VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thánh đường Jamia Al Musulman

· Thánh đường Hồi giáo đường Đông Du, Chùa Ấn Giáo Hồi

Thánh đường Islam lớn nhất ở trung tâm Sài Gòn, do cộng đồng người Nam Á dựng, nay là nơi lễ của người Chăm Islam và tín đồ nhiều quốc tịch.

Dựng
1935
do cộng đồng người Ấn theo Islam dựng
Khuôn viên
Khoảng 2.000 m2
theo tư liệu báo chí
Lễ trọng trong tuần
Thứ Sáu
lễ Jumu'ah, buổi lễ đông nhất trong tuần

Giữa một dãy khách sạn và nhà hàng trên đường Đông Du, quý vị gặp một cổng vòm nhọn mở vào khoảng sân lát gạch. Sân yên hơn hẳn mặt phố. Bên trái là một bể nước dài với hàng vòi, chỗ những người đàn ông rửa tay, rửa mặt và rửa chân trước khi vào. Trước mặt là toà nhà quét vôi sáng, mấy vòm nhỏ hình búp sen trên mái, một khối tháp vuông vươn lên, và trên đỉnh là hình trăng lưỡi liềm với ngôi sao năm cánh.

Bước lên bậc, giày để lại ngoài. Trong gian hành lễ không có bàn thờ, không có tượng, không có ảnh người. Chỉ có nền trải thảm và một hốc tường lõm vào ở bức tường phía tây, gọi là mihrab. Hốc tường ấy là chi tiết định hướng cho cả công trình: nó chỉ về Mecca. Người tới lễ quay mặt về phía đó, và toà nhà được xoay để phục vụ đúng một việc ấy.

Masjid Và Ý Nghĩa Của Chữ Jamia

Tên nơi này nói rõ chức năng của nó. Masjid, tiếng Việt quen gọi là thánh đường, nghĩa gốc là chỗ phủ phục, tức nơi người ta cúi mình lễ nguyện. Chữ Jamia chỉ loại thánh đường lớn có tổ chức lễ tập thể ngày thứ Sáu, khác với các tiểu thánh đường chỉ dùng cho lễ nguyện thường ngày. Ghép lại, cái tên cho biết đây là thánh đường trung tâm của một cộng đồng chứ không phải một phòng lễ nhỏ trong khu dân cư.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Islam, nền tảng là tawhid, tức niềm tin vào một Đấng duy nhất, không hình tướng và không thể vẽ ra. Vì vậy trong thánh đường không có tượng, không có tranh vẽ người hay vật, không có ban thờ và không có vật được dâng lễ. Trang trí chỉ gồm chữ viết Arab trích từ kinh Qur'an và hoa văn hình học. Tín đồ lễ nguyện năm lần một ngày, quay mặt về hướng Mecca, và trước mỗi lần phải làm phép tẩy trần bằng nước. Người dẫn lễ gọi là imam, nhưng imam không phải chức sắc thụ phong theo lối tu sĩ; đó là người có đủ hiểu biết để đứng trước dẫn cả hàng cùng lễ.

Theo sử liệu

Ở nước ta, chữ Hồi Giáo được dùng chung cho hai dòng có thực tiễn khác nhau, cần phân biệt rõ.

Islam chính thống, mà thánh đường này thuộc về, giữ đủ các cột trụ của đạo: tuyên xưng đức tin, lễ nguyện năm lần mỗi ngày, nhịn chay trọn tháng Ramadan, bố thí và hành hương Mecca nếu đủ sức. Thánh đường mở cửa quanh năm, lễ thứ Sáu là buổi tập trung của cả cộng đồng. Ở Việt Nam, dòng này là của cộng đồng Chăm Islam vùng Châu Đốc, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh, cùng cộng đồng người Malay và người nước ngoài.

