Đền đứng sát bờ nước ngay đầu cầu Kỳ Cùng, mặt trông ra sông Kỳ Cùng, lưng dựa vào khu phố. Trước cửa có bậc đá dẫn xuống mặt nước, phía ngoài đặt hai đôi rồng đá và một đôi sư tử đá, hai bên vươn lên hai tháp chuông và trống tám mái. Qua cổng nghinh môn ba cửa vòm cuốn, quý vị bước vào toà thờ theo lối chữ Đinh, nóc mái chạm lưỡng long chầu nguyệt, bên trong bày hương án của vị thần sông được tôn là Kỳ Cùng đại vương cùng cung thờ Quan lớn Tuần Tranh.
Điều nên biết trước khi vào lễ là ở đây có hai lớp thờ nằm chồng lên nhau. Lớp dưới cùng thờ thủy thần Giao Long, tức thần của chính dòng sông này, còn lớp trên thờ Quan lớn Tuần Tranh, một vị được thần tích kể là người thật bị hàm oan. Nói cho gọn, đền Kỳ Cùng là chỗ hội đủ cả hai lối thờ quen thuộc của người Việt gồm thờ nhiên thần, tức thần của một hiện tượng tự nhiên, và thờ nhân thần, tức người có tên tuổi được tôn thờ như thần.

IThần sông và vị quan bị hàm oan
Tên chữ của đền là Kỳ Cùng đại vương từ, nghĩa là đền thờ vị đại vương Kỳ Cùng, tức thờ chính con sông. Tư liệu di tích của tỉnh Lạng Sơn ghi vị được thờ ban đầu là Kỳ Cùng đại vương, dân gian còn gọi là ông Cộc và ông Dài, thần sông Kỳ Cùng. Người đi lễ ngày nay thì quen gọi đây là đền Quan lớn Tuần Tranh. Trong đền còn phối thờ Tam toà Thánh Mẫu, Phật Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức Thánh Trần cùng ban thờ Cô, Cậu và Ngũ Hổ.
Xin nói rõ về chữ Hán ghi kèm trang này. Thư viện chưa tra được ảnh chụp hoành phi tên đền để chép nguyên dạng từng nét, nên dòng chữ 奇窮祠 ở đầu trang là do thư viện rút gọn từ tên chữ Kỳ Cùng đại vương từ trong hồ sơ di tích.
Giao Long trong cách nghĩ cổ truyền là loài thuồng luồng, vật linh cai quản vùng nước sâu. Thờ Giao Long tức là thờ nhiên thần, khi người xưa không hình dung một nhân vật lịch sử có lý lịch mà thờ chính sức mạnh của dòng nước, thứ có thể cho thuyền bè đi lại yên lành hoặc có thể dâng lũ nhấn chìm bờ bãi. Hai cái tên ông Cộc và ông Dài là cách gọi dân gian cho cặp thủy thần rắn cụt đuôi và rắn dài, gặp ở nhiều vùng ven sông Bắc Bộ chứ không riêng ở đây.
Còn Quan lớn Tuần Tranh thuộc một hệ khác. Trong hệ thần linh Tứ phủ, ông là vị thứ năm trong hàng Ngũ vị Tôn quan, nên còn gọi là Quan Lớn Đệ Ngũ hay Đệ Ngũ Tôn Quan, khi ngự đồng mặc áo lam hoặc áo xanh thêu rồng làm lễ tấu hương và trừ tà. Hàng Quan đứng dưới hàng Mẫu, giữ việc tuần phòng và xử đoán, riêng vị này gắn chặt với miền sông nước. Việc một vị thuộc hàng Quan của Tứ phủ được đưa vào ngôi đền thờ thần sông là bước chuyển khiến nơi đây có thêm lớp thờ nhân thần và lớp thực hành Đạo Mẫu.
Thần tích Quan lớn Tuần Tranh được các nguồn kể khác nhau khá xa, thư viện ghi đủ các bản thay vì chọn một.
