Rẽ khỏi đường ven biển vùng La Gi, quý vị đi thêm một quãng thì hai bên chỉ còn rừng dầu. Thân cây thẳng, vỏ xám, tán khép trên đầu làm nắng rơi xuống thành từng vệt. Giữa khoảnh rừng ấy hiện ra một cổng tam quan mái ngói, sau cổng là sân rộng, rồi một nếp nhà bốn mái với đôi rồng chầu mặt nguyệt đắp trên bờ nóc. Đây là dinh Thầy Thím.
Điều đáng chú ý trước tiên nằm ngay ở cái tên. Người trong vùng không biết họ tên hai vị được thờ, nên gọi người chồng là Thầy và gọi người vợ là Thím, đúng như cách xưng hô hằng ngày với một cặp vợ chồng lớn tuổi trong xóm. Hai tiếng gọi ấy giữ nguyên suốt hơn một trăm năm, không được thay bằng một danh hiệu trang trọng nào, và chính chỗ đó nói ra bản chất của nơi này.

壹Thầy Và Thím, Hai Vị Được Thờ
Xin nói rõ ngay một điều để quý vị khỏi hiểu chệch: đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội. Dinh Thầy Thím không phải chùa, không có tăng ni. Nơi này thuộc lớp tín ngưỡng dân gian, trong đó một con người được cho là có công với dân, sau khi mất thì được dân lập nơi thờ và dần dần được coi như thần. Người trông coi việc thờ tự là ban tế tự do dân cử ra, không phải chức sắc tôn giáo.
Lối thờ nhân thần này rất quen với người Việt. Một người thật làm được việc gì đó cho một cộng đồng, rồi cộng đồng ấy giữ lại ký ức bằng cách dựng nơi thờ và cúng theo ngày giỗ. Từ chỗ giỗ, việc thờ chuyển dần sang chỗ cầu: cầu mưa thuận gió hòa, cầu yên biển, cầu khỏi bệnh. Khi triều đình biết tới thì ban sắc phong. Ở dinh Thầy Thím, cả ba bước ấy đều thấy được: từ hai nấm mộ trong rừng, tới một ngôi dinh, rồi tới sắc phong.
Truyền thuyết vùng này kể rằng Thầy vốn là một đạo sĩ quê phủ Điện Bàn thuộc đất Quảng Nam, sống vào quãng đầu đời Gia Long. Ông có phép thuật, hay dùng phép giúp dân nghèo, từng làm mưa cứu hạn và từng biến một cây gỗ lớn thành chiếc thuyền cho làng. Chính những việc ấy khiến ông mắc án nặng. Truyện kể tiếp rằng khi bị dẫn ra pháp trường, ông xin một tấm lụa điều, tấm lụa ấy hóa thành rồng đưa hai vợ chồng bay về phương Nam. Họ dừng lại ở làng Tam Tân ven biển, sống bằng nghề bốc thuốc và đóng ghe.
Khi hai vợ chồng mất, dân làng tìm thấy hai nấm mộ cát trong rừng, và truyện kể rằng có một đôi bạch hổ cùng một đôi hắc hổ thường về nằm canh. Về sau triều đình xét lại án cũ, thấy oan, bèn ban sắc phong tôn Thầy là Chí Đức Tiên Sinh và tôn Thím là Chí Đức Nương Nương Tôn Thần. Chữ Hán đặt ở đầu bài này chính là bốn chữ Chí Đức Tiên Sinh trong sắc phong; bản thân hai tiếng Thầy Thím là tiếng Nôm thuần Việt, không có dạng chữ Hán tương ứng.
Về đời vua ban sắc thì các nguồn ghi vênh nhau: có tài liệu ghi việc xét lại án diễn ra vào đời Thành Thái, năm thứ mười tám; có tài liệu chỉ ghi chung là triều Nguyễn về sau mà không nêu niên hiệu. Chúng tôi ghi cả hai chứ không chọn bừa một mốc, bởi bản thân câu chuyện thuộc lớp truyền thuyết chứ không phải sử biên niên.
Chỗ hay hiểu lầm thứ nhất: nhiều người tưởng Thầy Thím là tên riêng của một vị thần. Không phải. Đó là hai danh từ chỉ quan hệ trong tiếng Việt, dùng để gọi một người đàn ông đứng tuổi có nghề và gọi vợ ông ta. Dân vùng Tam Tân dùng đúng hai tiếng ấy vì không ai biết họ tên hai người, và cách gọi dân dã đó được giữ nguyên cả khi sắc phong đã đặt cho hai vị những danh hiệu chữ Hán trang trọng hơn nhiều.