Hồi Giáo Bàni của người Chăm ở vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ là một dòng hình thành tại chỗ, đã hoà với tín ngưỡng bản địa, với phong tục Chăm và với lớp Bàlamôn có trước. Theo các nghiên cứu, Bàni có tầng tu sĩ riêng gọi là Acar, và chính tầng này thay mặt cộng đồng làm nghĩa vụ tôn giáo, nên tín đồ thường không giữ năm cột trụ theo lối Islam chính thống. Tháng Ramưwan của Bàni là mùa tu của các Acar với nghi thức dâng lễ, chứ không phải tháng cả cộng đồng nhịn chay. Thánh đường Bàni mở vào tháng Ramưwan và các dịp lễ lớn chứ không dùng cho lễ nguyện hằng ngày. Việc hành hương Mecca không đặt ra.

Hai dòng cùng nhận một gốc và cùng mang tên Hồi Giáo, nhưng nếp sinh hoạt khác nhau đến mức không thể mô tả chung. Thư viện ghi lại chỗ khác nhau ấy như một dữ kiện, không xếp bên nào đúng hơn bên nào.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nằm ở tên gọi dân gian. Nơi này từng được gọi là chùa Ấn Giáo Hồi, một cái tên gộp ba thứ vốn tách bạch. Đây không phải chùa, vì chùa là cơ sở thờ tự của Phật Giáo. Đây cũng không dính gì tới Ấn Độ Giáo: những người Ấn Độ dựng nên thánh đường này theo Islam, còn ngôi đền Ấn Độ Giáo của người Tamil ở Sài Gòn là một nơi khác, thờ nữ thần Mariamman. Hai cộng đồng cùng đến từ tiểu lục địa Ấn Độ nhưng theo hai tôn giáo khác hẳn nhau, và lối gọi gộp làm mờ mất điều đó.

Từ Cộng Đồng Nam Á Tới Cộng Đồng Chăm

Islam vào dải đất này sớm hơn nhiều người tưởng. Các nghiên cứu đặt sự có mặt đầu tiên vào khoảng thế kỷ 8 tới thế kỷ 10, ở vương quốc Champa, theo đường biển cùng với thương nhân Arab và Ba Tư. Nhưng ngôi thánh đường ở đường Đông Du thì thuộc một lớp muộn hơn hẳn và một dòng người khác hẳn: các thương nhân, chủ hiệu và người làm công từ tiểu lục địa Ấn Độ tới Sài Gòn trong nửa sau thế kỷ 19.

  • Thế kỷ 8 tới 10Islam có mặt ở Champa
    Lớp tiếp xúc sớm nhất, theo đường biển cùng thương nhân Arab và Ba Tư. Đây là gốc xa của cộng đồng Hồi Giáo người Chăm về sau.
  • Nửa sau thế kỷ 19Người Nam Á theo Islam tới Sài Gòn
    Thương nhân và người làm công từ tiểu lục địa Ấn Độ tới theo các tuyến hàng hải, lập nên một cộng đồng Islam ở khu trung tâm.
  • 1885Một thánh đường sớm ở khu trung tâm
    Theo tư liệu về lịch sử cộng đồng Islam tại thành phố, một thánh đường gắn với nhóm người Malay được lập ở khu vực đường Mac Mahon cũ, tức trước khi thánh đường Đông Du ra đời.
  • 1935Dựng thánh đường Jamia Al Musulman
    Cộng đồng người Ấn theo Islam góp tiền dựng thánh đường tại số 66 đường Đông Du, trên khuôn viên khoảng 2.000 mét vuông. Đây là ngôi thánh đường lớn nhất trong các thánh đường của thành phố.
  • 1936Số liệu về cộng đồng Chăm Islam
    Tư liệu năm này ước tính khoảng 6.000 người Chăm Islam ở vùng Châu Đốc và khoảng 1.000 người ở Tây Ninh. Đây là hai nguồn dân cư chính sau này chuyển vào thành phố.
  • Giữa thế kỷ 20 trở điCộng đồng Chăm Islam về thành phố
    Người Chăm Islam từ Châu Đốc và Tây Ninh dần chuyển cư vào Sài Gòn làm ăn. Thánh đường chuyển vai: từ nơi lễ của một cộng đồng ngoại kiều thành nơi lễ của cộng đồng Chăm Islam tại chỗ.
  • NayThánh đường của nhiều quốc tịch
    Ngoài người Chăm Islam còn có tín đồ người Malaysia, Indonesia, Ấn Độ và các nước Arab đang ở thành phố. Theo người trong cộng đồng, kiến trúc công trình gần như không đổi suốt nhiều chục năm.

