VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Ngọc Hoàng

玉皇殿 · Phước Hải Tự, Điện Ngọc Hoàng

Điện thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế do người Hoa Quảng Đông dựng, nơi giữ được lối bài trí của một điện Đạo Giáo rõ nét vào bậc nhất còn lại ở phương Nam.

Khởi dựng
1892
các nguồn ghi khác nhau, xem phần lịch sử
Tượng thờ
khoảng 300 pho
gỗ và giấy bồi, chừng một trăm pho bằng giấy bồi
Xếp hạng
Di tích quốc gia
di tích kiến trúc nghệ thuật, năm 1994

Rẽ từ đường Điện Biên Phủ vào con dốc Mai Thị Lựu, quý vị gặp một bức tường vàng cũ, một cổng thấp và hai hồ nước nuôi rùa nằm ngay trong sân. Trên nóc là dãy tượng gốm nhỏ tô men và cặp rồng chầu, dưới mái là những vòng nhang lớn treo lơ lửng thả khói xuống. Người quanh vùng gọi nơi này là chùa Ngọc Hoàng, và cái tên quen ấy giấu đi phần lớn những gì đang bày bên trong.

Tên chữ khắc ở đây là Ngọc Hoàng Điện. Chữ điện là chữ dùng cho nơi thờ thần, không phải chữ dùng cho chùa thờ Phật. Vị ngồi giữa chánh điện là Ngọc Hoàng Thượng Đế, bậc cao nhất trong hệ thần linh Đạo Giáo, và người dựng nên nơi này là một người Hoa gốc Quảng Đông. Hiểu hai điều ấy thì hiểu vì sao bước vào một nơi gọi là chùa mà lại thấy Thập Điện Diêm Vương, Thanh Long, Phục Hổ và cả một điện dành riêng cho việc cầu con.

Chùa Ngọc Hoàng
Chùa Ngọc Hoàng. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Vị Thần Được Thờ

Ngọc Hoàng Thượng Đế là danh hiệu chỉ vị đứng đầu hệ thần linh trong Đạo Giáo. Chữ ngọc chỉ sự trong sạch không tì vết, chữ hoàng chỉ ngôi vị đế vương; gộp lại, danh hiệu ấy nói rằng đây là vị vua của cả cõi trời. Pho tượng chính đặt giữa chánh điện, cao khoảng ba mét, đội mũ miện, râu dài, hai bên có các vị thị tòng đứng chầu. Đó là cách bài trí quen của một điện Ngọc Hoàng, và cũng là lý do khiến người ta lấy tên vị thần đặt luôn cho cả nơi thờ.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Đạo Giáo, cõi trời được hình dung như một triều đình: có vua, có quan văn quan võ, có ty sở coi từng việc, có sổ sách ghi công tội của người dưới trần. Ngọc Hoàng ngồi ở ngôi cao nhất, dưới có Thanh Long và Phục Hổ hộ pháp hai bên, có Thập Điện Diêm Vương xử việc dưới âm phủ. Cách hình dung này giải thích vì sao một điện Ngọc Hoàng bao giờ cũng đông tượng: mỗi pho là một chức phận trong bộ máy ấy.

Cần nói thêm một lớp nữa. Cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ thờ Ngọc Hoàng không theo một dòng Đạo Giáo tu luyện thuần túy, mà theo lối tín ngưỡng dân gian Hoa pha Đạo Giáo, trong đó thần linh Đạo Giáo, Phật và Bồ Tát, cùng các bậc được tôn thờ theo lệ dân gian cùng có mặt trong một khuôn viên. Đây không phải sự lẫn lộn mà là một nếp thờ tự riêng, hình thành lâu đời trong các cộng đồng Hoa kiều ở Đông Nam Á.

Theo sử liệu

Về mặt khảo được, nơi này do một người Hoa gốc Quảng Đông tên là Lưu Minh, pháp danh Đạo Nguyên, đứng ra dựng vào cuối thế kỷ 19. Các bản khảo cứu văn hóa đều xếp ông vào Minh Sư đạo, một chi phái tôn giáo của người Hoa du nhập vào Nam Bộ trong thế kỷ 19, lấy nền là Đạo Giáo và pha thêm giáo lý Phật Giáo và Nho Giáo. Nơi thờ của phái này thường mang tên đường, điện hoặc Phật đường, và một tên khác từng dùng cho nơi này là Long Hoa Phật Đường.

