VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Chantarangsay

· Candaransi, chùa Khmer Sài Gòn

Ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông Khmer đầu tiên dựng trên đất Sài Gòn, nơi giữ nguyên lối chùa của đồng bằng sông Cửu Long giữa một khu phố đông.

Khởi dựng
1946
do Hòa thượng Lâm Em lập
Khuôn viên
Khoảng 4.500 m2
theo tư liệu báo chí
Tông phái
Nam Tông Khmer
tụng kinh bằng tiếng Pali

Đi dọc bờ kênh Nhiêu Lộc, giữa hai hàng nhà phố, quý vị thấy nhô lên ba ngọn tháp nhọn nhiều cấp và một dãy mái xếp chồng, đầu mái vuốt cong thành đuôi rắn. Tường quét vàng, cột đắp hình rắn Naga nhiều đầu, trên diềm mái là hình chim thần Krut dang cánh đỡ lấy mái. Đây không phải mái đình mái chùa quen mắt của người Kinh; đây là lối chùa của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, dựng nguyên vẹn giữa lòng thành phố.

Bước vào chánh điện, quý vị sẽ nhận ra chỗ khác thứ hai, lần này không nằm ở mái mà nằm ở ban thờ. Trên bệ chỉ có Phật Thích Ca, không có Quan Âm, không có Địa Tạng, không có ban Mẫu, không có tượng Hộ Pháp hai bên. Sư mặc y vàng cam quấn hở một bên vai, tụng kinh bằng tiếng Pali. Đó là dấu của một dòng Phật Giáo riêng, và bài này sẽ nói cho rõ dòng ấy là dòng nào.

Chùa Chantarangsay
Chùa Chantarangsay. Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Ngôi Tổ Đình Của Nam Tông Khmer

Chantarangsay, cũng viết là Candaransi, tiếng Khmer nghĩa là ánh trăng. Đây là ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông Khmer đầu tiên dựng trên đất Sài Gòn và Gia Định, nên với đồng bào Khmer sinh sống ở thành phố, chùa giữ vai trò một ngôi tổ đình: chỗ quy về của những người ở xa quê gốc miền Tây.

Theo giáo nghĩa

Nam Tông, tên gọi khác là Theravada, nghĩa là lời dạy của các bậc trưởng lão, là dòng Phật Giáo truyền theo ngả phía nam qua Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Campuchia. Dòng này giữ bộ kinh điển Tam tạng Pali làm gốc và không dùng hệ kinh điển Đại thừa. Theo giáo nghĩa Nam Tông, bậc đáng thờ là Đức Phật Thích Ca, vị Phật lịch sử của thời này; các vị Bồ Tát trong hệ Đại thừa như Quán Thế Âm, Địa Tạng, Văn Thù không nằm trong hệ thờ tự ấy. Mục tiêu tu tập được đặt là quả vị A La Hán, tức dứt hết phiền não ngay trong đời này.

Theo sử liệu

Chỗ khác nhau giữa Nam Tông Khmer và Bắc Tông của người Kinh, xin ghi thành từng mục cho rõ, bằng giọng sử liệu và không xếp bên nào cao hơn bên nào.

Cách thờ. Chánh điện Nam Tông chỉ đặt tượng Phật Thích Ca. Chùa Bắc Tông thường có Tam Thế Phật, Quan Âm, Địa Tạng, Hộ Pháp, nhiều nơi còn có ban thờ Mẫu và ban thờ Tổ.

Giới luật và ăn uống. Tỳ khưu Nam Tông giữ bộ giới hai trăm hai mươi bảy điều theo luật Pali, đi khất thực, và không thọ thực sau giữa trưa. Các vị nhận được gì dùng nấy theo phép tam tịnh nhục, tức món thịt mà vị ấy không thấy, không nghe và không nghi là con vật bị giết vì mình; vì vậy không có lệ ăn chay trường. Tăng sĩ Bắc Tông ở nước ta giữ lệ ăn chay trường và thường không đi khất thực.

Y phục. Y của sư Nam Tông màu vàng cam hoặc nâu đỏ, quấn quanh người và để hở vai phải khi hành lễ. Tăng sĩ Bắc Tông mặc áo tràng và áo hậu có tay, cài khuy, màu nâu hoặc lam.

