VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Mẫu Đồng Đăng

同登靈寺 · Đồng Đăng Linh Tự, Đền Mẫu Đồng Đăng

Ngôi đền thờ Mẫu ở trung tâm Đồng Đăng, giữ trong cùng một khuôn viên cả lớp thờ Thánh Mẫu và một gian Tam Bảo thờ Phật.

Khởi dựng
Thế kỷ 19
tại một mái đá sát chân núi
Xây lại
Từ năm 1990
trên vị trí hiện nay
Xếp hạng
Di tích cấp tỉnh
xếp hạng năm 2002

Đền ngồi giữa phố Đồng Đăng, cách chợ không xa. Trước cửa là một tam quan có chuông và khánh treo, hai bên lối vào là một cặp voi đá chầu. Bước qua tam quan, quý vị gặp một khối nhà hai tầng chứ không phải một dãy nhà thấp trải theo trục dọc như đền miếu đồng bằng; đất ở đây không rộng, nên nơi thờ tự phải xếp lên cao.

Trong khuôn viên có một chi tiết đáng để ý ngay từ đầu. Đây là đền Mẫu, lớp thờ chính là Đạo Mẫu, vị được thờ trên hết là Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Nhưng tên chữ của nơi này lại là Đồng Đăng Linh Tự, mà chữ tự là chữ chỉ ngôi chùa, và ở gian trong cùng thực có một ban Phật Bà Quan Âm. Hai lớp thờ ấy cùng nằm trong một khuôn viên, và chính chỗ đan xen đó là điều đáng nói nhất về ngôi đền này.

Thánh Mẫu Liễu Hạnh Và Ban Phật Bà

Vị được thờ trên hết là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị đứng đầu hệ thống Tứ phủ và là vị nữ duy nhất trong hàng Tứ bất tử của người Việt, cùng hàng với Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương và Chử Đồng Tử. Dưới hàng Mẫu, đền thờ đủ các hàng Chầu và hàng Sơn Trang, tức thờ trọn hệ thống chứ không thờ riêng một vị.

Xin nói rõ về chữ Hán ghi kèm trang này. Chúng tôi chưa tra được hoành phi hay văn bia nào cho phép chép nguyên dạng chữ Hán tên đền, nên dòng chữ 同登靈寺 ở đầu trang là do thư viện suy từ tên chữ Đồng Đăng Linh Tự, không phải bản chép từ hiện vật.

Theo giáo nghĩa

Theo cách Đạo Mẫu tự nói về mình, thế giới chia thành các phủ do các vị Mẫu cai quản: Thiên phủ là miền trời sắc đỏ, Địa phủ là miền đất sắc vàng, Thoải phủ là miền sông nước sắc trắng, Nhạc phủ là miền rừng núi sắc xanh. Thánh Mẫu Liễu Hạnh được tôn là Mẫu Thượng Thiên, đứng đầu hệ ấy. Người theo tín ngưỡng này tin Mẫu che chở cho đời sống hiện tại, ban sức khỏe và tài lộc, chứ không hứa hẹn một cõi khác sau khi chết.

Còn theo giáo nghĩa Phật Giáo Bắc Tông, vị được thờ ở gian Tam Bảo là Quán Thế Âm Bồ Tát, dân gian gọi là Phật Bà Quan Âm, vị Bồ Tát mang hạnh nguyện lắng nghe tiếng khổ của chúng sinh mà cứu độ; cùng gian còn có Phật Chuẩn Đề. Hai lớp giáo nghĩa này khác nhau tận gốc: một bên nói về các miền do các Mẫu cai quản, một bên nói về hạnh nguyện độ sinh.

Theo sử liệu

Chỗ đan xen giữa thờ Mẫu và thờ Phật ở đây nên được đọc bằng giọng sử liệu, không nên đọc như một sự lẫn lộn.