Năm 1982, cơ sở chuyển sang sinh hoạt theo hệ Phật Giáo, do hòa thượng Thích Vĩnh Khương trụ trì, rồi năm 1984 mang tên Phước Hải Tự. Từ đó nơi này có hai tên cùng tồn tại, còn người dân thì hầu như chỉ dùng tên gọi dân gian chùa Ngọc Hoàng.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất ở đây là tưởng đây là một ngôi chùa Phật. Nhầm lẫn có lý do: tên gọi dân gian có chữ chùa, tên hiện nay là Phước Hải Tự, và trong khuôn viên quả có ban thờ Phật cùng ban thờ Quan Âm. Nhưng gốc của công trình là một điện thờ thần theo lối Đạo Giáo của người Hoa, và bài trí bên trong vẫn nói ra điều đó: vị ngồi giữa chánh điện là Ngọc Hoàng chứ không phải Phật, hai bên là Thanh Long và Phục Hổ chứ không phải Hộ Pháp của chùa Việt, dãy bên trái là Thập Điện Diêm Vương, đề tài mà chùa Bắc Tông của người Kinh hiếm khi dựng thành một điện riêng.

Chỗ hiểu lầm thứ hai là xếp nơi này vào Đạo Giáo của người Kinh. Hai lối thờ có chung nhiều tên thần nhưng khác nhau ở nếp thực hành và ở cộng đồng đứng sau. Gọi cho đúng thì đây là cơ sở thờ tự của tín ngưỡng dân gian Hoa pha Đạo Giáo, xuất phát từ Minh Sư đạo, chứ không phải một đạo quán của người Kinh như đền Quán Thánh ngoài Bắc.

Từ Ngọc Hoàng Điện Đến Phước Hải Tự

Lịch sử của nơi này ngắn hơn nhiều di tích khác trong thư viện, chỉ hơn một thế kỷ, nhưng lại rắc rối ở chỗ mốc khởi dựng. Bốn con số khác nhau cùng được các nguồn nhắc tới, và không nguồn nào dẫn được một văn bản dứt điểm.

  • 1892Khởi dựng Ngọc Hoàng Điện
    Theo mốc nhiều bản tin và bảng dữ liệu của thư viện dùng, ông Lưu Minh khởi công dựng điện ở Đa Kao, trên nền một ngôi miếu cũ bên gốc đa lớn.
  • 1900Niên đại ghi trên hoành phi
    Một khảo cứu văn hóa dẫn dòng chữ Quang Tự nhị thập lục niên Canh Tý trong điện, tức năm 1900, và lấy đó làm mốc hoàn thành.
  • Khoảng 1906Mốc theo Vương Hồng Sển
    Vương Hồng Sển đặt việc dựng điện vào khoảng các năm 1905 và 1906. Một số bản kể khác ghi công trình làm mười sáu năm kể từ 1892, tức xong khoảng năm 1908.
  • Thế kỷ 20Các đợt trùng tu
    Tư liệu tại cơ sở ghi các lần sửa chữa vào những năm 1943, 1958, 1985 và 1986, giữ nguyên bố cục cũ, chủ yếu chống xuống cấp phần mái, khung gỗ và lớp tượng.
  • 1982Chuyển sang sinh hoạt theo hệ Phật Giáo
    Cơ sở chuyển sang sinh hoạt theo hệ Phật Giáo, do hòa thượng Thích Vĩnh Khương trụ trì. Lớp thờ tự Đạo Giáo cũ vẫn giữ nguyên tại chỗ.
  • 1984Mang tên Phước Hải Tự
    Tên chữ Phước Hải Tự dùng từ năm này. Tên cũ Ngọc Hoàng Điện vẫn còn trên các bức hoành và trong cách gọi của người dân.
  • 1994Di tích quốc gia
    Xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Giá trị được nêu nằm ở bộ tượng thờ và hệ chạm khắc gỗ, không ở niên đại lâu đời.
Theo sử liệu