Chỗ hay hiểu lầm thứ hai: chữ dinh ở đây không phải chữ đình. Đình là nơi thờ thành hoàng và cũng là nhà việc chung của một làng. Dinh trong cách gọi của người miền Trung và miền Nam chỉ một nơi thờ riêng, thường thờ một vị thần cụ thể, không kiêm chức năng hành chính. Hai chữ gần âm nhưng chỉ hai loại công trình khác nhau.
貳Từ Hai Nấm Mộ Trong Rừng Đến Ngôi Dinh
Lịch sử ở đây không bắt đầu bằng một quyết định dựng đền mà bắt đầu bằng hai nấm mộ. Tới hôm nay việc thờ vẫn chia làm hai nơi, một ở dinh và một ở khu mộ, nối với nhau bằng các đám rước.
- Đầu thế kỷ 19Hai vợ chồng vào Tam TânTheo truyền thuyết, đôi vợ chồng đạo sĩ từ đất Quảng Nam vào định cư ở làng Tam Tân ven biển vào quãng đầu đời Gia Long. Đây là lớp truyền tụng, không có văn bản đương thời xác nhận.
- Không rõ nămHai ngôi mộ trong rừngDân làng tìm thấy hai nấm mộ cát ở khoảng rừng nơi hai vợ chồng qua đời, bắt đầu ra cúng tại chỗ. Việc thờ ở mộ có trước việc dựng dinh.
- 1879Tôn tạo dinhDòng chữ Hán Nôm cổ trên thanh xà cò ghi việc tôn tạo vào ngày 25 tháng 12 năm 1879, tức năm Tự Đức thứ 32. Đây là mốc có văn tự tại chỗ, chắc chắn nhất trong niên biểu của nơi này.
- Đời Thành TháiBan sắc phongTheo truyền thuyết và tư liệu địa phương, triều đình xét lại án cũ rồi ban sắc phong Chí Đức Tiên Sinh và Chí Đức Nương Nương Tôn Thần. Một số nguồn ghi năm Thành Thái thứ mười tám, một số nguồn chỉ ghi chung là triều Nguyễn.
- Thế kỷ 20Các đợt trùng tuDinh trải nhiều lần tu bổ, giữ lối bố cục cũ gồm cổng tam quan, võ ca, chính điện và các nhà thờ Tiền hiền, Hậu hiền. Phần lớn cấu kiện gỗ hiện thấy thuộc các lớp tu bổ này.
- 1997Di tích quốc giaDinh Thầy Thím được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, phạm vi gồm cả khu dinh và khu mộ trong rừng.
- 2022Di sản văn hóa phi vật thể quốc giaLễ hội dinh Thầy Thím được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 62 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ký ngày 12 tháng 1 năm 2022.
Có một chỗ nguồn vênh nhau về địa danh, xin nói thẳng. Địa chỉ của dinh thường được ghi là khu rừng dầu Bàu Cái. Nhưng khi nói tới khu mộ, tài liệu của cơ quan quản lý di sản lại ghi mộ nằm ở rừng Bàu Thông, cách dinh chừng ba cây số về phía tây, trong khi một số bài báo ghi cả dinh lẫn mộ đều thuộc rừng Bàu Cái. Nhiều khả năng đây là hai tên gọi của hai khoảnh rừng liền nhau, nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm nên ghi cả hai.
參Ngôi Dinh Và Khu Mộ
Nơi thờ tự ở đây gồm hai phần cách nhau một quãng rừng: khu dinh và khu mộ. Hai phần ấy là hai đầu của một trục nghi lễ, các đám rước trong năm đều đi lại giữa hai đầu ấy.
Khu dinh
Từ ngoài vào, quý vị qua cổng tam quan mái ngói, trang trí rồng chầu theo lối đắp nổi quen thuộc của đình miếu Trung Bộ và Nam Bộ. Qua cổng là khoảng sân rộng, rồi tới võ ca, tức nhà hát, một nếp nhà chừng tám mươi mốt mét vuông đặt trước chính điện. Đặt nhà hát ngay trước mặt thần là lệ chung của các dinh miếu phương Nam, bởi trong quan niệm cũ thì tuồng hát cũng là một thứ dâng lên thần chứ không phải trò vui bên lề.
Sau võ ca là chính điện, nếp nhà bốn mái, bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt nguyệt, trong đặt các án thờ với ban giữa thờ Thầy và Thím. Hai bên và phía sau là nhà thờ Tiền hiền thờ những người có công khai phá vùng đất, nhà thờ Hậu hiền thờ lớp người kế tục, cùng nhà kho và nhà làm việc của ban tế tự.
Nhà hát đặt ngay trước chính điện, diện tích khoảng 81 mét vuông. Trong những ngày lễ, tuồng và hát bội diễn tại đây, quay mặt vào chính điện chứ không quay ra sân.
Nếp nhà bốn mái, bờ nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt. Trong đặt án thờ Thầy và Thím cùng các ban phối thờ. Đây là trung tâm của cả khu.
