Đi từ chợ Bến Thành ngược lên đường Trương Định vài trăm bước, giữa dãy nhà phố buôn bán, quý vị gặp một mặt tiền không giống bất cứ mặt tiền nào quanh nó: khối tháp vuông thu nhỏ dần theo từng tầng, đắp kín tượng người và tượng thú sơn nhiều màu, trên cùng mấy chóp nhọn. Đó là tháp gopuram, lối cổng của một ngôi đền Ấn Độ Giáo. Bước qua ngưỡng cửa, quý vị bỏ giày lại ngoài bậc, và mùi hương đổi hẳn: không phải mùi trầm mà là mùi hoa nhài.
Người Sài Gòn quen gọi nơi này là chùa Bà Ấn, nhưng đây không phải chùa. Đây là một kovil, tức đền thờ của Ấn Độ Giáo, do cộng đồng người Tamil từ miền Nam Ấn Độ dựng lên để thờ nữ thần Mariamman. Điều đáng nói nhất không nằm trong kiến trúc mà nằm ở đám đông: nay phần lớn người đứng trước bệ thờ là người Việt và người Hoa, còn cộng đồng dựng ra ngôi đền thì chỉ còn rất ít.

壹Nữ Thần Mariamman Và Các Vị Trong Đền
Tên Mariamman ghép từ hai tiếng Tamil. Mari nghĩa là mưa, cũng hàm ý sự đổi thay; amman là mẹ. Gộp lại, đó là Mẹ Mưa, vị nữ thần mà làng mạc vùng Tamil Nadu cầu khi trời hạn, khi dịch bệnh tràn qua và khi mùa màng sắp gặt. Bà coi mưa, coi bệnh tật, coi sự sinh nở và sự yên ổn của một xóm làng, tức những việc rất gần đời sống thường nhật.
Theo giáo nghĩa Ấn Độ Giáo, Mariamman thuộc lớp thần làng, tiếng Phạn gọi là gramadevata, tức vị gắn với một địa phương cụ thể chứ không thuộc hàng thần lớn của toàn cõi. Về sau dòng tín ngưỡng này nối vào hệ Shakti, tức nguyên lý năng lực nữ của vũ trụ, và Mariamman được nhiều nơi coi là một dạng thị hiện của Nữ Thần lớn. Lễ dâng lên bà theo lối riêng của đền nữ thần Nam Ấn: nước, sữa, bột nghệ, hoa tươi và lửa đèn, chứ không lấy hương trầm làm chính như lối thờ của người Việt.
Trong đền, Mariamman ngự ở gian thờ chính, hai bên có hai vị hộ vệ: Maduraiveeran và Pechiamman. Đây đúng là bộ ba quen thuộc của đền Mariamman ở Tamil Nadu, cho thấy người dựng đền mang sang cả một mô hình thờ tự nguyên vẹn chứ không chỉ mang sang một cái tên. Trên tường sau hậu điện có mười tám pho tượng thần, mỗi vị ứng một nguyện cầu. Trong khuôn viên còn đặt linga trên bệ yoni và một mô hình núi Meru, ngọn núi trung tâm vũ trụ theo vũ trụ quan Ấn Độ.
Chỗ hay hiểu lầm nằm ngay ở cái tên quen dùng. Gọi là chùa Bà Ấn khiến nhiều người hiểu đây là một ngôi chùa, tức cơ sở thờ tự của Phật Giáo. Không phải. Đây là đền thờ của Ấn Độ Giáo, một tôn giáo riêng với hệ thần, kinh sách và nghi thức riêng; trong đền không có ban thờ Phật, không có sư.
Lớp nhầm thứ hai tinh hơn: có người coi Mariamman là một vị Mẫu trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Hai bên quả có chỗ giống nhau, đều là một người Mẹ coi mưa gió và mùa màng, và chính chỗ ấy giúp người Việt tiếp nhận bà rất nhanh. Nhưng thờ Mẫu có hệ Tam phủ Tứ phủ, có hầu đồng, có bản hội; Ấn Độ Giáo có hệ thần và nghi thức khác hẳn. Hai hệ gặp nhau ở một ngôi đền, chứ không nhập làm một.