Bản thứ nhất, theo tư liệu báo chí về hệ thống đền thờ vị này từ sông Tranh ở Ninh Giang lên xứ Lạng, ông là hoàng tử thứ năm của vua Thủy Tề, kiêm quản cả miền giang tân và cửa rừng, vì vướng chuyện tình cảm với người con gái đã có chồng mà không biết nên bị đày lên miền biên ải Lạng Sơn, rồi gieo mình xuống sông Kỳ Cùng để tỏ lòng trong sạch. Bản thứ hai, theo tư liệu địa phương về chính ngôi đền này, ông là một vị quan thời Trần lên trấn giữ Lạng Sơn, bị kẻ xấu vu cáo là thông đồng với giặc và phải chịu án oan. Bản thứ ba, theo một số tài liệu giới thiệu di tích của tỉnh, gọi ông chung là một vị quan trấn thủ Lạng Sơn có công đánh giặc bảo vệ biên cương.
Ba bản ấy khác nhau ở thân thế nhưng gặp nhau ở hai điểm cốt lõi là ông bị hàm oan và ông trẫm mình xuống sông Kỳ Cùng để chứng minh tiết tháo. Về phần minh oan, các nguồn cùng chép rằng người đứng ra tấu trình lên triều đình để rửa oan cho ông là Hán quận công Thân Công Tài, sinh năm 1620 mất năm 1683, vị Tả đô đốc được vua Lê chúa Trịnh cử lên trấn nhậm Lạng Sơn, người có công mở mang bảy phường và lập phố chợ Kỳ Lừa rồi được dân dựng đền Tả Phủ thờ tự. Chính việc minh oan ấy là gốc của đám rước tháng Giêng nối hai ngôi đền.
Chỗ hay hiểu lầm ở đây là thứ tự hai lớp thờ. Vì tên gọi quen dùng là đền Quan lớn Tuần Tranh, nhiều người hiểu đền được dựng để thờ vị ấy ngay từ đầu. Theo tư liệu di tích của tỉnh Lạng Sơn, trình tự ngược lại, ban đầu đền thờ thủy thần Giao Long tức thần của dòng sông, và tên chữ Kỳ Cùng đại vương từ cùng bức hoành phi chữ Hán Long cung hiển thánh giữ đúng lớp thờ ấy, còn về sau người ta mới thờ thêm Quan lớn Tuần Tranh gắn với thần tích ông hóa tại khúc sông này.
Nói bằng giọng sử liệu thì đây là một hiện tượng quen thuộc trong lịch sử thờ tự nước ta, khi một nơi thờ nhiên thần được bồi thêm lớp nhân thần, và lớp sau vì có cốt truyện bi tráng cùng nghi thức hầu đồng sinh động nên dễ nhớ hơn lớp trước, rốt cuộc lấn cả tên gọi thông thường. Hai lớp không loại trừ nhau, và trong đền hôm nay cả hai vẫn cùng được phụng thờ.
IINiên đại và các hiện vật còn lại
Không có văn bản đương thời nào cho biết năm khởi dựng ngôi đền đầu tiên. Tư liệu di tích đặt việc dựng đền vào khoảng thời Hậu Lê, ban đầu là một ngôi đền nhỏ đắp đất lợp ngói sát bờ sông để thờ thủy thần. Về hiện vật có niên đại tuyệt đối, trong đền còn giữ bức hoành phi khắc năm Cảnh Hưng thứ 44 tức năm 1783 và tấm bia đá lập tháng 2 năm 1931 ghi lại các đợt trùng tu.
- Thời Hậu LêKhởi dựng đền bên bờ sôngCác nguồn di tích đặt việc dựng đền vào khoảng thời Hậu Lê, khởi đầu là ngôi miếu nhỏ bằng đất lợp ngói thờ thần sông Giao Long.
