố. Ở một vùng núi như xứ Lạng, không thiếu chỗ để tựa vào núi, nhưng người xưa chọn dựng đền sát nước và lấy hướng nam, nghĩa là họ ưu tiên quan hệ với dòng sông hơn là ưu tiên một thế tựa núi cho đẹp sách vở.

Cuối cùng là thế hai điểm. Đền Kỳ Cùng nằm ở bờ sông, đền Tả Phủ nằm trong khu Kỳ Lừa cách đó một quãng phố. Mỗi năm một lần, đám rước tháng Giêng đi từ đền này sang đền kia rồi trở về, vạch ra trên mặt đất một đường nối hai điểm. Đọc theo con mắt phong thủy thì hai nơi thờ tự ấy không đứng lẻ mà làm thành một trục: một đầu ở nước, một đầu ở phố, và cái đám rước là động tác khai thông trục ấy mỗi độ đầu năm.

Lễ Hội Tháng Giêng Và Đám Rước Sang Đền Tả Phủ

Lễ hội của đền không diễn ra riêng ở đền. Nó là một kỳ hội chung của hai nơi, kéo từ ngày 22 tới ngày 27 tháng Giêng âm lịch, với hai ngày trọng là ngày mở và ngày kết. Dân gian còn gọi kỳ hội này là hội đầu pháo Kỳ Lừa.

Trình tự kỳ hội chung của hai ngôi đền. Nguồn: Hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về lễ hội đền Kỳ Cùng và đền Tả Phủ, cùng các bản tin về lễ hội..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Giờ Ngọ ngày 22 tháng GiêngRước sang đền Tả PhủBát hương và kiệu Quan lớn Tuần Tranh được rước từ đền Kỳ Cùng sang đền Tả Phủ, mở đầu kỳ hội.
Ngày 22 tới ngày 27 tháng GiêngLễ ở cả hai đềnTrong những ngày này người dân bày mâm lễ và dâng hương tại cả đền Kỳ Cùng lẫn đền Tả Phủ.
Sáng ngày 27 tháng GiêngTranh cướp đầu pháoNghi thức riêng của kỳ hội, theo lệ vùng thì ai tranh được đầu pháo mang về thờ thì gia đình gặp may trong năm.
Ngày 27 tháng GiêngRước về và lễ tạBát hương được rước trở về đền Kỳ Cùng, làm lễ an vị và lễ tạ, khép lại kỳ hội.
Trong những ngày hộiMúa rồng, múa sư tử, trò dân gianPhần hội gồm múa rồng, múa sư tử, các trò dân gian và thi gói bánh chưng của các khối dân cư.

Điều đáng nói nhất trong kỳ hội này là lý do của đám rước. Kiệu không rước vòng quanh làng để khoe, cũng không rước ra bến để tế nước; kiệu rước tới nhà một người khác. Theo thần tích, Quan lớn Tuần Tranh bị hàm oan và Thân Công Tài là người đứng ra minh oan, nên mỗi đầu năm vị được minh oan lại sang thăm vị đã chứng cho mình, ở lại mấy ngày rồi mới về. Nói cách khác, đây là một đám rước báo đáp, và cái việc mà người xứ Lạng làm đi làm lại suốt mấy trăm năm ấy là việc giữ lấy một mối mang ơn.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Bờ tả ngạn sông Kỳ Cùng, phường Vĩnh Trại cũ, nay là phường Đông Kinh, tỉnh Lạng Sơn
Đường tới
Đền nằm bên tả ngạn sông Kỳ Cùng, thuộc phường Vĩnh Trại cũ, nay là phường Đông Kinh, tỉnh Lạng Sơn, ngay trong khu trung tâm thành phố. Đền Tả Phủ ở khu Kỳ Lừa cách đó không xa, đi bộ được, và nên đi cả hai vì hai nơi chung một kỳ hội.
Toạ độ
21.8481, 106.7541
Khi tới nơi

Lệ của chính nơi này có mấy điều: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào toà thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không để lên hương án và tượng, không chạm vào mặt bia trùng tu và các bức hoành phi. Bến đá trước đền là chỗ đá ẩm và dốc xuống nước, xin quý vị đi cẩn thận và không thả đồ lễ xuống sông. Trong sáu ngày hội tháng Giêng, lối đi được phân luồng và đoàn rước có quyền ưu tiên, xin nhường đường cho kiệu.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Đền Kỳ Cùng thờ ai

Tên chữ của đền là Kỳ Cùng đại vương từ, thờ thần sông Kỳ Cùng, tức thần Giao Long, còn gọi ông Cộc và ông Dài. Về sau đền thờ thêm Quan lớn Tuần Tranh, vị thứ năm trong hàng Ngũ vị Tôn quan của hệ Tứ phủ. Trong đền còn phối thờ Tam toà Thánh Mẫu và một số vị nhân thần khác.

Quan lớn Tuần Tranh là ai

Các nguồn kể khác nhau. Có bản chép ông là hoàng tử thứ năm của vua Thủy Tề cai quản vùng sông Tranh; có bản chép ông là một vị quan thời Trần bị tố cáo sai là thông đồng với giặc; tư liệu di tích của tỉnh lại ghi ông là nhân vật lịch sử từng làm trấn thủ Lạng Sơn. Ba bản gặp nhau ở chỗ ông bị hàm oan và trẫm mình xuống sông Kỳ Cùng.

Vì sao lễ hội lại rước kiệu từ đền Kỳ Cùng sang đền Tả Phủ

Vì đền Tả Phủ, dựng năm 1683, thờ Hán quận công Thân Công Tài, người mà thần tích chép là đã đứng ra minh oan cho Quan lớn Tuần Tranh. Đám rước ngày 22 tháng Giêng đưa bát hương sang đền Tả Phủ và ngày 27 rước về, mang ý nghĩa báo đáp công ơn của người đã chứng cho mình.

Lễ hội đền Kỳ Cùng mở vào ngày nào

Từ ngày 22 tới ngày 27 tháng Giêng âm lịch, chung với lễ hội đền Tả Phủ, dân gian gọi là hội đầu pháo Kỳ Lừa. Ngày 22 rước bát hương sang đền Tả Phủ vào giờ Ngọ, sáng ngày 27 có nghi thức tranh cướp đầu pháo, rồi cùng ngày rước về đền Kỳ Cùng làm lễ an vị và lễ tạ.

Bến đá Kỳ Cùng có gì đáng chú ý

Đó là bến đá dẫn từ sân đền xuống mặt sông, và với một ngôi đền thờ thần sông thì đây là chỗ nối giữa nơi thờ và đối tượng được thờ. Cảnh bến đá bên sông từng được Ngô Thì Sĩ, đốc trấn Lạng Sơn cuối thế kỷ 18, xếp vào tám cảnh đẹp của trấn.

Đọc Tiếp