貳Người Tamil Và Ngôi Đền Giữa Phố
Lịch sử ngôi đền gắn với một lớp cư dân mà hôm nay ít người còn nhớ: các thương nhân và chủ hiệu người Ấn Độ ở Sài Gòn. Họ tới theo tuyến thương mại đường biển từ khoảng thập niên 1870, phần lớn là người Tamil, trong đó có nhóm Chettiar làm nghề buôn bán và tín dụng lâu đời của miền Nam Ấn Độ. Có cộng đồng thì có đền, vì với người Tamil, một khu phố không có kovil là khu phố chưa an cư.
Về năm khởi dựng thì các nguồn vênh nhau khá xa, xin ghi rõ thay vì chọn bừa một con số. Bản tin về quyết định xếp hạng di tích ghi đền dựng vào cuối thế kỷ 19. Nhiều tư liệu khác ghi đầu thế kỷ 20, và nói rõ đó là lúc lớp người Ấn nhập cư cải tạo, mở rộng một ngôi đền nhỏ lợp tôn có sẵn từ trước. Một bài khảo về giao lưu văn hóa Việt Ấn lại ghi đền có khoảng hai trăm năm, còn một bài khác đặt việc dựng đền vào giữa thế kỷ 20. Bốn cách ghi ấy chênh nhau tới hàng trăm năm; điểm chung mà mọi nguồn thừa nhận là đền đã đứng ở đây trên một trăm năm và đã qua ít nhất một lần dựng lại quy mô lớn.
- Thập niên 1870Người Ấn tới Sài GònThương nhân và chủ hiệu người Ấn Độ, phần lớn là người Tamil, tới theo các tuyến thương mại đường biển và dần thành một cộng đồng quanh khu chợ.
- Cuối thế kỷ 19Mốc khởi dựng sớm nhất được nhắcBản tin về quyết định xếp hạng di tích ghi đền do cộng đồng người Tamil dựng vào cuối thế kỷ 19.
- Đầu thế kỷ 20Cải tạo và mở rộngNgôi đền nhỏ lợp tôn được xây lại thành công trình quy mô hiện thấy. Phần lớn hạng mục do nghệ nhân Tamil làm; tượng thờ và một phần vật liệu đưa từ Ấn Độ sang.
- Giữa thế kỷ 20Thời cộng đồng Ấn đông nhấtĐền giữ vai trò trung tâm sinh hoạt của người Ấn ở Sài Gòn, vừa là nơi thờ tự vừa là chỗ gặp gỡ và giữ tiếng Tamil.
- 1990Mở lại cho khách thập phươngTheo một số tư liệu phổ thông, từ năm này đền mở trở lại rộng rãi cho người ngoài cộng đồng tới lễ. Mốc này chúng tôi chưa tra được trong văn bản chính thức nào.
- 2025Di tích cấp thành phốXếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố theo Quyết định số 1029 ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Điều đáng chú ý trong một trăm năm ấy không phải là ngôi đền thay đổi, mà là đám đông trước bệ thờ thay đổi. Cộng đồng người Ấn ở Sài Gòn thưa dần theo thời gian, trong khi người Việt và người Hoa quanh vùng chợ Bến Thành tới lễ mỗi ngày một đông. Một ngôi đền do người Tamil dựng mà người đi lễ nay chủ yếu là người Việt, đó là hiện tượng không nhiều nơi thờ tự nào ở nước ta có.
參Tháp Gopuram Và Ba Gian Thờ
Đền dựng theo lối Dravidian, tức lối đền tháp miền Nam Ấn Độ, giữ đúng mấy nguyên tắc của lối ấy: mặt bằng vuông theo tỷ lệ mandala, tường bao cao và kín, lối vào mở về hướng Đông, gian thờ chính đặt ở tâm và tối hơn các phần ngoài. Người quen đi chùa đi đền của người Việt vào đây sẽ thấy thiếu hẳn hai thứ: không có sân trước rộng và không có mái ngói cong. Thay vào đó là khối tháp đắp tượng dựng thẳng lên trời.