Ngôn ngữ tụng kinh. Nam Tông Khmer tụng bằng tiếng Pali, ghi bằng chữ Khmer, phần giảng giải thì dùng tiếng Khmer. Bắc Tông tụng theo âm Hán Việt và kinh dịch tiếng Việt.

Vai trò của chùa. Trong nếp sống Khmer, chùa còn là trường học: nơi dạy chữ Khmer, dạy kinh Pali và là chỗ thanh niên vào tu một thời gian để báo hiếu cha mẹ rồi hoàn tục. Chùa Chantarangsay giữ đúng nếp ấy, mở lớp dạy chữ Khmer cho con em trong dịp hè.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ người quen đi chùa Bắc Tông hay hiểu lầm khi vào đây.

Thứ nhất, chuyện sư thọ thực đồ mặn. Không ít người cho rằng đó là phạm giới. Xét theo luật, không phải. Luật Pali mà Nam Tông giữ không đặt ra giới ăn chay trường; điều luật đặt ra là khất thực thì nhận gì dùng nấy, không kén chọn, và không dùng thịt của con vật bị giết riêng cho mình. Lệ ăn chay trường là nếp của Phật Giáo Bắc Tông vùng Đông Á, hình thành theo một mạch kinh điển khác. Hai bên giữ hai bộ luật khác nhau chứ không phải một bên giữ và một bên bỏ.

Thứ hai, chuyện chùa không có tượng Bồ Tát. Việc chánh điện chỉ có một pho Thích Ca không phải là chùa còn thiếu hay chưa đủ điều kiện sắm tượng. Đó là quy cách thờ tự của Nam Tông, giữ nguyên từ Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan sang Campuchia. Đến đây mà tìm ban Quan Âm để lễ thì không có, và cái không có ấy nằm trong giáo nghĩa chứ không nằm ở hoàn cảnh ngôi chùa.

Từ Am Lá Bên Kênh Tới Ngôi Chùa Hôm Nay

Chùa bắt đầu từ một mảnh đất trũng ven kênh Nhiêu Lộc, vốn là đất sình lầy chưa ai dùng. Năm 1946, Hòa thượng Lâm Em, một vị sư người Khmer quê Sóc Trăng, chọn chỗ ấy dựng một cái am lợp lá, làm nơi lễ bái cho những người Khmer lên Sài Gòn làm ăn. Từ cái am ấy mà thành ngôi chùa hôm nay, rộng khoảng 4.500 mét vuông.

  • 1946Dựng am lá bên kênh Nhiêu Lộc
    Hòa thượng Lâm Em, người Khmer quê Sóc Trăng, dựng một am lá trên vùng đất trũng ven kênh, lập nên ngôi chùa Nam Tông Khmer đầu tiên của vùng Sài Gòn và Gia Định.
  • 1949Xây chánh điện
    Ngôi chánh điện được xây thay cho am lá, làm theo quy cách chùa Khmer với chánh điện quay về hướng Đông.
  • 1953An vị và khánh thành
    Chánh điện hoàn tất và làm lễ an vị. Mốc này thường được nhắc như năm định hình khu thờ tự chính của chùa.
  • 1967 tới 1969Dựng thêm tăng xá và trường Pali
    Chùa xây thêm các dãy nhà cho chư tăng và mở lớp học kinh điển Pali, chuyển từ một nơi lễ bái thành một cơ sở vừa tu vừa học.
  • Các thập niên sauBảy lần trùng tu
    Theo tư liệu của chùa, công trình đã qua bảy đợt trùng tu lớn nhỏ. Phần trang trí, phù điêu và hệ mái được làm lại nhiều lần theo đúng mẫu thức Khmer.
  • NayTrung tâm của đồng bào Khmer tại thành phố
    Ngoài phần lễ bái, chùa mở lớp dạy chữ Khmer cho con em trong dịp hè và tổ chức các kỳ lễ lớn của người Khmer cho cả cộng đồng đang sinh sống, làm việc và học tập ở thành phố.