Điểm đáng ghi của gần một trăm năm ấy là lớp người thay nhau mà ngôi nhà không đổi. Cộng đồng dựng ra thánh đường thưa dần, người Chăm Islam vào thay chỗ, rồi thêm lớp tín đồ nước ngoài tới làm việc. Ba lớp người khác tiếng nói, nhưng cùng một nghi thức và cùng quay về một hướng, nên việc nối tiếp không đứt đoạn.

Mihrab, Minaret Và Bể Nước

Công trình mang lối Islam Nam Á: vòm hình búp sen, cửa và cửa sổ vòm nhọn, tường ốp gạch men trắng, ô kính màu hình học, không có bức nào vẽ người hay vật. Bố cục rất gọn, vì một thánh đường chỉ cần đủ ba thứ: chỗ tẩy trần, chỗ tập hợp cả hàng cùng lễ, và một dấu chỉ hướng.

Mihrab

Hốc tường lõm ở bức tường hướng về Mecca, đặt đúng trục của gian hành lễ. Mihrab không phải ban thờ và không có vật thờ; nó chỉ làm một việc là chỉ hướng qibla cho cả hàng người đứng lễ.

Mimbar

Bục giảng có bậc, đặt cạnh mihrab, dùng cho bài thuyết giảng trong lễ thứ Sáu. Đây là chỗ duy nhất trong thánh đường có tính chất một vị trí cao hơn mặt bằng chung.

Minaret

Khối tháp vuông vươn lên trên mái, theo truyền thống là chỗ xướng lời gọi lễ cho cả khu phố nghe. Trên đỉnh là hình trăng lưỡi liềm và ngôi sao năm cánh.

Bể nước tẩy trần

Bể dài có hàng vòi đặt ngay lối vào, dùng cho phép rửa trước khi lễ, tiếng Arab gọi là wudu: rửa tay, súc miệng, rửa mặt, rửa cánh tay, xoa đầu rồi rửa chân theo thứ tự. Không làm phép này thì không vào hàng lễ.

Gian hành lễ

Nền trải thảm, không ghế, không bàn. Khu chính dành cho nam giới, nữ giới lễ ở phần hành lang bên. Trên tường treo các đồng hồ ghi giờ của năm lần lễ nguyện, thay đổi theo mùa nên phải chỉnh thường xuyên.

Hoa văn và chữ viết

Trang trí chỉ dùng hoa văn hình học, hoa lá cách điệu và thư pháp Arab trích kinh Qur'an. Hành lang có treo bức tranh về khu thánh địa ở Mecca, thứ gần nhất với hình ảnh mà thánh đường cho phép.

Một điều dễ nhận ra với người quen đi đình chùa: ở đây không có trục dọc nhiều lớp. Đình chùa Việt dẫn người ta đi qua tam quan, sân, tiền đường rồi mới tới hậu cung, mỗi bước một lớp kín hơn. Thánh đường thì mở: qua sân, rửa nước, vào một gian rộng duy nhất, và trong gian ấy mọi người đứng thành hàng ngang bằng vai nhau. Kiến trúc ở đây phục vụ cho việc xếp hàng chứ không phục vụ cho việc đi sâu vào trong.

Thế Đất Và Hướng

Phần này cần rào trước cho rõ. Islam không dạy phong thủy. Hướng của một thánh đường được định bằng một quy tắc duy nhất và tuyệt đối: hướng qibla, tức hướng về Ngôi Đền Kaaba ở Mecca, tính theo đường ngắn nhất trên mặt cầu Trái Đất. Từ Sài Gòn, hướng ấy rơi về phía tây chếch lên bắc. Không có la bàn phong thủy, không có tuổi gia chủ, không có cung mệnh nào tham gia vào việc chọn hướng ấy.

Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra để bạn đọc quen lối ấy có chỗ đối chiếu. Nó không phải điều chép trong tư liệu của thánh đường, cũng không phải điều những người dựng công trình này tính tới.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất là chính cái nguyên tắc một hướng. Phong thủy cổ truyền định hướng nhà theo thế đất, theo dòng nước, theo tuổi người ở, nên mỗi công trình một hướng khác nhau. Islam làm ngược lại: mọi thánh đường trên khắp mặt đất đều quay về cùng một điểm, và vì thế hướng của công trình không phụ thuộc vào mảnh đất nó đứng. Đọc bằng con mắt cũ thì đây là một hệ lấy tâm ngoài, điểm quy chiếu nằm ngoài khu đất và cách xa hàng nghìn dặm. Phép cổ truyền không có khái niệm nào tương đương, và chúng tôi nêu ra để quý vị thấy rõ giới hạn của việc đối chiếu.

Về thế đất, thánh đường nằm giữa một khu phố buôn bán đông đúc, lọt vào giữa các khối nhà cao hơn nó. Theo lối đọc cũ, một khu đất bị vây bốn bề mà bên trong vẫn giữ được sự tĩnh thì thuộc thế tàng phong tụ khí. Khoảng sân lát gạch phía trước làm nhiệm vụ của một minh đường: chỗ đất bằng để người và khí dừng lại trước khi vào. Bể nước đặt ngay bên sân, theo lối cổ truyền, nước là thứ tụ khí; ở đây bể nước có mặt vì phép tẩy trần của đạo, còn việc nó trùng với một nguyên tắc phong thủy chỉ là trùng hợp.

Về hình thể, khối tháp minaret vươn cao hơn mái nhà chung, theo lối đọc cũ thuộc dáng Mộc đứng, tức thế vươn lên làm mốc cho cả khu; còn các vòm tròn hình búp sen trên mái thì dáng cong tròn, thuộc Kim trong ngũ hành hình thể. Hai dáng ấy cùng nhau thành một khối vừa có chiều cao vừa có chiều ôm, mà con mắt cũ coi là thế cân. Xin nhắc lại rằng vòm và tháp là quy ước lâu đời của kiến trúc Islam.

Cuối cùng là hướng tây theo con mắt cổ truyền. Trong phép cũ, phương Tây thuộc hành Kim, ứng với mùa thu và với sự thu liễm. Nhà ở Việt Nam ít khi chuộng hướng tây vì nắng chiều gắt. Ở đây hướng ấy được chọn không vì khí hậu mà vì Mecca nằm về phía đó, và gian hành lễ phải xoay theo. Đó là một ví dụ rõ về việc một nguyên tắc tôn giáo đứng trên mọi tính toán về thế đất, và chúng tôi ghi nhận đúng như vậy.

Lễ Trong Tuần Và Lễ Trong Năm

Nhịp của thánh đường chia làm ba lớp: lễ nguyện năm lần mỗi ngày, lễ tập thể ngày thứ Sáu, và các kỳ lễ trong năm tính theo lịch Hijri, tức lịch mặt trăng của Islam. Lịch này ngắn hơn năm dương lịch chừng mười một ngày, nên các kỳ lễ dịch dần qua các mùa chứ không đứng yên một chỗ như hội hè theo âm lịch Việt Nam.

Các mốc tính theo lịch Hijri, không theo âm lịch Việt Nam, nên mỗi năm rơi vào một khoảng dương lịch khác nhau. Nguồn: Tư liệu về sinh hoạt của cộng đồng Islam tại Thành phố Hồ Chí Minh và các bài viết về thánh đường Đông Du..
Thời điểmLễNội dung
Mỗi ngàyNăm lần lễ nguyệnNăm buổi lễ nguyện chia theo vị trí mặt trời trong ngày. Trước mỗi buổi phải làm phép tẩy trần bằng nước tại bể trước sân.
Thứ Sáu hằng tuầnLễ Jumu'ahLễ tập thể trọng nhất trong tuần, có bài thuyết giảng đọc từ mimbar rồi cả hàng cùng lễ. Đây là buổi đông người nhất và là lý do thánh đường mang chữ Jamia.
Tháng RamadanTháng nhịn chayTháng thứ chín của lịch Hijri. Tín đồ nhịn ăn uống từ lúc rạng đông tới lúc mặt trời lặn, buổi tối tụ về thánh đường dùng bữa xả chay và lễ nguyện thêm.
Mùng 1 tháng ShawwalEid al FitrLễ mừng kết thúc tháng nhịn chay, người Chăm Islam quen gọi là Roya Idil Fitri. Cả cộng đồng tới thánh đường lễ nguyện và thăm hỏi nhau.
Mùng 10 tháng Dhul HijjahEid al AdhaLễ hiến sinh, trùng dịp hành hương Mecca, người Chăm Islam quen gọi là Roya Haji. Có nghi thức xẻ thịt gia súc chia cho người trong cộng đồng và người thiếu thốn.