Hai nếp nhà thờ những người có công khai phá và lớp người kế tục việc làng. Có hai ban này tức là dinh vẫn giữ chức năng của nơi thờ chung cho cộng đồng.
Cách dinh chừng ba cây số, gồm mộ Thầy, mộ Thím, hai ngôi mộ được coi là mộ đôi bạch hổ, cùng một điện thờ nhỏ. Mộ đắp bằng cát, không xây thành khối lớn.
Về vật liệu, tài liệu địa phương cho biết dinh dựng bằng thứ lấy tại chỗ, gỗ là chính, phần vữa kết dính pha theo lối cổ gồm nhựa cây, cát, vôi và đường. Cách pha vữa ấy từng phổ biến ở miền Trung và miền Nam trước khi có xi măng.
Một điểm hay bị bỏ qua: khu mộ mới là gốc của việc thờ, còn ngôi dinh là phần dựng sau. Xét theo trình tự hình thành thì dân ra cúng ở hai nấm mộ trước, rồi mới có dinh. Chính vì thế mà nghi thức lớn nhất trong năm không diễn ra gọn trong khuôn viên dinh, mà phải bắt đầu bằng việc lên mộ thỉnh sắc rước về.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Trước hết cần nhận ra kiểu đất ở đây. Đây là đồng bằng cát ven biển: không có núi làm hậu chẩm, không có sông lớn làm minh đường, chỉ có dải cát thấp, những vũng nước đọng mà dân địa phương gọi là bàu, và trên mặt cát ấy là rừng dầu. Phép xem đất cổ truyền vốn dựng lên từ địa hình có núi có sông, đem nguyên phép ấy áp vào một vùng cát thì không khớp. Cho nên ở đây phải đọc theo lối biến: tìm xem thứ gì đang giữ vai trò của núi và thứ gì giữ vai trò của nước.
Thứ giữ vai trò của núi chính là rừng dầu. Trong cách nghĩ cũ, nơi nào cây cối rậm rạp lâu đời thì nơi ấy được coi là có khí tụ, vì cây chỉ tốt trên đất tốt và tán cây giữ cho khí không bị gió cuốn đi. Vùng cát ven biển quanh năm chịu gió, mà một khoảnh rừng dầu đứng vững giữa cát thì tự nó đã là chứng cứ về đất. Rừng ở đây đóng cả hai vai: vừa là tường chắn gió, vừa là chỗ dựa thay cho ngọn núi không có.
Thứ giữ vai trò của nước là các bàu. Tên khoảnh rừng đặt dinh là Bàu Cái, tên khoảnh rừng đặt mộ là Bàu Thông, cả hai đều mang chữ bàu. Trong phép xem đất, nước tĩnh thì tụ khí, nước động thì dẫn khí; một vùng nhiều bàu tức là có nhiều điểm tụ nhỏ rải đều. Xa hơn về phía nam là biển, thứ mà lối cũ xem là thủy vô tình, tức nước quá lớn và quá động nên không tụ được. Vì vậy các nơi thờ trên dải ven biển thường lùi vào trong dăm cây số chứ ít khi dựng sát mép sóng, và vị trí của dinh đúng với thói quen ấy.
Về bố cục, điều đáng đọc nhất là cái trục nối dinh với mộ. Theo lối cũ, mộ là phần âm, nơi thờ là phần dương; giữ cả hai đầu và nối chúng bằng một nghi thức đi lại định kỳ là cách giữ cho hai phần ấy không đứt khỏi nhau. Nhiều nơi thờ nhân thần chỉ còn phần dinh mà phần mộ đã mất dấu; ở đây cả hai đầu đều còn.
Sau cùng là hướng. Tài liệu di tích không ghi hướng của dinh theo địa bàn nên chúng tôi không nêu con số độ nào. Chỉ xin nói một điều chung của dải đất này: địa thế thoải dần ra biển ở phía nam, nên các công trình thờ tự trong vùng phần lớn quay mặt về phía thấp, lưng dựa vào phần đất cao và vào rừng.