Điều đáng ghi trong tám mươi năm ấy là ngôi chùa không bị đô thị hóa cho khác đi. Đất quanh chùa từ bãi sình thành phố xá, nhưng mẫu thức kiến trúc, cách bài trí chánh điện và lịch lễ vẫn giữ theo lối chùa Khmer miền Tây. Một cộng đồng xa quê thường mất dần nếp cũ; ở đây thì ngược lại, chính ngôi chùa giữ nếp ấy lại cho cả cộng đồng.

Chánh Điện Lối Khmer

Chùa Khmer có một quy cách riêng, và Chantarangsay giữ gần đủ: chánh điện là công trình cao nhất và đặt ở chỗ trang trọng nhất, quay mặt về hướng Đông, vì theo truyền thống Nam Tông, Đức Phật ngồi quay mặt hướng Đông khi thành đạo. Quanh chánh điện là sala, tăng xá, tháp đựng tro cốt và sân.

Chánh điện

Toà nhà hai tầng, bốn lối vào, quay về hướng Đông. Hệ mái xếp ba tầng chồng lên nhau, trên đỉnh có ba ngọn tháp nhọn; các nguồn cho biết ba ngọn ấy tượng cho Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng, mỗi ngọn chia tám cấp ứng với Bát Chánh Đạo, chóp trên cùng chỉ Niết Bàn.

Bệ thờ

Bệ xây nhiều cấp, các pho tượng xếp từ thấp lên cao và từ lớn xuống nhỏ, mỗi pho thể hiện một thế ngồi hoặc một chặng trong đời Đức Phật Thích Ca. Chánh điện không đặt tượng Bồ Tát.

Naga và Krut

Hai hình tượng đặc trưng của mỹ thuật Khmer. Naga là rắn thần nhiều đầu, đắp ở đầu mái, lan can và bậc thềm; Krut là chim thần dang cánh, đắp ở diềm mái trong tư thế đỡ lấy mái nhà.

Tranh tường

Tường trong chánh điện vẽ kín các cảnh trong cuộc đời Đức Phật, từ lúc giáng sinh tới khi nhập Niết Bàn. Đây là lối kể chuyện bằng tranh quen thuộc của chùa Khmer, giúp người không đọc được kinh vẫn theo được mạch.

Tháp đựng tro cốt

Các tháp nhỏ trong khuôn viên, nơi gửi tro cốt của phật tử. Trong nếp Khmer, việc gửi tro cốt vào chùa là cách giữ người đã khuất ở gần nơi tu học.

Sala và tăng xá

Sala là nhà hội, nơi cộng đồng tụ họp và làm lễ dâng cúng; tăng xá là nơi ở của chư tăng. Cả khu quét màu vàng, màu quen dùng của chùa Khmer.

Theo sử liệu

Một chỗ cần nói cho rõ vì các nguồn mô tả không giống nhau. Có bài ghi bệ thờ chánh điện xếp năm cấp với nhiều pho tượng, và nhắc tới phù điêu về năm vị Phật của kiếp hiện tại theo quan niệm Nam Tông. Có bài lại nhấn mạnh chùa chỉ thờ duy nhất Đức Phật Thích Ca. Hai cách mô tả này không mâu thuẫn nếu tách bạch hai việc: các pho tượng đặt trên bệ đều là tượng Thích Ca ở những thế khác nhau, còn năm vị Phật của kiếp là một đề tài của phù điêu và tranh tường chứ không phải các ban thờ riêng. Chúng tôi ghi cả hai cách mô tả và nêu chỗ phân biệt, thay vì chọn bừa một cách.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong tư liệu của chùa. Cần nói thêm rằng hướng chánh điện ở đây đã được định sẵn bằng một quy tắc của chính tông phái: chùa Nam Tông đặt chánh điện quay về hướng Đông theo truyền thống về thế ngồi thành đạo của Đức Phật. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là nước. Chùa nằm sát kênh Nhiêu Lộc, và mảnh đất ban đầu vốn là bãi trũng sình lầy. Trong phép xem đất vùng đồng bằng, nơi không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi: dòng chảy dẫn khí, mặt nước tụ khí. Một ngôi chùa dựng kề dòng nước, theo lối đọc cũ, được coi là có thủy tụ ngay trước mặt. Đáng nói là việc chọn đất ở đây không đến từ phép xem đất: đó đơn giản là mảnh đất còn trống, chưa ai dùng, mà một vị sư đi tìm chỗ dựng am có thể xin được. Chỗ tốt theo con mắt phong thủy đôi khi lại là chỗ người khác bỏ qua.