Xin nói thẳng chỗ các nguồn ghi khác nhau thay vì chọn bừa một con số. Về năm khởi dựng, có bốn mốc cùng lưu hành: năm 1892 theo phần lớn bản tin và theo bảng dữ liệu của thư viện; năm 1896 theo một trang tư liệu Phật Giáo; năm 1900 theo dòng chữ Quang Tự nhị thập lục niên mà một khảo cứu văn hóa dẫn ra; và khoảng các năm 1905 tới 1906 theo Vương Hồng Sển.

Điều các nguồn thống nhất là ba việc: người dựng là ông Lưu Minh gốc Quảng Đông, thời điểm nằm trong khoảng hai chục năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, và nơi này ngay từ đầu đã là một điện thờ Ngọc Hoàng chứ không phải một ngôi chùa Phật rồi mới đổi công năng.

Bố Cục Và Bộ Tượng

Khuôn viên rộng khoảng hai nghìn ba trăm mét vuông, tường gạch, mái lợp ngói âm dương, bờ nóc đắp tượng gốm nhỏ tô men nhiều màu theo lối trang trí quen của công trình người Hoa Nam Bộ. Trong sân có hai hồ nước, một hồ nuôi rùa và một hồ thả cá. Bố cục chung chia làm ba khối nằm cạnh nhau chứ không xếp thành một trục dọc dài như đền miếu Bắc Bộ.

Khối giữa: tiền điện, trung điện, chánh điện

Tiền điện đặt ban Thổ Địa và Môn Quan, các vị coi đất và coi cửa. Trung điện có Thanh Long và Phục Hổ hai bên. Chánh điện đặt pho Ngọc Hoàng cao khoảng ba mét.

Khối bên trái: điện Thập Điện Diêm Vương

Thờ mười vị vua coi mười cửa ngục dưới âm phủ, tường hai bên gắn mười bức phù điêu gỗ chạm cảnh xử án ở từng cửa ngục.

Khối bên phải: điện Kim Hoa Thánh Mẫu

Thờ Kim Hoa Thánh Mẫu, nữ thần coi việc sinh nở trong tín ngưỡng người Hoa, cùng các bà mụ. Khối này cũng gồm khu nhà ở và các ban thờ Phật.

Bộ tượng gỗ và giấy bồi

Khoảng ba trăm pho, trong đó chừng một trăm pho làm bằng giấy bồi trên cốt tre rồi thếp vàng, kỹ thuật hiếm gặp ở các cơ sở thờ tự khác tại Việt Nam. Số còn lại tạc gỗ.

Hoành phi và liễn đối

Một khảo cứu đếm được mười sáu bức hoành phi và năm mươi ba đôi liễn đối chữ Hán, phản ánh lối nghĩ ba đạo cùng một nguồn của người dựng điện.

Mười bức phù điêu Thập Điện

Đây là phần đáng đứng lâu nhất. Mười bức chạm gỗ gắn dọc hai bên tường, mỗi bức ứng với một cửa ngục và một vị Diêm Vương, mô tả cảnh hồn người bị dẫn tới trước án, bị tra xét sổ sách, rồi chịu hình phạt tương ứng với việc đã làm khi sống.

Về giáo nghĩa, đây là cách Đạo Giáo dân gian hình dung phần thưởng phạt sau khi chết: âm phủ tổ chức thành mười ty sở, mỗi ty xét một loại tội. Về mỹ thuật, đây là một trong những bộ chạm gỗ đề tài Thập Điện còn tương đối đủ ở Nam Bộ, và chính bộ chạm này cùng bộ tượng làm nên căn cứ cho việc xếp hạng di tích.

Điện Kim Hoa Thánh Mẫu và tục cầu tự

Kim Hoa Thánh Mẫu, người Hoa gọi là Kim Hoa nương nương, là vị nữ thần coi việc sinh nở và trông nom trẻ nhỏ trong tín ngưỡng dân gian Hoa. Bà cũng được thờ ở nhiều hội quán người Hoa khác tại Chợ Lớn, thường đặt ở một ban bên cạnh vị thần chính. Ở đây bà có hẳn một điện riêng, cùng các bà mụ, mỗi bà bồng một đứa trẻ, xếp thành dãy quanh ban thờ.