Khối tháp trên lối cổng chính, tư liệu báo chí ghi cao khoảng 12 mét, ba tầng thu nhỏ dần lên đỉnh. Mặt tháp đắp kín tượng thần sơn nhiều màu, trong đó có Ganesha đầu voi, Muruga, Lakshmi, Brahma và Vishnu. Trong đền Nam Ấn, gopuram không phải vật trang trí mà là mốc đánh dấu ranh giới giữa cõi ngoài và cõi thiêng.
Tiếng Phạn gọi là garbhagriha, nghĩa đen là buồng trong lòng, phần tối và kín nhất của đền, đặt tượng Mariamman. Khách đứng ngoài, chỉ người phụ trách nghi thức mới vào dâng lễ lên tượng.
Hai bên gian chính là gian thờ Maduraiveeran và gian thờ Pechiamman, hai vị đi kèm Mariamman theo đúng mô hình đền nữ thần ở Tamil Nadu.
Dãy tượng dọc tường sau hậu điện, mỗi vị ứng một loại nguyện cầu. Đây là chỗ người ta dừng lại lâu nhất trong đền.
Cặp biểu tượng chỉ nguyên lý sinh thành. Đây là dấu cho thấy đền không chỉ thờ riêng một vị thần làng mà còn nối vào hệ thờ tự lớn của Ấn Độ Giáo.
Ngọn núi trung tâm vũ trụ theo vũ trụ quan Ấn Độ. Trong lối kiến trúc đền tháp, cả ngôi đền vốn được hiểu là hình thu nhỏ của ngọn núi ấy.
Cách đắp tượng và màu sắc
Tượng trên tháp và trên các mái đắp bằng vữa rồi sơn, theo lối đền Nam Ấn vẫn làm và vẫn sơn lại theo chu kỳ. Vì vậy màu của đền luôn tươi, và người quen sắc rêu phong của đình chùa Bắc Bộ dễ tưởng đây là công trình mới; thực ra việc sơn lại là một phần của phép bảo trì trong truyền thống đền tháp Ấn Độ. Phần lớn tượng thờ đưa từ Ấn Độ sang, do chính nghệ nhân Tamil thi công, nên tỷ lệ và thế tay của tượng giữ đúng quy phạm bên ấy chứ không bị Việt hóa.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này cần một lời rào trước rõ ràng. Ấn Độ Giáo không dạy phong thủy. Hướng và thế của một ngôi đền Ấn Độ Giáo định theo quy tắc riêng của chính đạo ấy, chép trong các bộ sách dựng đền của truyền thống Ấn Độ, mà nguyên tắc lớn nhất là lối vào chính mở về hướng Đông để đón mặt trời mọc, mặt bằng chia ô vuông theo sơ đồ mandala. Đó là hệ quy tắc độc lập, không dính dáng tới la bàn và phép xem đất của phương Đông Á.
Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc thế đất theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra để bạn đọc quen lối ấy có một chỗ đối chiếu. Nó không phải điều chép trong tư liệu của đền, cũng không phải điều những người dựng ngôi đền này tính tới.
Điều đầu tiên đáng đọc là hướng Đông. Trong phép cổ truyền của người Việt, phương Đông thuộc hành Mộc, ứng với mùa xuân và khí buổi sớm, được coi là phương khởi phát, nên cửa mở hướng Đông là cửa đón sinh khí đầu ngày. Ở đây hướng ấy đến từ quy tắc riêng của Ấn Độ Giáo là đón mặt trời mọc, nhưng nhìn bằng con mắt cổ truyền thì kết quả trùng nhau. Hai truyền thống khác gốc gặp nhau ở cùng một kết luận, vì cả hai đều xuất phát từ quan sát mặt trời chứ không từ sách vở của nhau.