- 1683Dựng đền Tả PhủNăm Chính Hòa thứ tư, đền Tả Phủ ở khu phố chợ Kỳ Lừa được người dân dựng để thờ Hán quận công Thân Công Tài, ngôi đền về sau gắn chặt với đền Kỳ Cùng qua đám rước tháng Giêng.
- 1783Hoành phi Long cung hiển thánhNăm Cảnh Hưng thứ 44 đời vua Lê Hiển Tông, đền có bức hoành phi chữ Hán Long cung hiển thánh, hiện vật có niên đại sớm xác nhận việc thờ thủy thần tại đây.
- 1928 và 1931Trùng tu và lập bia đáĐền được trùng tu vào năm 1928 và tháng 2 năm 1931. Tấm bia đá lập tháng 2 năm 1931 ghi lại lịch sử xây dựng và các lần tu bổ của di tích.
- 1993Di tích quốc giaĐền được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong cụm di tích của xứ Lạng.
- 2015 và 2018Di sản quốc gia và mở rộng khuôn viênLễ hội đền Kỳ Cùng và đền Tả Phủ vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1877/QĐ-BVHTTDL ngày 8 tháng 6 năm 2015. Năm 2018, khuôn viên đền được tôn tạo mở rộng từ 285 mét vuông lên 487,3 mét vuông.
Một điểm cần nói rõ về cách đọc niên đại ở đây. Ngôi đền không còn bia khởi dựng, nhưng bức hoành phi Long cung hiển thánh mang niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 tức năm 1783 cùng bài thơ vịnh cảnh của Đốc trấn Ngô Thì Sĩ giai đoạn 1777 tới 1780 cho thấy việc thờ tự và cảnh quan bến sông ở đây đã định hình rõ từ thế kỷ 18. Tấm bia đá lập tháng 2 năm 1931 cùng các đợt sửa chữa năm 1928, 1931, 1967 và đợt mở rộng năm 2018 là những mốc tu bổ về sau, quý vị nên phân biệt mốc hiện vật trùng tu với niên đại khởi dựng ngôi đền.
IIIKiến trúc và bến đá Kỳ Cùng
Sau đợt mở rộng năm 2018, toàn bộ khuôn viên đền có diện tích 487,3 mét vuông, nằm gọn trên khoảnh đất sát bờ bắc sông Kỳ Cùng ngay đầu cầu Kỳ Cùng, mặt tiền quay hướng nam, mặt bằng khu thờ chính theo lối chữ Đinh gồm tiền tế nối với hậu cung. Điều làm nơi này khác các đền miếu trong phố là thế đứng gắn liền với nhịp cầu và bến đá dẫn xuống mặt nước.
Khu vực bến sông gắn với danh thắng Kỳ Cùng thạch độ tức Bến đá Kỳ Cùng, được Đốc trấn Ngô Thì Sĩ cuối thế kỷ 18 xếp vào Trấn doanh bát cảnh tức tám cảnh đẹp của trấn Lạng Sơn.
Phía trước hai bên sân là hai tháp chuông và trống dựng theo kiểu tám mái cong, tạo cho mặt tiền một chiều cao uy nghi mà bản thân toà nhà thờ không có.
Cổng chính mở ba cửa vòm cuốn, phía trên mái có hai trụ gạch vuông xây kiểu chồng diêm trổ bốn cửa sổ tròn, trên đỉnh đắp bộ tam khí gồm đỉnh hương ở giữa và hai lọ hoa hai bên.
Mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt. Bên trong bài trí cung thờ Kỳ Cùng đại vương và Quan lớn Tuần Tranh, cùng các ban thờ Tam toà Thánh Mẫu, Phật Bà Quán Thế Âm, Đức Thánh Trần, Cô, Cậu và Ngũ Hổ.
Phía ngoài cổng có một đôi rồng đá chầu mặt nguyệt ở khoảng sân trước, một đôi rồng đá và một đôi sư tử đá đặt chầu hai bên cửa theo lối bài trí đền miếu cổ truyền.
