Đứng trên đường Nguyễn Huệ nhìn vào, quý vị thấy một mặt tiền màu nâu sẫm, gần như đen, với tháp chuông vuông bốn tầng dựng chính giữa. Lại gần thì thấy rõ thứ mà ảnh chụp không nói hết: cả cái mặt tiền ấy là gỗ. Cột gỗ, khung gỗ, cánh cửa gỗ, các ô hoa văn cũng gỗ, và lớp gỗ đã ngả sang màu của hơn một trăm mùa mưa cao nguyên. Chỉ phần vách chen giữa các ô khung là đất trộn rơm trát theo lối làm nhà của người miền Trung.
Người ta quen gọi đây là Nhà thờ gỗ, tên đặt theo vật liệu. Tên chính thức thì khác: Nhà thờ Chính tòa Kon Tum, nhà thờ mẹ của cả một giáo phận vùng bắc Tây Nguyên. Điều đáng nhìn ở đây không nằm ở tuổi hay kích thước, mà ở chỗ nó là một điểm gặp: hình khối nhà thờ châu Âu đặt trên bộ khung nhà sàn bản địa, dựng bằng tay thợ mộc người Việt.

壹Tên Gọi Và Vai Trò Chính Tòa
Hai cái tên của công trình nói hai việc khác nhau. Nhà thờ gỗ là tên dân gian, đặt theo vật liệu, tới nay vẫn được dùng nhiều hơn cả. Nhà thờ Chính tòa Kon Tum là tên theo tổ chức của Giáo hội Công giáo.
Trong tổ chức Công giáo, thế giới chia thành các giáo phận, mỗi giáo phận do một giám mục coi sóc. Nhà thờ nào có đặt ngai tòa của vị giám mục ấy thì gọi là nhà thờ chính tòa. Ngai tòa không phải đồ trang trí mà là dấu chỉ của quyền giảng dạy và coi sóc, nên nhà thờ chính tòa được coi là nhà thờ mẹ của cả giáo phận: những nghi lễ trọng nhất trong năm cử hành tại đây, do vị giám mục chủ sự.
Ngoài ra, mỗi nhà thờ đều được dâng kính một vị thánh hoặc một tước hiệu, và tước hiệu ấy thành bổn mạng. Bổn mạng của giáo xứ chính tòa Kon Tum là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, một tước hiệu của Đức Maria, có ngày lễ riêng trong lịch phụng vụ.
Một điểm về thứ tự thời gian đáng chú ý: công trình dựng xong trước khi giáo phận ra đời. Nhà thờ hoàn thành năm 1918, còn địa hạt Kon Tum tới ngày mười tám tháng Giêng năm 1932 mới lập thành đơn vị riêng tách khỏi giáo phận Quy Nhơn. Nghĩa là ngôi nhà thờ dựng cho xứ đạo, rồi mười mấy năm sau mới thành nhà thờ chính tòa.
Giáo phận phủ một vùng rộng gồm nhiều cộng đồng dân tộc: tư liệu của giáo phận kể tên Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai, Giẻ Triêng cùng người Kinh. Đây là điều cần nhớ khi nhìn phần trang trí, vì nó giải thích vì sao một nhà thờ lại mang dáng nhà rông.
Ba chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, cả công trình không phải toàn gỗ. Bộ khung chịu lực, sàn, cột, kèo và phần lớn chi tiết trang trí là gỗ cà chít, nhưng các mảng vách chen giữa khung thì trát bằng đất trộn rơm. Cái tên nhà thờ gỗ nói đúng phần cốt, không nói hết phần vỏ.
Thứ hai, kỹ thuật ghép mộng không đóng đinh không phải sáng kiến riêng của công trình này. Đó là lối dựng nhà gỗ cổ truyền của thợ mộc người Việt, đã dùng ở đình chùa nhà rường suốt nhiều thế kỷ. Điều đặc biệt là lối ấy được áp vào một hình khối nhà thờ châu Âu.
Thứ ba, về phong cách. Phần lớn tư liệu xếp công trình vào lối Roman, một số bài lại mô tả tháp chuông theo lối Gothic. Hai cách gọi vênh nhau nên chúng tôi ghi cả hai.
貳Từ Nếp Nhà Tranh Tới Công Trình Gỗ Năm 1918
Công trình đang đứng hôm nay không phải nhà thờ đầu tiên ở chỗ này. Trước nó đã có một nếp nhà thờ đơn sơ bằng gỗ, tre và tranh, về sau hư hại. Lần dựng lại quy mô kéo dài năm năm.
- 1850Các thừa sai lên vùng bắc Tây NguyênTư liệu của giáo phận lấy năm này làm mốc mở đầu cho việc truyền giáo tại vùng cao nguyên phía bắc.