Tục cầu tự, tức cầu xin có con, là lệ gắn liền với điện này và là lý do khiến nơi đây đông người quanh năm chứ không chỉ đông vào dịp lễ. Nếp thường thấy là lễ ở ban Kim Hoa Thánh Mẫu, khấn nguyện, rồi buộc một sợi chỉ đỏ hoặc treo tấm thẻ ghi tên vào chỗ người trông coi điện chỉ. Chúng tôi ghi lại như một nếp thực hành đang tồn tại, không bàn tới hiệu nghiệm.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất là chỗ đặt điện. Theo tư liệu, ông Lưu Minh không chọn một khoảnh đất trống mà dựng điện trên nền một ngôi miếu cũ ở Đa Kao, bên cạnh một gốc đa lớn. Trong lối nghĩ cổ truyền, đất đã từng có người thờ cúng thì đã có nền, và dựng lên trên nền cũ là cách nối tiếp chứ không phải bắt đầu lại. Cây đa cổ thụ đi kèm cũng không phải chi tiết ngẫu nhiên: cây lớn lâu năm được coi là dấu của chỗ đất giữ được khí.

Thứ hai là hai hồ nước trong sân. Sách địa lý cổ đòi trước cửa phải có minh đường, tức khoảng trống để khí dừng lại một nhịp trước khi vào nhà, và minh đường có nước thì gọi là thủy tụ, coi là thế tốt hơn cả. Ở một khuôn đất hẹp giữa phố, hai hồ nước làm được đúng việc ấy trong phạm vi rất nhỏ.

Thứ ba là cách chia ba khối. Điện không dàn thành trục dọc dài mà xếp ba khối cạnh nhau: khối giữa thờ vị đứng đầu cõi trời, khối trái thờ mười vị coi cõi âm, khối phải thờ vị coi việc sinh nở. Đọc theo lối phong thủy, đây là cách bày rất chặt về nghĩa: trời ở giữa, cõi chết bên trái, sự sinh bên phải, và người đi lễ đi từ khối này sang khối kia là qua đủ ba chặng của một vòng đời.

Cuối cùng là hướng và mặt tiền. Điện quay ra một con dốc nhỏ, cổng thấp và lùi sau một khoảng sân. Trong phép xem đất, khí đi thẳng và mạnh quá thì gọi là trực xung, không tốt cho nơi thờ tự vốn cần khí chậm; một lối vào quanh và một khoảng sân đệm sẽ bẻ dòng khí ấy cho dịu lại.

Lễ Và Ngày Lễ

Ngày trọng nhất trong năm là vía Ngọc Hoàng, mùng chín tháng Giêng âm lịch, tức ngày tín ngưỡng người Hoa coi là ngày đản sinh của vị thần được thờ chính. Ngoài ngày ấy, nơi này giữ cả lệ của một điện thờ thần lẫn lệ của một cơ sở Phật Giáo, nên lịch lễ trong năm dày hơn phần lớn các miếu người Hoa khác.

Các mốc lễ tính theo âm lịch. Bài không ghi giờ giấc cụ thể vì lịch nghi thức từng năm do cơ sở định. Nguồn: Tư liệu tại cơ sở, khảo cứu văn hóa về di tích và các bản tin về lễ vía Ngọc Hoàng..
Ngày âm lịchLễNội dung
Mùng 9 tháng GiêngVía Ngọc HoàngLễ lớn nhất trong năm, tính theo ngày đản sinh của Ngọc Hoàng Thượng Đế trong tín ngưỡng người Hoa. Khách dâng hương và cúng nhang vòng tại chánh điện.
Từ mùng một Tết tới rằm tháng GiêngLễ đầu nămKhoảng thời gian đông người nhất, khách tới dâng hương, thỉnh lộc và thả cá thả rùa ở hai hồ trong sân.
Rằm và mùng một hằng thángLễ thường kỳLệ dâng hương định kỳ theo lịch âm, giữ đều quanh năm, quy mô gọn.
Rằm tháng BảyLễ Vu LanTheo lệ của cơ sở Phật Giáo, có lễ cầu siêu. Đây là lớp lễ đến sau, gắn với giai đoạn chuyển sang sinh hoạt theo hệ Phật Giáo.
Quanh nămLễ cầu tự tại điện Kim Hoa Thánh MẫuKhông theo ngày cố định. Người cầu con tới lễ tại ban Kim Hoa Thánh Mẫu và các bà mụ.