Bản thân truyền thuyết của đền đã giải thích sự đan xen ấy. Tương truyền vào thời Hậu Lê, Phùng Khắc Khoan, người đời quen gọi là Trạng Bùng, trên đường đi sứ trở về đã gặp Mẫu Liễu Hạnh ở vùng này và được Mẫu nhắc việc tu sửa một ngôi chùa bỏ hoang; từ đó nơi này thờ cả Phật lẫn Mẫu. Cần nói rõ: đây là lớp truyền tụng, không phải sử biên niên, và cùng một mô típ gặp Mẫu ấy còn gắn với Phủ Tây Hồ bên hồ Tây.

Nhưng câu chuyện, dù là truyền thuyết, vẫn ghi đúng một quy trình đã xảy ra nhiều lần trên đất nước ta: một nền chùa cũ được tiếp nhận lớp thờ Mẫu, hoặc một nơi thờ Mẫu giữ lại lớp thờ Phật có trước. Dấu vết còn nằm ngay trong tên gọi, khi tên chữ có chữ tự của nhà chùa mà tên dân gian lại là đền Mẫu.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, toà đền đang đứng không phải công trình thế kỷ 19. Theo tư liệu của địa phương, đền được dựng lần đầu vào khoảng thế kỷ 19 tại một mái đá sát chân núi, cách vị trí ngày nay chừng ba trăm mét về phía đông bắc. Sau vài chục năm, vì chỗ ấy chật, dân trong vùng chuyển đền ra vị trí hiện nay; và từ năm 1990 mới bắt đầu xây ngôi đền mới mà quý vị thấy hôm nay. Nghĩa là lớp niên đại của việc thờ tự và lớp niên đại của toà nhà cách nhau rất xa, không nên gộp làm một.

Thứ hai, đây không phải gốc của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh. Gốc của tín ngưỡng ấy nằm ở Phủ Dầy thuộc vùng Vụ Bản. Đền Mẫu Đồng Đăng là một nhánh của mạch đó, mang truyền thuyết riêng về cuộc gặp ở vùng này; chỗ riêng của đền là vị trí nơi cửa ngõ đường bộ phía bắc chứ không phải thứ bậc trong hệ thống thờ Mẫu.

Từ Mái Đá Chân Núi Đến Ngôi Đền Hai Tầng

Lịch sử nơi này chia làm hai đoạn tách bạch: đoạn thờ tự ở mái đá chân núi thuộc thế kỷ 19, rồi đoạn dựng đền ở vị trí mới, mà phần xây cất chính lại thuộc thời gần đây. Không có văn bia nào cho biết năm khởi dựng cụ thể.

  • Thời Hậu LêTruyền thuyết cuộc gặp
    Tương truyền Phùng Khắc Khoan gặp Mẫu Liễu Hạnh ở vùng này trên đường đi sứ trở về và được nhắc việc tu sửa một ngôi chùa bỏ hoang. Đây là lớp truyền tụng, không có văn bản đương thời xác nhận.
  • Thế kỷ 19Dựng đền ở mái đá chân núi
    Đền được dựng lần đầu tại một mái đá sát chân núi, cách vị trí ngày nay khoảng ba trăm mét về phía đông bắc.
  • Cuối thế kỷ 19Chuyển ra vị trí hiện nay
    Sau vài chục năm, vì chỗ cũ chật hẹp, dân trong vùng chuyển đền ra vị trí giữa trung tâm Đồng Đăng như ngày nay.
  • 1990Khởi công xây đền mới
    Từ năm này bắt đầu xây ngôi đền hiện tại. Phần lớn những gì quý vị thấy hôm nay thuộc lớp xây cất từ mốc này về sau.
  • 2002Di tích cấp tỉnh
    Đền được xếp hạng di tích cấp tỉnh, thành phố.
  • 2016UNESCO ghi danh thực hành thờ Mẫu
    Ngày 1 tháng 12 năm 2016, tại kỳ họp thứ mười một của Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể họp ở Addis Ababa, Ethiopia, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Điều được ghi danh là tập quán thực hành, không riêng một nơi thờ tự.
Theo sử liệu

Về cách mô tả cấu trúc đền, các nguồn ghi vênh nhau, xin nêu cả hai. Tư liệu của cơ quan báo chí địa phương tả đền theo lối tên gọi các lớp nhà thờ tự cổ truyền, gồm hậu cung, cung đệ nhất, cung đệ nhị và đại bái cùng các công trình phụ cận. Các tài liệu giới thiệu khác lại tả theo năm gian thờ, gồm gian Tam Bảo, gian Tam toà Thánh Mẫu, chính điện, gian Sơn Trang và một gian thờ các vị khác. Hai cách tả này rất có thể nói về cùng một khối nhà, chỉ khác ở chỗ một bên gọi theo lớp nhà và một bên gọi theo ban thờ; nhưng chúng tôi chưa tra được bản mô tả kiến trúc chính thức nào để nói dứt điểm, nên ghi cả hai.