- Khoảng 1870Nếp nhà thờ đầu tiênMột nhà thờ nhỏ dựng bằng gỗ, tre và tranh tại xứ đạo Kon Tum, về sau hư hỏng, là lý do dẫn tới lần dựng lại.
- 1913Khởi công công trình gỗLinh mục người Pháp Joseph Décrouille, cha sở xứ đạo, đứng ra chủ trì việc dựng ngôi nhà thờ lớn bằng gỗ cà chít.
- 1918Hoàn thànhCông trình dựng xong sau năm năm. Thợ mộc mời từ vùng Bình Định và Quảng Nam cũ, làm theo lối ghép mộng gỗ, không dùng đinh sắt ở phần khung.
- 1932Lập địa hạt Kon TumNgày mười tám tháng Giêng năm 1932, địa hạt Kon Tum lập thành đơn vị riêng tách khỏi giáo phận Quy Nhơn. Ngôi nhà thờ gỗ từ đây giữ vai trò chính tòa.
- 1933Vị giám mục tiên khởiVị giám mục đầu tiên của địa hạt được tấn phong ngày hai mươi ba tháng Sáu năm 1933 và coi sóc tới năm 1940.
- 1960Thành giáo phận chính tòaĐịa hạt được nâng lên hàng giáo phận chính tòa trong hàng giáo phẩm Công giáo Việt Nam, một thay đổi về tổ chức, không kèm thay đổi nào về kiến trúc.
- Những thập niên gần đâyCác đợt tu bổViệc giữ gìn tập trung vào phần gỗ: chống mối mọt, thay cấu kiện mục, làm lại lớp vách đất trộn rơm và phần mái, theo từng hạng mục, giữ nguyên bộ khung cũ.
Về niên đại, các nguồn thống nhất khá cao: khởi công năm 1913, hoàn thành năm 1918, có bài ghi rõ là đầu năm 1918. Tên vị linh mục chủ trì được phiên theo nhiều cách, khi là Joseph Décrouille, khi là Giuse Décrouille; đây là chuyện phiên âm chứ không phải hai người khác nhau.
Điều các tư liệu ít nói tới mà lại đáng ghi là việc ai làm. Người chủ trì là một linh mục châu Âu, nhưng người dựng là thợ mộc người Việt từ vùng duyên hải mang nghề lên. Bàn tay ấy để lại dấu ở cách ghép mộng, cách chạm ô hoa văn, cách làm bộ vì kèo.
參Roman Đặt Trên Bộ Khung Nhà Rông
Nhìn tổng thể, đây là một công trình hai lớp ngôn ngữ. Lớp thứ nhất là hình khối nhà thờ châu Âu: mặt tiền đối xứng, tháp chuông vươn cao ở giữa, hàng cửa vòm chạy dọc hai bên hông, lòng nhà thờ chia thành các gian nối nhau theo chiều dài, dẫn mắt người bước vào chạy thẳng tới cung thánh. Lớp thứ hai là cách dựng nhà của cao nguyên: sàn nâng cao khỏi mặt đất, mái dốc lớn, hành lang rộng chạy quanh, tỷ lệ mái so với thân nhà lấy theo dáng nhà rông của người Ba Na.
Nhà rông là ngôi nhà chung của làng, nơi hội họp và tiếp khách, đặc trưng của người Ba Na và một số cộng đồng vùng bắc Tây Nguyên. Mượn dáng nhà rông cho một ngôi nhà thờ là chọn lựa có chủ ý: nó đặt nơi hội họp của cộng đồng tôn giáo vào đúng hình dáng mà người bản địa vốn hiểu là nơi hội họp của làng.
Khối vuông bốn tầng đặt chính giữa mặt tiền, cao khoảng 24 mét theo tư liệu được dẫn nhiều nhất; có bài chỉ ghi hơn 20 mét. Đây là phần định hình bóng dáng công trình khi nhìn từ xa.
Loài sến đỏ mọc nhiều ở rừng cao nguyên, gỗ nặng, cứng, chịu mối mọt. Cột, kèo, sàn, cửa và phần lớn chi tiết trang trí đều bằng loại gỗ này, để mộc chứ không sơn phủ.
Các cột gỗ lớn chia lòng nhà thờ thành nhiều gian; tư liệu ghi cột chính cao chừng 12 mét đỡ phần vòm trần. Vòm làm bằng gỗ chứ không xây, đây là điểm khác căn bản so với nhà thờ xây đá.
Các mảng tường chen giữa khung gỗ trát bằng đất trộn rơm theo lối làm nhà của người miền Trung. Lớp vách này nhẹ, giữ nhiệt độ ổn định, phải trát lại theo chu kỳ.
