Từ đường Trần Phú, quý vị bước qua một cổng tam quan đắp búp sen và bánh xe pháp luân, rồi bắt đầu leo. Đường đi là một dải bậc thang men theo sườn phía bắc núi Lớn, cao dần từ chỗ chỉ ba mét trên mực nước biển lên tới hai mươi chín mét. Càng lên, cây rừng càng che kín đầu, và cứ vài chục bậc lại hiện ra một pho tượng trắng giữa lùm cây, từ một hài nhi đứng trên tòa sen, một thái tử cắt tóc bên ngựa trắng, một bậc giác ngộ ngồi dưới gốc bồ đề cho đến một pho tượng lớn nằm nghiêng.
Không có chính điện đồ sộ hay mái chùa che những pho tượng ấy. Đây là một quần thể tượng đài lộ thiên, nơi cuộc đời Đức Phật được kể bằng cách rải các cụm tượng dọc theo độ cao của ngọn núi. Người đi lễ không đứng một chỗ mà nhìn, mà phải leo hết dốc mới đọc trọn câu chuyện.

ITên Gọi Và Tông Phái
Nơi này có hai tên và hai lớp công trình nằm lồng vào nhau. Thiền Lâm Tự là ngôi chùa dựng trước, nằm ở cấp trên của khu đất. Thích Ca Phật Đài là quần thể tượng đài dựng sau, bao lấy ngôi chùa ấy và chiếm phần lớn diện tích. Chữ phật đài nghĩa là đài thờ Phật, chỉ một công trình xây để tôn trí tượng, khác với chữ tự là ngôi chùa có tăng chúng ở và tu học. Chữ Hán 釋迦佛臺 ghi ở đầu bài là chữ tương ứng với tên gọi, do thư viện suy ra theo lối chữ Hán quen dùng chứ không chép từ một tấm hoành phi trong khu.
Đây là cơ sở của Phật giáo Nam tông, tức Theravada, dòng truyền từ Tích Lan (Sri Lanka), Miến Điện, Thái Lan và Campuchia sang, khác với Bắc tông vốn chiếm phần lớn chùa chiền miền Bắc và miền Nam nước ta. Chỗ khác nhau thấy được ngay ở cách bày, vì Nam tông chỉ thờ Đức Phật Thích Ca lịch sử, không thờ các vị Phật và Bồ tát của hệ kinh điển Đại thừa, nên trong khu này quý vị không gặp tượng Quán Thế Âm, Địa Tạng hay Di Đà như ở chùa Bắc tông.
Việc lấy bốn chặng đời Đức Phật làm trục cho cả quần thể cũng có gốc trong giáo nghĩa. Truyền thống Phật giáo có khái niệm tứ động tâm, chỉ bốn nơi làm rung động lòng người gồm nơi đản sinh, nơi thành đạo, nơi chuyển pháp luân và nơi nhập niết bàn. Người Phật tử xưa hành hương bốn chỗ ấy ở Ấn Độ, còn dựng bốn cụm tượng dọc một sườn núi là cách đưa bốn chặng ấy về gần.
Về mặt khảo được, việc bắt đầu năm 1957, khi ông Lê Quang Vinh, nguyên là quan Đốc phủ sứ, khi nghỉ hưu đã lên sườn núi Lớn dựng một ngôi chùa nhỏ đặt tên Thiền Lâm Tự và xuất gia với pháp danh Thích Giác Pháp. Người gợi ý dựng một quần thể Phật tích trên mảnh đất này là Trưởng lão Hòa thượng Narada Maha Thera, một vị cao tăng Nam tông người Tích Lan từng nhiều lần sang Việt Nam hoằng pháp và cúng dường ngọc xá lợi Phật cùng cây bồ đề chiết nhánh. Công trình do Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam đứng ra thực hiện với sự vận động của cư sĩ Nguyễn Văn Hiểu, Chủ tịch Tổng hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam.