Năm Gian Thờ Và Trật Tự Các Ban

Khuôn viên gồm tam quan, khối nhà thờ tự hai tầng và các công trình phụ, phía sau khu thờ chính có tháp. Trên tam quan treo chuông và khánh, hai bên lối vào có cặp voi đá chầu. Vì đất hẹp, các ban không dàn theo một trục dọc dài mà xếp gọn trong một khối, nên người đi lễ đi hết các ban trong một vòng ngắn.

Gian Tam Bảo

Nằm ở phía trong, thờ Phật Bà Quan Âm Bồ Tát và Phật Chuẩn Đề. Đây là gian giữ lớp thờ Phật của ngôi đền, và cũng là gian giải thích vì sao tên chữ của nơi này có chữ tự của nhà chùa.

Gian Tam toà Thánh Mẫu

Thờ ba vị Mẫu: Mẫu đệ nhất Thượng Thiên, Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn và Mẫu đệ tam Thoải Phủ, tức ba miền trời, rừng núi và sông nước trong hệ Tứ phủ.

Chính điện

Thờ Chúa Liễu, tức Thánh Mẫu Liễu Hạnh, cùng Chầu Lục và Chầu Bơ. Hàng Chầu đứng dưới hàng Mẫu, mỗi vị mang một phủ và một sắc áo riêng.

Gian Sơn Trang

Thờ lớp thần linh gắn với miền rừng núi trong hệ Tứ phủ. Ban thờ Sơn Trang thường lấy sắc xanh làm chủ và bày lễ vật của rừng, khác hẳn cách bày ở các ban khác.

Gian thờ các vị khác

Gian dành cho các hàng còn lại trong hệ Tứ phủ. Có đủ các hàng dưới là dấu hiệu cho biết nơi thờ tự này thờ trọn hệ thống chứ không chỉ thờ riêng hàng Mẫu.

Trật tự các ban ở đây đáng đọc như một sơ đồ. Lớp ngoài và lớp giữa thuộc về Mẫu và các hàng dưới Mẫu, lớp trong cùng thuộc về Phật; nói cách khác, người đi lễ vào bằng cửa của Đạo Mẫu và đi tới chỗ sâu nhất thì gặp nhà Phật. Sắc màu cũng bày theo hệ: đỏ, vàng, trắng, xanh ứng với bốn phủ, nên nhìn màu vải phủ trên các ban là đọc được thứ tự thần linh.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước tiên là chỗ đứng đầu tiên của đền. Nơi thờ tự ban đầu không phải một toà nhà mà là một mái đá sát chân núi, tức một hõm đá che mưa nắng dưới vách núi. Trong phép xem đất, đó là dạng đất được coi là kín khí nhất: núi làm hậu chẩm có thật, vách đá chắn ba phía, chỉ mở một mặt. Người xưa dựng nơi thờ vào đấy là nhận lấy một chỗ khí đã tự tụ, không phải tạo ra nó.

Việc chuyển đền ra chỗ bằng vì thế là một đánh đổi, và nên nói thẳng như vậy. Rời mái đá là rời cái thế tựa núi kín khí để lấy mặt bằng rộng hơn, đường vào thuận hơn, và chỗ đứng giữa nơi người qua lại. Theo lối nhìn cổ truyền, một nơi thờ tự đông người có sinh khí của người, khác với một nơi kín đáo có sinh khí của đất; hai thứ ấy không thay nhau được và mỗi thứ có cái hơn.