Hệ cửa kính màu lọc ánh sáng vào lòng nhà thờ, vẽ các tích Kinh Thánh và cả cảnh sinh hoạt của cao nguyên. Ô kính tròn giữa mặt tiền có hình làng bản, voi và núi rừng, tức đưa cảnh vật tại chỗ vào một hạng mục vốn thuần châu Âu.
Trong khuôn viên còn có nhà rông dựng theo lối bản địa, nhà khách, nhà trưng bày sản phẩm dệt và các cơ sở sinh hoạt của giáo xứ, làm thành một cụm chứ không phải một tòa nhà đứng lẻ.
| Số đo | Nguồn thông tấn | Nguồn báo chí khác |
|---|---|---|
| Năm khởi công | 1913 | 1913 |
| Năm hoàn thành | 1918 | 1918, có bài ghi đầu năm 1918 |
| Chiều cao tháp chuông | 24 m, bốn tầng | Hơn 20 m |
| Diện tích công trình | 700 m vuông | Hơn 700 m vuông |
| Chiều cao cột chính | 12 m | Không thấy ghi |
Một điểm nữa là màu. Phần gỗ để mộc, không sơn, nên màu công trình là màu gỗ cà chít đã sẫm lại theo thời gian. Nhà thờ châu Âu quen dùng đá sáng và kính lớn để lấy sự bừng sáng; ở đây thứ ấy thay bằng một khối gỗ sẫm.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này cần một lời rào trước rõ ràng hơn các bài khác trong mục Địa Điểm. Công giáo không dạy phong thủy. Hướng của một ngôi nhà thờ theo truyền thống là hướng phụng vụ, tức hướng đặt cung thánh và bàn thờ theo quy tắc của việc cử hành, cùng với những ràng buộc rất thực tế của khu đất và con đường. Không có một phép chọn hướng theo la bàn nào trong đạo này. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc thế đất theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra để bạn đọc quen lối ấy có một chỗ đối chiếu; nó không phải điều được chép trong tư liệu của giáo phận, và cũng không phải điều mà những người dựng công trình này tính tới.
Điều đáng đọc trước nhất là nền đất và dòng nước. Khu phố nơi nhà thờ đứng nằm trên dải đất cao bên dòng Đăk Bla, con sông mà người tại chỗ quen nói là chảy ngược vì nó đi về phía tây chứ không ra biển phía đông như hầu hết sông miền Trung. Trong phép xem đất, một khu đất nổi cao có dòng nước lớn vòng qua là thế được coi trọng: đất cao thì không úng, nước vòng thì tụ khí.
Thứ hai là chỗ đặt trong phố. Công trình quay mặt ra một trục đường lớn của khu trung tâm, phía trước có sân rộng và bằng. Theo lối đọc cổ truyền đó là một minh đường đầy đủ: đất bằng, sáng, không bị chắn, đủ chỗ cho người tụ lại trước khi vào.
Thứ ba là hình thể. Mặt tiền dựng theo thế một tháp cao chính giữa, hai bên là hai cánh thấp và cân nhau. Phong thủy cổ truyền coi dạng một ngọn nổi giữa hai vai xuôi là thế của công trình giữ vai trò tụ điểm cho cả vùng chung quanh. Xin nhắc lại cho rõ: mặt tiền có tháp giữa là quy ước lâu đời của kiến trúc nhà thờ, có trước công trình này nhiều thế kỷ; sự trùng khớp với một khái niệm phong thủy chỉ là trùng khớp của hình thể chứ không phải của chủ ý.
Cuối cùng là vật liệu đọc theo ngũ hành, phần này thuần túy là chỗ đối chiếu cho người quen lối cũ. Một công trình gần như toàn gỗ thuộc hành Mộc, đặt trên nền đất cao thuộc hành Thổ, cạnh dòng sông thuộc hành Thủy. Trong phép ngũ hành, Thủy sinh Mộc và Mộc khắc Thổ, tức một bộ ba vừa nuôi nhau vừa chế nhau. Người dựng công trình chọn gỗ vì rừng cao nguyên sẵn gỗ tốt và vì thợ mộc quen tay, không vì lý do nào thuộc ngũ hành. Chúng tôi ghi nhận xét này đúng như một cách đọc cổ truyền, và dừng ở đó.