Thứ hai là thế đất phố. Đền lọt giữa một dãy nhà buôn bán, không có sân rộng phía trước, tường bao cao và kín. Theo lối đọc cũ, khu đất bị vây bốn bề mà vẫn yên tĩnh bên trong thì thuộc thế tàng phong tụ khí, tức kín gió mà giữ được khí; bức tường cao vốn dựng để che chắn theo tập quán đền Nam Ấn lại đóng đúng vai ấy. Khoảng sân nhỏ trong tường giữ chức năng một minh đường thu nhỏ. Sách xưa đòi minh đường phải rộng và sáng; ở đây thì sáng mà hẹp, cái hẹp được bù bằng chiều cao của tháp.
Thứ ba là hình thể của tháp. Một khối vuông thu nhỏ dần theo tầng, đỉnh nhọn, đứng thẳng giữa phố thấp, theo lối đọc cũ thuộc hình Mộc đứng, tức dáng vươn lên, và người xưa coi khối dựng đứng cao hơn xung quanh là điểm tụ của cả một khu. Cần nhắc lại rằng tháp gopuram là quy ước có từ nhiều thế kỷ trong kiến trúc đền Nam Ấn; sự trùng khớp với một khái niệm phong thủy chỉ là trùng khớp của hình thể, không phải của chủ ý.
Sau cùng là chỗ trùng nghĩa mà con mắt cổ truyền hay để ý. Vị được thờ ở đây là Mẹ Mưa, tức một vị thuộc Thủy, mà đền lại đặt giữa một đô thị trên châu thổ sông nước. Theo lối đọc cũ, thần đúng hành với đất thì gọi là đắc vị. Chúng tôi ghi nhận xét ấy đúng như một cách đọc cổ truyền, và dừng lại ở đó.
伍Lễ Và Ngày Lễ
Lịch lễ của đền đi theo lịch Ấn Độ Giáo, không theo âm lịch Việt Nam, nên các ngày lễ lớn rơi vào những khoảng khác với lịch hội hè quý vị quen. Lớn nhất trong năm là lễ vía Bà, khoảng tháng Chín tới tháng Mười dương lịch, trùng dịp Navratri, tức chín đêm dâng lễ Nữ Thần của truyền thống Ấn Độ.
| Thời điểm | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Khoảng tháng Giêng dương lịch | Lễ mùa màng | Lễ tạ ơn mùa gặt của người Tamil, dâng lên nữ thần phần đầu của vụ mới. Đây là lễ giữ rõ nhất gốc nhà nông của tín ngưỡng Mariamman. |
| Khoảng tháng Sáu | Lễ vía các vị trong đền | Kỳ lễ dành cho các vị thờ cùng trong khuôn viên, gồm hai vị hộ vệ và các vị trên tường hậu điện. |
| Khoảng tháng Chín tới tháng Mười | Lễ vía Bà | Lễ lớn nhất trong năm, trùng dịp Navratri chín đêm. Đền trang hoàng bằng lá và hoa, dâng lễ liên tiếp nhiều ngày và phát lộc cho người dự. |
| Khoảng tháng Mười tới tháng Mười Một | Diwali, lễ ánh sáng | Lễ lớn của cả cộng đồng Ấn Độ Giáo, thắp đèn khắp đền, mang nghĩa ánh sáng thắng bóng tối. |
| Rằm và mùng một âm lịch | Ngày đông người Việt tới lễ | Không phải ngày lễ trong lịch Ấn Độ Giáo, mà là lệ do người đi lễ người Việt mang tới, nay đã thành nếp của đền. |
Lễ vật quen dùng ở đây là hoa nhài kết vòng, dừa, chuối, gạo và hương. Dừa bổ ra dâng lên, mang nghĩa dâng phần trắng sạch bên trong. Việc đặt lễ lên bệ và xức bột nghệ, bột đỏ lên tượng do người phụ trách nghi thức của đền làm.