Về người thiết kế và tạc tượng, các nguồn ghi nhận hai nhóm tên khác nhau. Tư liệu của chùa Xá Lợi và báo Giác Ngộ ghi nhà khảo cổ học, cư sĩ Hồ Đắc Thăng là người phác họa đồ án và trực tiếp chỉ huy công trường, còn các pho tượng do điêu khắc gia Bùi Quang Điển (có tài liệu ghi tên thật là Bùi Văn Thêm, pháp danh Phúc Điền) cùng người học trò Hoàng Gia Thuận tạo tác. Trong khi đó, trang thông tin của Tổng cục Du lịch và một số tài liệu địa phương lại ghi công trình do kiến trúc sư Võ Đình Diệp thiết kế và nhà điêu khắc Lê Văn Mậu thực hiện phần tượng. Thư viện ghi lại đầy đủ cả hai nguồn tư liệu này.
Chỗ hay hiểu lầm nhất ở đây là tông phái. Nhiều người quen gọi nơi này là chùa Thích Ca Phật Đài rồi vào lễ theo lối chùa Bắc tông, tìm ban Quán Âm, tìm ban Địa Tạng, tìm chỗ ghi sớ cầu siêu. Những thứ ấy không có, và không có là vì đây là cơ sở Nam tông chứ không phải vì nhà chùa thiếu sót. Nam tông giữ hệ kinh điển Pali, thờ một vị Phật lịch sử, và nghi thức cũng khác.
Chỗ thứ hai là Thích Ca Phật Đài không phải tên của ngôi chùa. Ngôi chùa trong khu tên là Thiền Lâm Tự, còn Thích Ca Phật Đài là tên của quần thể tượng đài ra đời sau đó bốn năm.
IIMười Chín Tháng Trên Sườn Núi
Toàn bộ quần thể được dựng trong một quãng rất ngắn, khoảng mười chín tháng, trên một địa hình dốc và nhiều đá. Đó là điều đáng nói nhất về đoạn lịch sử này, khi không có lớp trùng tu chồng lớp qua nhiều thế kỷ như các chùa cổ, mà là một công trình làm một lần cho xong, theo một ý đồ đã vạch sẵn.
- 1957Dựng Thiền Lâm TựÔng Lê Quang Vinh, nguyên là Đốc phủ sứ, dựng ngôi chùa nhỏ trên sườn bắc núi Lớn đặt tên Thiền Lâm Tự rồi xuất gia với pháp danh Thích Giác Pháp. Đây là lớp công trình đầu tiên trên mảnh đất này.
- 1960Trồng cây bồ đề chiết từ Tích LanNgày 2 tháng 11 năm 1960 (nhằm ngày 14 tháng 9 năm Canh Tý), Hòa thượng Narada Maha Thera đưa một nhánh bồ đề chiết từ cây bồ đề gốc ở Anuradhapura (Tích Lan) sang trồng tại khu đất.
- 1961Đặt đá và khởi công quần thểSau khi trùng tu Thiền Lâm Tự đầu năm 1961, ngày 4 tháng 6 năm 1961 làm lễ đặt viên đá đầu tiên tại vị trí Bảo tháp, và ngày 20 tháng 7 năm 1961 chính thức khởi công xây dựng Thích Ca Phật Đài.
- 1962Hoàn thành Bảo tháp và tôn trí xá lợiBảo tháp Xá Lợi hoàn tất phần xây dựng ngày 30 tháng 1 năm 1962. Đến ngày 18 tháng 8 năm 1962, ban kiến thiết làm lễ tôn trí ba viên xá lợi vào Kim Thân Phật Tổ và mười ba viên xá lợi vào Bảo tháp.
- 1963Hoàn thành và khánh thànhSau mười chín tháng thi công, toàn bộ quần thể hoàn tất. Đại lễ khánh thành tổ chức trọng thể trong hai ngày 9 và 10 tháng 3 năm 1963, nhằm ngày 14 và 15 tháng Hai năm Quý Mão.