伍Lễ Theo Lịch Phụng Vụ
Là nhà thờ chính tòa, nơi này theo lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo, cộng thêm mấy dịp riêng gắn với vị bổn mạng và với vai trò đứng đầu giáo phận. Bài chỉ ghi những ngày cố định trong lịch phụng vụ, không ghi giờ giấc, vì lịch cử hành thay đổi theo từng năm.
| Thời điểm | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| 8 tháng 12 | Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội | Lễ bổn mạng của giáo xứ chính tòa, vì đây là tước hiệu mà nhà thờ được dâng kính. |
| Mùa Vọng và lễ Giáng Sinh | Chuẩn bị và mừng Chúa giáng sinh | Dịp đông người nhất trong năm ở khu vực quanh nhà thờ, gồm cả giáo dân các cộng đồng Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai và Giẻ Triêng từ các làng xa về. |
| Tuần Thánh và lễ Phục Sinh | Đỉnh cao của năm phụng vụ | Trong Tuần Thánh có thánh lễ Dầu, nghi lễ mang tính giáo phận do vị giám mục chủ sự tại nhà thờ chính tòa. |
| 1 tháng 11 và 2 tháng 11 | Lễ Các Thánh và lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời | Hai ngày liền nhau trong lịch phụng vụ, dịp giáo dân viếng phần mộ thân nhân. |
| Các dịp trọng của giáo phận | Nghi lễ do giám mục chủ sự | Vì đây là nơi đặt ngai tòa, những nghi lễ trọng nhất của cả giáo phận cử hành tại đây chứ không ở nhà thờ khác. |
Một nét riêng của nơi này là các dịp lễ lớn thường có phần sinh hoạt mang màu sắc bản địa: y phục dệt của các cộng đồng tại chỗ, cồng chiêng, các bài hát bằng tiếng dân tộc. Đó không phải phần bắt buộc của phụng vụ, mà là cách một cộng đồng đưa nếp sống của mình vào ngày lễ của mình.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường Nguyễn Huệ, phường Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi
- Đường tới
- Nhà thờ nằm trên đường Nguyễn Huệ, phường Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi, ngay khu trung tâm nên đi bộ được từ các phố quanh đó. Kon Tum là tên gọi cũ của địa bàn trước khi sáp nhập tỉnh năm 2025, và vẫn là tên chính thức của giáo phận.
- Toạ độ
- 14.3542, 108.0064
Đây là nơi cử hành phụng vụ chứ không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, giữ im lặng trong lòng nhà thờ. Khi đang có thánh lễ, xin không đi lại giữa các hàng ghế và không chụp ảnh. Sàn và cầu thang bằng gỗ hơn trăm tuổi, xin đi nhẹ và không tựa vào lan can hay các cột chạm. Việc vào cung thánh dành cho người có phận sự.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Nhà thờ gỗ Kon Tum xây năm nào
Công trình khởi công năm 1913 và hoàn thành năm 1918, do linh mục người Pháp Joseph Décrouille, cha sở xứ đạo khi ấy, đứng ra chủ trì. Trước nó tại chỗ này đã có một nếp nhà thờ nhỏ bằng gỗ, tre và tranh dựng từ những thập niên cuối thế kỷ 19, về sau hư hại nên phải dựng lại.
Nhà thờ gỗ Kon Tum làm bằng gỗ gì
Vật liệu chính là gỗ cà chít, một loài sến đỏ mọc nhiều ở rừng cao nguyên, gỗ nặng và chịu mối mọt tốt. Cột, kèo, sàn, cửa và phần lớn chi tiết trang trí đều bằng loại gỗ này, để mộc không sơn. Riêng các mảng vách chen giữa khung thì trát bằng đất trộn rơm chứ không phải gỗ.
Nhà thờ gỗ Kon Tum theo kiến trúc gì
Phần lớn tư liệu xếp vào lối Roman, ghép với kiểu nhà sàn và nhà rông của người Ba Na; một số bài lại mô tả tháp chuông theo lối Gothic, nên hai cách gọi này vênh nhau. Cách nói chắc chắn hơn là công trình mượn hình khối nhà thờ châu Âu rồi đặt lên bộ khung nhà sàn bản địa, dựng bằng nghề mộc cổ truyền của người Việt.
Nhà thờ chính tòa nghĩa là gì
Là nhà thờ có đặt ngai tòa của vị giám mục coi sóc giáo phận. Ngai tòa là dấu chỉ của quyền giảng dạy và coi sóc, nên nhà thờ chính tòa được coi là nhà thờ mẹ của cả giáo phận, và những nghi lễ trọng nhất trong năm được cử hành tại đây do vị giám mục chủ sự. Ngôi này là chính tòa của giáo phận Kon Tum.
Nhà thờ gỗ Kon Tum có thật sự không dùng một cây đinh nào không
Phần khung chịu lực được ghép bằng mộng gỗ theo lối thợ mộc cổ truyền, không dùng đinh sắt, và cũng không dùng bê tông. Đây là kỹ thuật quen thuộc của nghề mộc người Việt ở đình chùa nhà rường, không phải sáng kiến riêng của công trình. Điều đặc biệt nằm ở chỗ lối dựng ấy được áp vào một hình khối nhà thờ châu Âu.