Có một lệ ở đây đáng nói riêng, vì nó không đến từ Ấn Độ. Nhiều người tới lễ áp mặt hoặc áp trán vào bức tường phía sau gian thờ chính rồi thì thầm điều mình cầu, tin rằng nữ thần nghe được qua bức tường ấy. Theo người trông coi đền, đây là lệ do chính người đi lễ người Việt tạo ra, không có trong nghi thức Ấn Độ Giáo. Nội dung cầu cũng đã chuyển theo: phần lớn là cầu bình an cho gia đình, cầu công việc và cầu duyên. Ghi lại điều này không phải để định giá đúng sai, mà vì nó cho thấy một ngôi đền ngoại nhập đã được lớp người đi lễ mới bồi thêm lệ mới ra sao.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 45 đường Trương Định, phường Bến Thành, quận 1 cũ, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Đền nằm ở số 45 đường Trương Định, phường Bến Thành, đi bộ được từ chợ Bến Thành và từ khu vực công viên Tao Đàn. Các phố quanh đền đều nhỏ, phần lớn khách tới đây đi bộ.
- Toạ độ
- 10.7697, 106.6928
Đây là nơi hành lễ đang hoạt động, nên lệ của chính nơi ấy là lệ phải theo. Bỏ giày dép trước khi lên bậc vào khu thờ, ăn mặc kín vai kín gối. Không tự tay chạm vào tượng, không tự đặt lễ lên bệ; việc dâng lễ lên tượng do người phụ trách nghi thức của đền làm. Lễ vật quen dùng là hoa nhài, dừa, chuối, gạo và hương, không mang đồ mặn vào đền. Việc chụp ảnh ở gian thờ chính tùy lệ từng lúc, xin hỏi người trông coi trước khi giơ máy.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Bà Mariamman thờ ai
Thờ nữ thần Mariamman của Ấn Độ Giáo miền Nam Ấn Độ, tên có nghĩa là Mẹ Mưa, vị coi mưa, mùa màng, bệnh tật và sự yên ổn của làng xóm. Hai bên gian thờ chính có hai vị hộ vệ là Maduraiveeran và Pechiamman. Trên tường sau hậu điện còn mười tám pho tượng thần khác.
Chùa Bà Ấn có phải là chùa không
Không. Đây là đền thờ của Ấn Độ Giáo, tiếng Tamil gọi là kovil, do cộng đồng người Tamil dựng. Trong đền không có ban thờ Phật và không có sư. Chùa Bà Ấn là tên dân gian, đặt theo thói quen gọi mọi nơi thờ tự là chùa, chứ không nói đúng tông phái nơi này.
Đền Bà Mariamman xây năm nào
Các nguồn ghi vênh nhau. Bản tin về quyết định xếp hạng di tích ghi cuối thế kỷ 19; nhiều tư liệu ghi đầu thế kỷ 20, là lúc ngôi đền nhỏ lợp tôn được xây lại thành công trình hiện thấy; có bài ghi khoảng hai trăm năm, có bài đặt vào giữa thế kỷ 20. Điểm chung là đền đã đứng ở đây trên một trăm năm.
Đi đền Bà Ấn thì dâng lễ gì
Lễ vật quen dùng là vòng hoa nhài, dừa, chuối, gạo và hương, không mang đồ mặn. Khách bỏ giày dép trước khi vào khu thờ và không tự đặt lễ lên bệ; việc dâng lễ lên tượng do người phụ trách nghi thức của đền làm.
Vì sao người Việt và người Hoa tới đền Ấn lễ đông như vậy
Vì hình dung về Mariamman, một người Mẹ coi mưa gió và mùa màng, rất gần hình dung về các vị Mẫu trong tín ngưỡng người Việt, nên việc tiếp nhận diễn ra dễ dàng. Cộng đồng người Ấn thưa dần trong khi cư dân quanh khu chợ tới lễ ngày một đông, và họ còn bồi thêm lệ mới không có trong nghi thức Ấn Độ Giáo.