伍Lễ Tảo Mộ Và Lễ Hội Tháng Chín
Trong năm có hai kỳ lễ lớn, cả hai đều tính theo âm lịch: lễ tảo mộ mùng năm tháng Giêng, và lễ hội tháng Chín tức lễ giỗ, diễn ra ba ngày từ mười bốn tới mười sáu tháng Chín. Kỳ lễ này đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2022.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 5 tháng Giêng | Lễ tảo mộ | Ban tế tự và dân trong vùng lên khu mộ giữa rừng, dọn mộ và dâng lễ. Theo truyền thuyết địa phương, đây cũng là ngày đôi bạch hổ và hắc hổ về tảo mộ. |
| Ngày 14 tháng Chín | Lễ nghinh Thần | Ban tế tự lên khu mộ thỉnh sắc phong, rước về an vị tại dinh. Đây là nghi thức mở đầu, nối khu mộ với khu dinh. |
| Ngày 14 tới 16 tháng Chín | Dâng cộ bánh | Các nhóm dân cư dâng những mâm bánh kết thành hình, gọi là cộ bánh, rước vào dinh. Đây là lễ vật đặc trưng của kỳ lễ này. |
| Trong ba ngày hội | Thỉnh sanh | Nghi thức dâng lễ vật sống theo lệ cũ của các dinh miếu trong vùng, tiến hành trước lễ chánh tế. |
| Ngày 15 hoặc 16 tháng Chín | Chánh tế Thần | Lễ tế chính do ban tế tự đứng chủ, có đọc văn tế và dâng hương. Đây là phần trọng nhất của cả kỳ lễ. |
Ngoài phần lễ, ba ngày tháng Chín còn có hát bội tại võ ca cùng những trò chơi mang dấu nghề biển như thi đan lưới, thi gánh cá và kéo co. Cách sắp ấy cho thấy rõ đây là hội của một cộng đồng làm biển: thứ được đem ra thi thố chính là những việc người ta làm hằng ngày.
Một chỗ hay bị nói gộp: kỳ lễ tháng Chín nay thường được gọi kèm mấy chữ văn hóa du lịch, và nhiều người vì cái tên ấy mà tưởng đây là sự kiện mới đặt ra. Xét theo tư liệu thì phần lõi của kỳ lễ, gồm nghinh Thần, thỉnh sanh, dâng cộ bánh và chánh tế Thần, là nghi thức giỗ theo lệ cũ của làng Tam Tân, có trước rất lâu; phần hội và phần quảng bá mới là lớp thêm vào về sau. Hai lớp ấy nằm chung một kỳ lễ nhưng không cùng tuổi.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu rừng dầu Bàu Cái, xã Tân Tiến, thị xã La Gi cũ, tỉnh Lâm Đồng
- Đường tới
- Dinh nằm trong khu rừng dầu Bàu Cái, xã Tân Tiến, thị xã La Gi cũ, tỉnh Lâm Đồng, cách bờ biển vài cây số. Khu mộ Thầy Thím nằm sâu trong rừng cách dinh chừng ba cây số, đi cùng tuyến được.
- Toạ độ
- 10.7247, 107.8811
Vài lệ của chính nơi này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên án thờ, không chạm tay vào sắc phong và các hiện vật gỗ. Khu mộ trong rừng là nơi thờ chứ không phải chỗ nghỉ chân, xin giữ yên tĩnh và không hái cây bẻ cành. Ba ngày hội tháng Chín có nhiều đám rước cắt ngang sân, xin nhường đường cho kiệu và cho các mâm cộ bánh.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Dinh Thầy Thím thờ ai
Thờ hai vợ chồng mà dân vùng Tam Tân gọi là Thầy và Thím, theo truyền thuyết là một đạo sĩ quê Quảng Nam cùng vợ vào đây sống bằng nghề bốc thuốc và đóng ghe. Sắc phong tôn hai vị là Chí Đức Tiên Sinh và Chí Đức Nương Nương Tôn Thần. Không ai biết họ tên thật của hai người.
Dinh Thầy Thím thuộc tôn giáo nào
Không thuộc tôn giáo nào có giáo hội. Đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, tức thờ người thật có công như thờ thần. Dinh không phải chùa, không có tăng ni, việc thờ tự do ban tế tự của cộng đồng đảm nhiệm chứ không do chức sắc tôn giáo.
Mộ Thầy Thím ở đâu
Khu mộ nằm giữa rừng, cách dinh khoảng ba cây số về phía tây, gồm mộ Thầy, mộ Thím, hai ngôi được coi là mộ đôi bạch hổ và một điện thờ nhỏ. Tên khoảnh rừng đặt mộ được các nguồn ghi khác nhau, có nơi ghi rừng Bàu Thông, có nơi ghi rừng Bàu Cái.
Lễ hội dinh Thầy Thím tổ chức ngày nào
Hai kỳ trong năm, đều tính theo âm lịch. Lễ tảo mộ vào mùng năm tháng Giêng, tiến hành tại khu mộ trong rừng. Lễ hội chính, tức lễ giỗ, diễn ra ba ngày từ mười bốn tới mười sáu tháng Chín, gồm nghinh Thần, dâng cộ bánh, thỉnh sanh và chánh tế Thần.
Dinh Thầy Thím nay thuộc tỉnh nào
Dinh nằm ở xã Tân Tiến, thuộc thị xã La Gi cũ. Sau lần sắp xếp địa giới năm 2025, địa bàn này thuộc tỉnh Lâm Đồng. Tên gọi cũ Bình Thuận vẫn còn gặp trong phần lớn tư liệu và sách báo viết trước đó.