- 1989Di tích quốc giaTháng 12 năm 1989, quần thể được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh thắng cấp quốc gia.
- Từ 1990Các đợt tu bổCác thập niên sau, khu di tích trải qua nhiều đợt tu bổ đường bậc, sân lễ và các pho tượng lộ thiên vốn chịu nắng mưa và hơi muối biển quanh năm.
Chỗ này nguồn ghi vênh nhau rất rõ, thư viện xin nêu thẳng từng con số thay vì chọn bừa. Về diện tích quần thể, có nguồn ghi gần 3 hecta, tấm bia đá dựng ở cổng ghi khu đất chùa và Phật đài rộng 5 mẫu tây (5 hecta), lại có nguồn báo chí ghi tổng diện tích toàn khu rừng núi thuộc di tích tới 28 hecta. Các con số này đo những phạm vi khác nhau, một bên là khu vườn tượng và sân lễ, một bên là khu đất tôn giáo trên bia, và một bên là toàn bộ mảng rừng cảnh quan trên sườn núi Lớn.
Về kích thước Bảo tháp Xá Lợi và pho tượng chính Kim Thân Phật Tổ, tình hình cũng tương tự. Bảo tháp Xá Lợi được tư liệu chùa Xá Lợi và báo Giác Ngộ ghi cao 17 mét, nhưng trang Tổng cục Du lịch lại ghi cao 19 mét. Với pho tượng Kim Thân Phật Tổ, tư liệu chùa Xá Lợi ghi thân tượng cao 6 mét, bề ngang 4 mét, đặt trên bệ và tòa sen bát giác cao 7 mét, tức cả khối cao khoảng 13 mét. Trang Tổng cục Du lịch ghi tổng chiều cao cả tượng và bệ là 10,2 mét (tượng cao 6 mét, đài sen cao 4,2 mét), ngoài ra còn có nguồn ghi 5,1 mét hoặc 11,6 mét. Do cách đo có tính phần nền bệ đá bên dưới hay không ở mỗi tài liệu khác nhau, thư viện ghi lại đầy đủ các số liệu này.
IIIBa Cấp Địa Hình Và Các Cụm Tượng
Khu này không có mặt bằng phẳng theo nghĩa thường vì dựng trên sườn dốc phía bắc núi Lớn. Các tư liệu mô tả bố cục chung có dạng một vành khăn hình bán nguyệt ôm lấy sườn núi theo hướng đông nam sang tây bắc, chia làm ba cấp theo độ cao từ khoảng 3 mét tới khoảng 29 mét trên mực nước biển. Cấp thứ nhất là cổng tam quan và vườn hoa. Cấp thứ hai là khu nhà mát và nhà trưng bày truyền thống. Cấp thứ ba, cao nhất, là Thiền Lâm Tự cùng khu vườn tượng Phật tích và bảo tháp.
Cách chia ấy không phải để phân loại công trình mà để dẫn bước chân. Người đi từ cổng lên tới cấp ba phải mất một quãng leo, và trong quãng ấy lần lượt gặp các cụm tượng theo đúng thứ tự của câu chuyện. Ở chùa đồng bằng, cuộc đời Đức Phật thường được kể bằng tranh trên tường chính điện, người xem đứng một chỗ mà đọc. Ở đây, người xem phải đi hết dốc, và độ mỏi của chân cũng là một phần của cách kể.
Cổng vào ở cấp thấp nhất tại số 608 đường Trần Phú, gồm bốn trụ biểu đắp búp sen và bánh xe pháp luân. Bánh xe tám nan là biểu tượng của Bát chánh đạo, rất phổ biến ở các cơ sở Nam tông.
Tháp hình bát giác cao 17 mét (có nguồn ghi 19 mét), trước tháp là sân lễ rộng khoảng 300 mét vuông. Trong tháp tôn trí hộp vàng đựng mười ba viên xá lợi do Hòa thượng Narada Maha Thera cúng dường, dưới chân tháp ở bốn góc đặt bốn đỉnh lớn đựng đất thánh lấy từ bốn thánh tích Tứ động tâm ở Ấn Độ.