Ngoài phần lễ, thánh đường giữ hai việc thuộc nếp chung của một masjid: dạy kinh Qur'an cho con em trong cộng đồng, và tổ chức phần bố thí, gồm khoản bắt buộc hằng năm gọi là zakat và khoản tự nguyện gọi là sadaqah. Hai việc ấy khiến thánh đường không chỉ là chỗ lễ mà còn là chỗ cộng đồng thu xếp việc chung.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 66 đường Đông Du, phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Thánh đường nằm ở số 66 đường Đông Du, phường Sài Gòn, cách khu vực nhà hát thành phố và bến Bạch Đằng vài phút đi bộ. Các phố quanh đây đều nhỏ, phần lớn khách tới đi bộ.
Toạ độ
10.7761, 106.7028
Khi tới nơi

Đây là nơi hành lễ đang hoạt động, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Bỏ giày trước khi vào gian lễ, ăn mặc kín: nam quần dài áo có tay, nữ trùm khăn và kín tay chân. Khu hành lễ chính dành cho nam giới, nữ giới lễ ở phần hành lang. Không đi cắt ngang trước mặt người đang lễ nguyện, không nói to, không chụp ảnh người đang hành lễ, không mang đồ ăn thức uống vào gian lễ. Lễ thứ Sáu là lúc đông nhất, khách xem kiến trúc xin đợi lễ xong.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Thánh đường Jamia Al Musulman xây năm nào

Dựng năm 1935 do cộng đồng người Ấn Độ theo Islam ở Sài Gòn góp tiền, trên khuôn viên khoảng 2.000 mét vuông tại số 66 đường Đông Du. Đây là ngôi thánh đường lớn nhất trong số các thánh đường của thành phố, và theo người trong cộng đồng thì kiến trúc gần như không đổi suốt nhiều chục năm.

Hồi Giáo Bàni khác Islam chính thống ở chỗ nào

Islam chính thống giữ đủ các cột trụ: lễ nguyện năm lần mỗi ngày, nhịn chay trọn tháng Ramadan, bố thí và hành hương Mecca. Bàni của người Chăm vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ có tầng tu sĩ Acar thay mặt cộng đồng làm nghĩa vụ tôn giáo, tháng Ramưwan là mùa tu của Acar, thánh đường mở theo dịp lễ chứ không dùng cho lễ nguyện hằng ngày, và không đặt ra việc hành hương.

Ai hành lễ ở thánh đường Đông Du

Ban đầu là cộng đồng người Ấn Độ theo Islam. Về sau người Chăm Islam từ vùng Châu Đốc và Tây Ninh chuyển cư vào thành phố và trở thành lớp tín đồ chính. Ngày nay còn có tín đồ người Malaysia, Indonesia, Ấn Độ và các nước Arab đang sinh sống hoặc làm việc tại thành phố.

Mihrab trong thánh đường là gì

Là hốc tường lõm đặt ở bức tường hướng về Mecca, làm dấu chỉ hướng qibla cho cả hàng người đứng lễ. Mihrab không phải ban thờ, không đặt tượng và không nhận đồ dâng. Cạnh mihrab thường có mimbar, tức bục giảng có bậc, dùng cho bài thuyết giảng trong lễ thứ Sáu.

Người ngoài đạo vào thánh đường được không

Được, nếu giữ đúng lệ của nơi ấy: bỏ giày, ăn mặc kín, nữ trùm khăn, không đi cắt ngang trước mặt người đang lễ nguyện và không chụp ảnh người đang hành lễ. Khu hành lễ chính dành cho nam giới, nữ giới lễ ở hành lang. Ngày thứ Sáu là buổi đông nhất, khách tới xem kiến trúc nên đợi cho tới khi lễ xong.

Đọc Tiếp