Tấm bia trùng tu tháng 2 năm 1931 cùng hệ thống câu đối, đại tự và bức hoành phi Long cung hiển thánh niên đại Cảnh Hưng năm 1783 và thời Nguyễn. Đây là lớp tư liệu gốc của di tích.
Về vị trí chính xác của cổ tích Bến đá Kỳ Cùng tức Kỳ Cùng thạch độ, nơi đón tiếp các đoàn sứ bộ triều đình qua sông xưa kia, các nguồn mô tả có điểm cần lưu ý. Nhiều bài báo và tài liệu du lịch hiện nay đồng nhất bến đá ấy với bậc đá ngay trước cửa đền Kỳ Cùng bên bờ bắc tức tả ngạn sông Kỳ Cùng. Trong khi đó, một số khảo tả địa chí lại ghi di tích Bến đá Kỳ Cùng cổ nằm ở bên bờ nam tức hữu ngạn, chếch phía đối diện đền Kỳ Cùng qua dòng sông và nhịp cầu. Dù tính ở bờ bắc hay bờ nam, cả hai điểm đều nằm ngay khúc độ đầu cầu Kỳ Cùng này, nơi con đường thiên lý xưa vượt sông để đi lên biên ải.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Trước tiên phải nói về chính dòng sông. Phần lớn sông lớn ở nước ta chảy về phía đông hoặc đông nam để đổ ra biển Đông, riêng sông Kỳ Cùng lại chảy về phía tây bắc, hướng sang địa phận Quảng Tây. Trong cách nói của dân gian đây là một dòng sông chảy ngược, và riêng dòng chảy ngược ấy đã đủ để người xưa coi khúc sông qua lỵ sở xứ Lạng là nơi có mạch khí khác thường, cần có ngôi đền trấn giữ ngay đầu bến vượt sông.
Kế đến là sự tương hợp giữa hành của đất và vị được thờ. Sông là Thủy, thần Giao Long là thủy thần, Quan lớn Tuần Tranh cũng là vị gắn với miền sông nước trong hệ Tứ phủ. Cả hai lớp thờ ở đây đều thuộc hành Thủy, và cả hai đều được đặt ngay trên bờ nước. Trong phép cũ, sự trùng khớp giữa hành của chỗ đứng và hành của vị chủ nơi thờ gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ. Ngôi đền này là một trường hợp đắc vị rất rõ ràng.
Thứ ba là bến sông và minh đường. Đền trông ra mặt sông rộng, tức có một minh đường mở thoáng không bị nhà cửa chắn ngang. Các bậc đá dẫn xuống mặt nước nối nền đền với dòng sông thành một dải liền, giữ cho khí của đất và khí của nước thông nhau. Theo lối nhìn cổ truyền, với một ngôi đền thờ thủy thần, khoảng mặt nước trước cửa chính là nơi tụ khí cho cả khuôn viên.
Về hướng, đền tọa bên tả ngạn tức bờ bắc và mở mặt tiền về hướng nam, nhìn thẳng ra dòng sông, tức hướng mà đền miếu cổ truyền ưa chuộng để đón nắng ấm và gió lành, lưng dựa vào khu phố phía bắc để chắn gió lạnh. Ở một vùng nhiều núi như xứ Lạng, người xưa không chọn dựng đền trên sườn núi cao mà đặt sát mép nước và lấy hướng nam, nghĩa là ưu tiên sự giao tiếp trực tiếp với dòng sông.
Cuối cùng là thế hai điểm. Đền Kỳ Cùng nằm ở bờ sông thuộc phường Đông Kinh, còn đền Tả Phủ nằm trong khu phố chợ thuộc phường Kỳ Lừa cách đó hơn một cây số. Mỗi năm một lần, đám rước tháng Giêng đi từ đền này sang đền kia rồi trở về, vạch ra một đường nối hai điểm qua nhịp cầu và phố chợ. Đọc theo con mắt phong thủy thì hai nơi thờ tự ấy làm thành một trục gồm một đầu ở bến nước và một đầu ở phố chợ, còn đám rước là động tác khai thông mạch khí giữa bến sông và đô thị mỗi độ đầu năm.