Pho tượng chính tạc Đức Phật ngồi thiền định trên tòa sen giữa trời, bên trong lòng tượng tôn trí ba viên xá lợi Phật. Phía sau và bên cạnh là cội bồ đề chiết từ Tích Lan trồng năm 1960. Kích thước tượng và đài sen được các nguồn ghi từ 10,2 mét đến 13 mét.
Cụm Đản sinh đặt ở phần thấp của khu vườn, tạc cảnh thái tử Tất Đạt Đa vừa ra đời đứng trên tòa sen, một tay chỉ trời một tay chỉ đất. Tiếp theo là cụm Xuất gia tạc thái tử dùng gươm cắt tóc (tượng cao 2,7 mét) bên cạnh con ngựa trắng Kiền Trắc (Kanthaka) và người hầu Xa Nặc (Channa) đang quỳ tiễn biệt.
Sau chặng thành đạo dưới cội bồ đề là cụm tượng Chuyển pháp luân tại vườn Lộc Uyển, đặt trong một ngôi nhà bát giác. Bên trong tôn trí pho tượng Đức Phật ngồi thuyết pháp cao 1,2 mét và năm pho tượng anh em tôn giả Kiều Trần Như cao 0,6 mét ngồi chắp tay lắng nghe.
Pho tượng lớn nằm dài 12,2 mét, cao 2,4 mét trên bệ cao 4,2 mét, quay mặt về hướng Tây, tạc Đức Phật nằm nghiêng bên phải trong giờ phút cuối. Phía trước bệ tượng có chín vị tỳ khưu chắp tay quỳ khóc, gồm bốn pho phía trước cao 1,8 mét và năm pho phía sau cao 0,7 mét.
Voi và khỉ dâng cúng
Ngoài các chặng lớn kể trên, trong khu còn một cụm tượng nhỏ mà người quen chùa Bắc tông thường không nhận ra, tạc Đức Phật ngồi trên tảng đá (tượng cao 2,7 mét trên bệ cao 1 mét) có một con voi và một con khỉ đang dâng đồ cúng. Cụm này lấy từ tích rừng Parileyya trong kinh điển Pali, kể quãng Đức Phật lui vào rừng an cư một mình sau khi tăng chúng ở Kosambi xảy ra bất hòa, được voi chúa tới hầu nước và khỉ dâng sáp mật ong.
Chi tiết ấy nói lên nguồn kinh điển của cả quần thể, bởi đây là những tích của hệ Pali, quen thuộc với người theo Nam tông và ít gặp trong tranh tượng chùa Bắc tông.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong hồ sơ di tích. Cần nói thêm rằng Phật giáo Nam tông không lấy phong thủy làm giáo lý, vì chỗ dựng chùa trong truyền thống này thường chọn theo tiêu chuẩn thanh vắng và hợp cho việc thiền. Thư viện ghi phần đọc dưới đây như một đối chiếu cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt.
Điều đầu tiên là đây là một trong số ít nơi trong mục Địa Điểm của thư viện có đủ cả núi lẫn biển, tức có đúng cái thế mà sách vở gọi là tọa sơn hướng thủy. Ở đồng bằng châu thổ, khi không có núi thì người ta phải mượn gò đất hoặc mặt nước lớn làm chỗ dựa, còn ở đây không phải mượn gì cả. Núi Lớn làm hậu chẩm, mặt vịnh làm minh đường, và minh đường ấy rộng tới chân trời.
Thứ hai là thế ba cấp. Phép xem đất cổ coi sườn núi là chỗ khí đi, gọi là mạch, nên dựng công trình trên sườn thì bám theo thế đất mà lên dần chứ không san phẳng để đặt một mặt bằng lớn. Quần thể này làm đúng như vậy, ba cấp nối nhau bằng đường bậc, mỗi cấp là một chiếu nghỉ. Đọc theo lối cũ, cách ấy giữ được mạch, và mỗi bậc thang là một nhịp lắng, nên càng lên cao càng tĩnh. Bố cục vành khăn ôm lấy sườn núi cũng là một thế quen, gọi là hoàn bão, tức ôm vòng, để khí đi vào chỗ ôm thì tụ lại chứ không xổ thẳng ra ngoài.