Một điểm đáng để ý: người tới đây không đi theo một lối duy nhất. Khách người Hoa thường lễ theo trình tự của một điện Đạo Giáo, từ tiền điện vào chánh điện rồi mới sang các ban bên. Khách người Việt phần đông đi thẳng tới ban mình có việc. Hai nếp ấy cùng tồn tại trong một khuôn viên.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 73 đường Mai Thị Lựu, phường Đa Kao cũ, quận 1 cũ, Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Nằm trên đường Mai Thị Lựu thuộc phường Đa Kao cũ, quận 1 cũ, trong một con dốc nhỏ rẽ từ đường Điện Biên Phủ. Đi bộ được từ khu vực cầu Bông và từ đường Đinh Tiên Hoàng.
Toạ độ
10.7886, 106.6919
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào tượng và vào mười bức phù điêu gỗ ở điện Thập Điện. Nhang vòng và lễ vật xin gửi đúng chỗ người trông coi chỉ. Thả cá thả rùa xuống hai hồ trong sân là lệ của nơi này, nhưng xin hỏi trước vì có lúc cơ sở ngưng nhận.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Ngọc Hoàng thờ ai

Thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, vị đứng đầu hệ thần linh Đạo Giáo, tượng cao khoảng ba mét đặt giữa chánh điện. Trong khuôn viên còn thờ Thanh Long, Phục Hổ, Thổ Địa, Môn Quan, Thập Điện Diêm Vương, Kim Hoa Thánh Mẫu cùng các bà mụ, và có cả ban thờ Phật và Quan Âm.

Chùa Ngọc Hoàng là chùa Phật hay điện Đạo Giáo

Gốc là điện thờ thần theo lối Đạo Giáo do người Hoa Quảng Đông dựng, tên chữ Ngọc Hoàng Điện. Từ năm 1982 cơ sở chuyển sang sinh hoạt theo hệ Phật Giáo, từ năm 1984 mang tên Phước Hải Tự. Lớp thờ tự Đạo Giáo cũ vẫn giữ nguyên, nên một khuôn viên có cả hai lớp.

Chùa Ngọc Hoàng xây năm nào

Các nguồn ghi khác nhau. Phần lớn bản tin lấy mốc 1892; một khảo cứu dẫn dòng chữ Quang Tự nhị thập lục niên tức năm 1900; Vương Hồng Sển đặt vào khoảng các năm 1905 và 1906. Có bản dung hòa rằng công trình khởi công năm 1892 và làm trong mười sáu năm, nhưng cũng chưa có văn bản chống lưng.

Ai xây chùa Ngọc Hoàng

Một người Hoa gốc Quảng Đông tên Lưu Minh, pháp danh Đạo Nguyên. Các bản khảo cứu xếp ông vào Minh Sư đạo, chi phái tôn giáo của người Hoa du nhập vào Nam Bộ thế kỷ 19, lấy nền Đạo Giáo và pha thêm giáo lý Phật Giáo và Nho Giáo. Nơi này từng mang tên Long Hoa Phật Đường.

Cầu tự ở chùa Ngọc Hoàng làm ở ban nào

Ở điện Kim Hoa Thánh Mẫu thuộc khối bên phải, nơi thờ vị nữ thần coi việc sinh nở trong tín ngưỡng người Hoa cùng các bà mụ. Nếp thường thấy là lễ tại ban ấy rồi buộc sợi chỉ đỏ hoặc treo thẻ ghi tên vào chỗ người trông coi điện chỉ.

Đọc Tiếp