Xét theo ngũ hành và cảnh quan, Đồng Đăng nằm trong vùng núi đá vôi, chung quanh là Thổ và Kim theo cách phân hành của sách cũ, cây rừng trên núi là Mộc. Trong hệ Tứ phủ, Mẫu Thượng Ngàn là vị cai quản miền rừng núi, thuộc Nhạc phủ, sắc xanh. Đặt một nơi thờ Mẫu giữa vùng núi rừng là đặt nơi thờ đúng vào hành của một trong các vị được thờ, và trong phép cũ sự trùng khớp ấy gọi là đắc vị. Gian Sơn Trang trong đền, với sắc xanh và lễ vật của rừng, là chỗ thể hiện rõ nhất điều đó.

Về hướng và thế đứng, đền nằm ở trung tâm phố, lưng về phía các dải núi, mặt mở ra khoảng đất bằng có người qua lại. Vì đất hẹp nên khu thờ tự phải xếp lên hai tầng thay vì trải dài. Theo lối nhìn cổ truyền, xếp tầng làm trục thờ chuyển từ chiều ngang sang chiều dọc, nghĩa là thứ bậc thần linh được đọc theo cao thấp thay vì theo trước sau; không sai phép, chỉ là một biến thể của đất chật.

Cuối cùng là thế tuyến. Xứ Lạng có một chuỗi nơi thờ Mẫu nằm rải theo đường bộ đi lên phía bắc, trong đó đền Bắc Lệ ở phía dưới và đền Mẫu Đồng Đăng ở chặng trên cùng; trong vùng còn có dãy Mẫu Sơn mang luôn chữ Mẫu trong tên núi. Đọc cả tuyến thì thấy việc thờ Mẫu ở đây không phải các điểm rời mà là một chuỗi bám theo đường đi của người. Với một tín ngưỡng lấy việc che chở cho đời sống hiện tại làm nội dung chính, điều đó là hợp lẽ.

Lễ Mùng Mười Tháng Giêng Và Lệ Trong Năm

Kỳ lễ riêng của đền, được tư liệu địa phương ghi rõ, là lễ hội mùng mười tháng Giêng âm lịch. Đây là ngày đông người nhất trong năm, nối vào lệ đi lễ đầu xuân của người đi đường phía bắc.

Chỉ lễ mùng mười tháng Giêng là kỳ lễ riêng của đền được tư liệu nêu đích danh; các mốc còn lại thuộc lệ chung của một nơi thờ Mẫu có kèm lớp thờ Phật. Nguồn: Tư liệu giới thiệu di tích và các bản tin về lễ hội đền Mẫu Đồng Đăng..
Thời điểm âm lịchLệNội dung
Mùng 10 tháng GiêngLễ hội đền Mẫu Đồng ĐăngKỳ lễ chính và riêng của đền, gồm phần lễ dâng hương tại các ban và phần hội với múa lân, múa sư tử, múa rồng.
Mùng 1 và ngày rằm hằng thángLệ thường kỳNhịp dâng hương đều đặn quanh năm của người trong vùng và của khách đi đường.
Mùng 3 tháng 3Ngày giỗ MẫuNgày tiệc Mẫu Liễu Hạnh theo lệ chung của các nơi thờ Thánh Mẫu, có lễ dâng hương tại ban Mẫu.
Rằm tháng Tư và rằm tháng BảyLễ Phật tại gian Tam BảoHai kỳ lễ Phật lớn trong năm, cử hành ở gian giữ lớp thờ Phật của đền.
Rải rác trong nămCác vấn hầuCác buổi hầu đồng do thanh đồng và bản hội tổ chức, có dàn cung văn đi kèm, thời điểm tùy từng bản hội.
Theo sử liệu

Hai thực hành gắn với mọi nơi thờ Mẫu, kể cả đền này, là hát chầu vănhầu đồng. Chầu văn là lối hát nghi lễ, dàn nhạc gồm đàn nguyệt, trống, phách và cảnh, lời hát kể sự tích từng vị trong hệ Tứ phủ. Hầu đồng là nghi lễ trong đó thanh đồng lần lượt trình diễn các giá ứng với từng vị, mỗi giá có khăn áo riêng theo sắc của phủ, có điệu múa riêng và bản văn riêng.