Thứ ba là chỗ đặt tượng theo độ cao. Cụm Đản sinh ở thấp, cụm Nhập niết bàn ở cao, đọc từ dưới lên là đọc theo mạch truyện. Xét theo lối cổ, sắp xếp này làm cho địa hình gánh luôn phần việc của thời gian, mỗi bước lên dốc là một quãng đời. Người xưa dựng đền chùa trên núi thường đặt điện thờ chính ở đỉnh, còn ở đây chỗ cao nhất lại dành cho cảnh Đức Phật nhập diệt, tức cho một cảnh tĩnh chứ không phải cho một ban thờ uy nghi.
Sau cùng, về hướng, thư viện xin không quả quyết bằng độ số của từng hạng mục, vì bảo tháp, tượng Kim Thân Phật Tổ và tượng Nhập niết bàn (quay hướng Tây) đặt theo các trục khác nhau trên sườn dốc. Điều nói được là hướng tổng thể ở đây do chính thế sườn bắc núi Lớn quy định, khi công trình bám sườn thì mở tầm nhìn về phía dốc đổ xuống vịnh biển.
VLễ Tiết Theo Lịch Nam Tông
Lịch lễ ở đây khác hẳn chùa Bắc tông, và đó là điều quý vị nên biết trước khi tính ngày đi. Phật giáo Nam tông tính lễ theo các ngày rằm âm lịch, nhưng gán cho chúng những nội dung khác với lịch quen thuộc của chùa Bắc.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Lễ Rằm tháng Giêng | Kỷ niệm ngày một nghìn hai trăm năm mươi vị thánh tăng tự tụ về nghe Đức Phật ban lời giáo giới, không hẹn mà tới. |
| Rằm tháng Tư | Đại lễ Tam hợp | Ngày lễ lớn nhất trong năm, kỷ niệm ba biến cố đản sinh, thành đạo và nhập niết bàn cùng trong một ngày, khác với Bắc tông vốn tách ba ngày riêng. |
| Rằm tháng Sáu | Lễ Chuyển pháp luân | Kỷ niệm bài pháp đầu tiên Đức Phật giảng cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển. |
| Từ 16 tháng Sáu tới rằm tháng Chín | Mùa an cư | Ba tháng chư tăng cấm túc tại chỗ, không đi xa, chuyên việc tu học. Lễ ra hạ làm vào rằm tháng Chín. |
| Từ 16 tháng Chín tới rằm tháng Mười | Lễ dâng y Kathina | Kỳ lễ cư sĩ dâng y mới lên chư tăng vừa mãn mùa an cư. Mỗi chùa Nam tông chỉ tổ chức một lần trong khoảng thời gian ấy. |
Trong năm ngày lễ ấy, hai ngày đáng chú ý nhất với người quen chùa Bắc tông là rằm tháng Tư và kỳ dâng y. Đại lễ Tam hợp gộp đản sinh, thành đạo và nhập niết bàn vào một ngày theo lối tính của kinh điển Pali, nên ở đây không có lễ Thành đạo riêng vào mùng tám tháng Chạp như chùa Bắc. Lễ dâng y Kathina thì không có tương đương bên Bắc tông, đây là nghi thức cư sĩ dâng tấm y mới cho chư tăng vừa xong ba tháng an cư, và theo giới luật mỗi ngôi chùa chỉ được nhận một lần trong một mùa.