VLễ hội tháng Giêng và đám rước sang đền Tả Phủ
Lễ hội của đền không diễn ra riêng lẻ mà gắn kết thành một kỳ hội chung của hai di tích là lễ hội đền Kỳ Cùng và đền Tả Phủ, kéo dài từ ngày 22 tới ngày 27 tháng Giêng âm lịch, với hai ngày trọng thể là ngày mở hội 22 và ngày giã hội 27. Dân gian xứ Lạng còn gọi kỳ hội này là hội đầu pháo Kỳ Lừa.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Giờ Ngọ ngày 22 tháng Giêng | Rước kiệu sang đền Tả Phủ | Sau lễ tế khai hội, bát hương và kiệu Quan lớn Tuần Tranh được rước từ đền Kỳ Cùng qua cầu Kỳ Cùng sang đền Tả Phủ trong tiếng trống chiêng và đội múa sư tử, múa rồng dẫn đường. |
| Ngày 22 tới ngày 26 tháng Giêng | Dâng hương ở cả hai đền | Trong những ngày này người dân các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Hoa bày mâm lễ và dâng hương tại cả đền Kỳ Cùng lẫn đền Tả Phủ. |
| Sáng ngày 27 tháng Giêng | Đốt và tranh đầu pháo | Nghi thức đặc trưng tại đền Tả Phủ, đầu pháo gắn trong vòng kim loại kết chỉ ngũ sắc được đốt nổ văng ra để người dự hội đón lấy cầu may mắn và tài lộc trong năm. |
| Giờ Ngọ ngày 27 tháng Giêng | Rước kiệu hoàn cung và lễ tạ | Bát hương và kiệu Quan lớn Tuần Tranh được rước từ đền Tả Phủ trở về đền Kỳ Cùng, làm lễ an vị và lễ tạ khép lại kỳ hội. |
| Trong suốt kỳ hội | Hát giao duyên và trò dân gian | Phần hội sôi nổi với múa sư tử mèo, múa rồng, hát sli, hát lượn, hát quan họ, đánh cờ người và hội thi giã bánh giầy, gói bánh chưng của các khối phố. |
Điều đáng suy ngẫm trong kỳ hội này là ý nghĩa của đám rước. Kiệu không chỉ rước vòng quanh làng để thị uy hay ra bến để tế nước, mà rước tới tận ngôi đền thờ một nhân vật khác. Theo thần tích, Quan lớn Tuần Tranh bị hàm oan và Tả đô đốc Thân Công Tài là người đứng ra minh oan, nên mỗi độ đầu xuân vị quan được minh oan lại sang thăm và tạ ơn người đã chứng cho tấm lòng ngay thẳng của mình, lưu lại vui hội cùng nhân dân mấy ngày rồi mới hồi cung. Nói cách khác, đây là một đám rước tạ ơn và kết nghĩa, giữ lấy đạo lý trọng nghĩa tình suốt hơn ba thế kỷ nơi vùng biên xứ Lạng.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đầu cầu Kỳ Cùng, bên tả ngạn sông Kỳ Cùng, phường Vĩnh Trại cũ, nay là phường Đông Kinh, tỉnh Lạng Sơn
- Đường tới
- Đền nằm ngay đầu cầu Kỳ Cùng bên tả ngạn sông Kỳ Cùng, thuộc phường Đông Kinh (phường Vĩnh Trại cũ), tỉnh Lạng Sơn, ngay giữa trung tâm đô thị Lạng Sơn. Từ đây đi bộ qua cầu và dọc phố hơn một cây số là tới đền Tả Phủ thuộc phường Kỳ Lừa (phường Hoàng Văn Thụ cũ), quý vị nên kết hợp thăm cả hai đền trong cùng một chuyến.