Nhìn ở góc nhân học, một vấn hầu là một chỉnh thể gồm âm nhạc, trang phục, vũ đạo, ngôn ngữ nghi lễ và quan hệ cộng đồng, tiến hành theo trình tự đã quy ước qua nhiều đời. Chính tính chỉnh thể ấy là lý do thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 1 tháng 12 năm 2016. Điều được ghi danh là tập quán thực hành cùng giá trị văn hóa của nó, không phải một phán xét về niềm tin.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Trung tâm Đồng Đăng, thị trấn Đồng Đăng cũ, nay là xã Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn
Đường tới
Đền nằm ở trung tâm Đồng Đăng, thuộc thị trấn Đồng Đăng cũ, nay là xã Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn, gần chợ Đồng Đăng và cách cửa khẩu Hữu Nghị chừng bốn cây số. Từ thành phố Lạng Sơn lên đây đi theo đường bộ chừng mười lăm cây số.
Toạ độ
21.9452, 106.7081
Khi tới nơi

Lệ của chính nơi này có mấy điều: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các gian thờ, đi nhẹ nói khẽ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không để lên tượng và đồ thờ. Ở gian Tam Bảo xin quý vị giữ lệ nhà chùa, không dâng lễ mặn. Nếu gặp một vấn hầu, xin đứng ngoài phạm vi chiếu hầu và không đi cắt ngang giữa thanh đồng với ban thờ. Việc quay phim chụp ảnh tùy người chủ buổi lễ và người trông coi đền, hỏi trước là chắc nhất.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Đền Mẫu Đồng Đăng thờ ai

Lớp thờ chính là Đạo Mẫu, vị được thờ trên hết là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, cùng Tam toà Thánh Mẫu và các hàng Chầu, hàng Sơn Trang trong hệ Tứ phủ. Ngoài ra đền có gian Tam Bảo thờ Phật Bà Quan Âm Bồ Tát và Phật Chuẩn Đề, tức giữ thêm một lớp thờ Phật trong cùng khuôn viên.

Vì sao là đền Mẫu mà tên chữ lại có chữ tự của nhà chùa

Vì nơi này giữ hai lớp thờ. Tên chữ Đồng Đăng Linh Tự mang chữ tự là chữ chỉ ngôi chùa, phù hợp với truyền thuyết kể rằng Phùng Khắc Khoan được Mẫu nhắc tu sửa một ngôi chùa bỏ hoang ở vùng này. Tên dân gian đền Mẫu thì gọi theo lớp thờ chính hiện nay. Truyền thuyết ấy là lớp truyền tụng, không phải sử biên niên.

Đền có phải công trình từ thế kỷ 19 không

Không. Theo tư liệu địa phương, đền được dựng lần đầu khoảng thế kỷ 19 tại một mái đá sát chân núi, cách vị trí ngày nay chừng ba trăm mét về phía đông bắc. Sau vài chục năm đền được chuyển ra chỗ hiện tại, và từ năm 1990 mới bắt đầu xây ngôi đền mà quý vị thấy hôm nay.

Đền có mấy gian thờ và thờ những gì

Các tài liệu giới thiệu tả đền theo năm gian: gian Tam Bảo thờ Phật Bà Quan Âm và Phật Chuẩn Đề, gian Tam toà Thánh Mẫu, chính điện thờ Chúa Liễu cùng Chầu Lục và Chầu Bơ, gian Sơn Trang, và một gian thờ các vị khác. Một số tư liệu khác lại tả theo lớp nhà, gồm hậu cung, cung đệ nhất, cung đệ nhị và đại bái.

Lễ hội đền Mẫu Đồng Đăng mở ngày nào

Mùng mười tháng Giêng âm lịch, đây là kỳ lễ riêng và lớn nhất trong năm của đền, gồm phần lễ dâng hương tại các ban và phần hội với múa lân, múa sư tử, múa rồng cùng các trò dân gian. Ngoài ngày ấy, đền đông đều đặn vào mùng một và ngày rằm hằng tháng.

Đọc Tiếp