Ngoài lễ tiết, vì toàn bộ tượng đều lộ thiên và đường đi là bậc thang men sườn núi, nếp đi lễ ở đây gần với lối hành hương leo núi hơn là lối vào chùa lễ Phật, người đi lễ thường đi hết một vòng theo thứ tự các cụm tượng rồi mới lên tới bảo tháp và ngôi Thiền Lâm Tự ở trên cùng.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Sườn núi Lớn, số 608 đường Trần Phú, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Quần thể nằm trên sườn phía bắc núi Lớn, số 608 đường Trần Phú, phường Vũng Tàu (Phường 5, thành phố Vũng Tàu cũ), Thành phố Hồ Chí Minh, ở mạn bắc khu Bãi Dâu. Từ cổng vào phải leo bậc thang một quãng mới tới khu tượng đài.
- Toạ độ
- 10.3744, 107.0707
Đây là cơ sở thờ tự Nam tông đang hoạt động, lệ nhà có vài chỗ khác chùa Bắc tông. Khách tới thăm cần ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào khu tượng và bảo tháp, đi nhẹ nói khẽ, không leo lên bệ tượng và không chạm vào các pho tượng lộ thiên. Xung quanh bảo tháp Xá Lợi, lệ đi nhiễu là đi vòng theo chiều kim đồng hồ, giữ tháp ở phía tay phải. Đường lên là bậc thang dốc, trơn khi mưa, xin quý vị liệu sức.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thích Ca Phật Đài
Contribute photos, information or video for Thich Ca Phat DaiThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thích Ca Phật Đài thuộc tông phái nào
Đây là cơ sở của Phật giáo Nam tông, tức Theravada, do Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam dựng. Nam tông giữ hệ kinh điển Pali và chỉ thờ Đức Phật Thích Ca lịch sử, nên trong khu không có tượng Quán Thế Âm, Địa Tạng hay Di Đà như ở chùa Bắc tông.
Thích Ca Phật Đài và Thiền Lâm Tự có phải một không
Không hẳn. Thiền Lâm Tự là ngôi chùa dựng năm 1957, nằm ở cấp cao nhất của khu đất. Thích Ca Phật Đài là quần thể tượng đài lộ thiên dựng từ năm 1961 tới năm 1963, bao quanh ngôi chùa ấy. Hai thứ ra đời cách nhau bốn năm và có quy mô rất khác nhau.
Bảo tháp Xá Lợi ở Thích Ca Phật Đài có gì
Tháp hình bát giác cao 17 mét (có nguồn ghi 19 mét), trước tháp có sân lễ rộng khoảng 300 mét vuông. Bên trong tôn trí mười ba viên xá lợi Đức Phật đựng trong hộp vàng do Hòa thượng Narada Maha Thera người Tích Lan cúng dường, dưới chân tháp ở bốn góc đặt bốn đỉnh lớn đựng đất thánh lấy từ Tứ động tâm ở Ấn Độ. Trong lòng pho tượng Kim Thân Phật Tổ còn có ba viên xá lợi nữa.
Tượng Kim Thân Phật Tổ cao bao nhiêu
Nguồn ghi vênh nhau. Tư liệu chùa Xá Lợi ghi thân tượng cao 6 mét, bề ngang 4 mét, đặt trên bệ và tòa sen cao 7 mét, tức cả khối khoảng 13 mét. Trang Tổng cục Du lịch ghi cả tượng và đài sen cao 10,2 mét, ngoài ra còn có nguồn ghi 5,1 mét hoặc 11,6 mét. Sự khác nhau chủ yếu ở chỗ có tính cả phần nền bệ đá hay không, nên thư viện ghi lại đầy đủ.
Thích Ca Phật Đài xây năm nào
Ngôi Thiền Lâm Tự có trước, dựng năm 1957. Quần thể tượng đài khởi công ngày 20 tháng 7 năm 1961, thi công khoảng mười chín tháng, hoàn thành và làm lễ trong hai ngày 9 và 10 tháng 3 năm 1963, nhằm ngày 14 và 15 tháng Hai âm lịch. Xếp hạng di tích quốc gia tháng 12 năm 1989.