- Toạ độ
- 21.8515, 106.7577
Lệ của chính nơi này có mấy điều cần lưu tâm là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ nón khi vào toà thờ, đặt tiền giọt dầu vào hòm công đức chứ không cài lên hương án và tượng thờ, không chạm tay vào mặt bia đá năm 1931 và các bức hoành phi cổ. Bậc đá phía bờ sông thường ẩm và dốc xuống mặt nước, xin quý vị bước cẩn thận và không thả đồ lễ hay túi nhựa xuống sông Kỳ Cùng. Trong sáu ngày hội tháng Giêng, lượng người đổ về rất đông, các tuyến phố quanh cầu Kỳ Cùng được phân luồng và đoàn rước kiệu có quyền ưu tiên, xin quý vị nhường đường cho đội rước.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Kỳ Cùng
Contribute photos, information or video for Ky Cung TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Kỳ Cùng thờ ai
Tên chữ của đền là Kỳ Cùng đại vương từ, ban đầu thờ thần sông Kỳ Cùng tức thủy thần Giao Long, dân gian gọi là ông Cộc và ông Dài. Về sau đền thờ thêm Quan lớn Tuần Tranh, vị thứ năm trong hàng Ngũ vị Tôn quan của hệ Tứ phủ. Trong đền còn phối thờ Tam toà Thánh Mẫu, Phật Bà Quán Thế Âm, Đức Thánh Trần cùng ban Cô, Cậu và Ngũ Hổ.
Quan lớn Tuần Tranh là ai
Các nguồn kể thân thế khác nhau. Có bản chép ông là hoàng tử thứ năm của vua Thủy Tề cai quản vùng sông Tranh bị đày lên biên ải, có bản chép ông là vị quan thời Trần lên trấn giữ Lạng Sơn bị vu cáo thông đồng với giặc, lại có tài liệu ghi ông là vị tướng trấn thủ Lạng Sơn có công giữ biên cương. Ba bản gặp nhau ở chỗ ông bị hàm oan và trẫm mình xuống sông Kỳ Cùng để tỏ lòng trong sạch.
Vì sao lễ hội lại rước kiệu từ đền Kỳ Cùng sang đền Tả Phủ
Vì đền Tả Phủ dựng năm 1683 thờ Hán quận công Thân Công Tài (1620 - 1683), người mà truyền thuyết địa phương chép là đã đứng ra tấu trình minh oan cho Quan lớn Tuần Tranh. Đám rước trưa ngày 22 tháng Giêng đưa bát hương và kiệu từ đền Kỳ Cùng sang đền Tả Phủ và trưa ngày 27 tháng Giêng rước về, mang ý nghĩa tạ ơn và giao hiếu giữa hai vị thần.
Lễ hội đền Kỳ Cùng mở vào ngày nào
Từ ngày 22 tới ngày 27 tháng Giêng âm lịch hằng năm, tổ chức chung với lễ hội đền Tả Phủ, dân gian gọi là hội đầu pháo Kỳ Lừa. Trưa ngày 22 rước kiệu sang đền Tả Phủ, sáng ngày 27 có nghi thức đốt và đón đầu pháo cầu may, đến trưa ngày 27 rước kiệu trở về đền Kỳ Cùng làm lễ an vị và lễ tạ.
Bến đá Kỳ Cùng có gì đáng chú ý
Bến đá Kỳ Cùng tức Kỳ Cùng thạch độ là một trong tám cảnh đẹp của xứ Lạng xưa được Đốc trấn Ngô Thì Sĩ ca ngợi trong Trấn doanh bát cảnh cuối thế kỷ 18. Nhiều bài viết hiện nay gắn bến đá này với bậc đá ngay trước cửa đền Kỳ Cùng bên bờ bắc, trong khi một số khảo tả địa chí xác định bến đá đón sứ bộ xưa nằm ở bờ nam đối diện đền qua sông Kỳ Cùng.