Thứ hai là hướng Đông. Phương Đông trong phép cũ thuộc hành Mộc, ứng với mùa xuân và khí buổi sớm, được coi là phương khởi phát; cửa mở hướng Đông là cửa đón sinh khí đầu ngày. Ở đây hướng ấy không do thầy địa lý chọn mà do quy tắc của tông phái định, nhưng nhìn bằng con mắt cũ thì kết quả trùng nhau. Một lần nữa, hai truyền thống khác gốc gặp nhau vì cùng lấy mặt trời làm chuẩn.

Thứ ba là hình thế công trình. Ba ngọn tháp nhọn vươn lên trên hệ mái xếp tầng, theo lối đọc cũ thuộc dáng Hỏa, tức hình nhọn hướng lên, thường được coi là thế bốc và thế phát. Bên dưới là hệ mái trải rộng nhiều lớp, thuộc dáng Thổ nằm ngang, tức thế vững. Nhọn ở trên mà bè ở dưới thì trong phép cũ gọi là thế có ngọn có gốc, không bị chênh. Xin nhắc lại rằng bố cục mái và tháp này là mẫu thức có sẵn của kiến trúc chùa Khmer, không phải kết quả của một phép chọn hình thể.

Sau cùng là vai trò trong khu phố. Một khu đất tường vàng, cây xanh và sân rộng nằm lọt giữa phố xá chật, theo lối đọc cũ, giữ vai của một chỗ dưỡng khí cho cả vùng quanh nó: nơi mà nhịp đi đứng chậm lại. Người trong khu vực thường cảm thấy điều ấy trước khi nghĩ tới nó, và phép xem đất cổ truyền chỉ đặt tên cho một cảm giác đã có sẵn.

Ba Kỳ Lễ Lớn Của Người Khmer

Lịch lễ ở đây đi theo lịch Khmer và theo lịch nhà Phật Nam Tông, nên không trùng với lịch hội hè quen thuộc của người Kinh. Ba kỳ lớn nhất trong năm là Chôl Chnăm Thmây, Sen ĐôltaOk Om Bok; ngoài ra còn các lễ theo mùa an cư của chư tăng.

Các kỳ lễ chính trong năm, tính theo lịch Khmer và lịch nhà Phật Nam Tông nên không trùng với hội hè theo âm lịch của người Kinh. Nguồn: Tư liệu của cơ quan quản lý công tác tôn giáo và các bài viết chuyên khảo về chùa..
Thời điểmLễNội dung
Khoảng giữa tháng Tư dương lịchChôl Chnăm ThmâyTết năm mới của người Khmer, kéo dài ba ngày. Có lễ rước đại lịch, tắm tượng Phật, đắp núi cát và dâng cơm lên chư tăng. Đây là kỳ đông người nhất trong năm của chùa.
Rằm tháng Tư theo lịch PhậtLễ Visakha BocheaLễ tưởng niệm ba sự kiện lớn trong đời Đức Phật: đản sinh, thành đạo và nhập Niết Bàn, theo quan niệm Nam Tông đều rơi vào cùng một ngày rằm.
Ba tháng mùa mưaNhập hạ và xuất hạMùa an cư của chư tăng, các vị ở yên trong chùa tu học, không đi xa. Kết thúc bằng lễ xuất hạ.
Cuối tháng Tám tới đầu tháng Chín âm lịch KhmerSen ĐôltaLễ cúng ông bà, tưởng nhớ tổ tiên và những người đã khuất. Phật tử mang cơm và vật phẩm tới chùa dâng cúng, nhờ chư tăng tụng kinh hồi hướng.
Sau mùa an cưLễ dâng y KathinaLễ dâng y cà sa lên chư tăng sau ba tháng an cư, một trong những dịp dâng cúng trọng nhất của truyền thống Nam Tông.
Rằm tháng Mười theo lịch KhmerOk Om BokLễ cúng trăng, tạ ơn mặt trăng đã cho mùa màng. Có nghi thức đút cốm dẹp và dâng lễ vật dưới trăng rằm.

Ngoài phần lễ, chùa giữ hai việc thuộc nếp chung của chùa Khmer: tụng kinh Pali trong các thời khóa, và dạy chữ Khmer cho con em trong dịp hè. Với một cộng đồng sống xa quê gốc, hai việc ấy quan trọng không kém phần lễ bái, vì chữ và tiếng là thứ mất trước tiên khi người ta rời làng.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 164 đường Trần Quốc Thảo, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Chùa nằm ở số 164 đường Trần Quốc Thảo, phường Xuân Hòa, sát bờ kênh Nhiêu Lộc, cách khu vực Hồ Con Rùa chừng một cây số. Lối vào nằm trong hẻm nối ra bờ kênh.
Toạ độ
10.7856, 106.6839
Khi tới nơi

Đây là nơi tu học đang hoạt động, nên lệ của chính nơi ấy là lệ phải theo. Bỏ giày trước khi lên chánh điện, ăn mặc kín vai kín gối. Trong chánh điện nên ngồi xếp chân sang một bên, không duỗi chân về phía tượng Phật. Khi dâng vật phẩm cho chư tăng thì đặt xuống trước mặt hoặc đưa qua một tấm khăn, nữ giới không chạm tay vào sư. Chư tăng Nam Tông không thọ thực sau giữa trưa, nên việc dâng cơm sắp vào buổi sáng.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Chantarangsay thờ ai

Chánh điện chỉ thờ Đức Phật Thích Ca. Các pho tượng trên bệ đều là tượng Thích Ca ở những thế ngồi khác nhau, ứng với các chặng trong cuộc đời Ngài. Theo quy cách thờ tự của Phật Giáo Nam Tông, chùa không đặt tượng các vị Bồ Tát như Quán Thế Âm hay Địa Tạng, cũng không có ban thờ Mẫu.

Phật Giáo Nam Tông Khmer khác Bắc Tông ở chỗ nào

Khác ở năm chỗ chính. Nam Tông giữ Tam tạng Pali, chỉ thờ Phật Thích Ca, tỳ khưu giữ hai trăm hai mươi bảy giới, đi khất thực và không thọ thực sau giữa trưa, y vàng cam quấn hở vai phải, tụng kinh bằng tiếng Pali. Bắc Tông của người Kinh thờ nhiều vị, giữ lệ ăn chay trường, mặc áo tràng có tay và tụng theo âm Hán Việt.

Vì sao sư chùa Khmer không ăn chay trường

Vì luật Pali mà Nam Tông giữ không đặt ra giới ăn chay trường. Điều luật đặt ra là đi khất thực thì nhận gì dùng nấy, không kén chọn, và không dùng thịt con vật bị giết riêng cho mình, gọi là phép tam tịnh nhục. Lệ ăn chay trường là nếp riêng của Phật Giáo Bắc Tông vùng Đông Á.

Chùa Chantarangsay dựng năm nào

Năm 1946, do Hòa thượng Lâm Em, một vị sư người Khmer quê Sóc Trăng, dựng ban đầu chỉ là một am lá trên vùng đất trũng ven kênh Nhiêu Lộc. Chánh điện xây năm 1949 và làm lễ an vị năm 1953. Đây là ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông Khmer đầu tiên trên đất Sài Gòn và Gia Định.

Chôl Chnăm Thmây, Sen Đôlta và Ok Om Bok là lễ gì

Chôl Chnăm Thmây là Tết năm mới của người Khmer, vào khoảng giữa tháng Tư dương lịch, kéo dài ba ngày, có lễ tắm tượng Phật và đắp núi cát. Sen Đôlta là lễ cúng ông bà, tưởng nhớ tổ tiên. Ok Om Bok là lễ cúng trăng, tạ ơn mặt trăng cho mùa màng, có nghi thức đút cốm dẹp.

Đọc Tiếp