VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Ông Cần Thơ

廣肇會館 · Quảng Triệu hội quán

Nhà hội của người Hoa hai phủ Quảng Châu và Triệu Khánh dựng bên bến Ninh Kiều, nơi Quan Thánh Đế Quân được thờ theo lối tín ngưỡng dân gian Hoa pha Đạo Giáo.

Khởi công
1894
hoàn thành năm 1896, theo tư liệu di tích của thành phố
Diện tích
532 mét vuông
một nguồn khác ghi hơn 533 mét vuông
Xếp hạng
Di tích quốc gia
quyết định xếp hạng ngày 21 tháng 6 năm 1993

Từ bến Ninh Kiều rẽ vào đường Hai Bà Trưng chừng vài chục bước, quý vị gặp một dãy mái ngói âm dương thấp, gờ bó mái viền gốm tráng men lưu ly. Trên nóc là một hàng tượng gốm nhiều màu: rồng, phượng, những nhân vật tuồng tích đứng thành lớp, hai đầu là hai pho người nâng mặt trời và mặt trăng. Mặt tiền không mở rộng ra phố mà thu lại; khói nhang trong nhà theo một khoảng trống giữa mái mà lên trời.

Người Cần Thơ gọi đây là chùa Ông. Tấm biển chữ Hán trên cửa lại ghi Quảng Triệu hội quán, nghĩa là nhà hội của người hai phủ Quảng Châu và Triệu Khánh thuộc tỉnh Quảng Đông. Hai cái tên nói hai việc khác nhau: một là cách gọi quen của người Việt quanh vùng, một là chức năng gốc của công trình. Trước hết đây là nhà hội của một cộng đồng di dân.

Chùa Ông Cần Thơ
Chùa Ông Cần Thơ. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Quan Thánh Đế Quân Và Các Vị Phối Tự

Vị được thờ ở chính điện là Quan Thánh Đế Quân, người Việt quen gọi là Quan Công, người Hoa gọi là Quan Đế. Gốc của vị này là Quan Vũ, một viên tướng thời Tam Quốc bên Trung Hoa; qua nhiều thế kỷ được phong tặng và thờ cúng, ông thành một vị thần lớn trong hệ thần linh của người Hoa, mang nghĩa trung và nghĩa tín.

Theo giáo nghĩa

Trong hệ thống thờ tự của người Hoa, Quan Đế giữ một vị trí ít vị nào có: vừa là võ thần trấn áp, vừa là thần tài của giới buôn bán, vừa là vị làm chứng cho lời thề và cho chữ tín. Chính lớp nghĩa thứ ba giải thích vì sao ban thờ ông nằm giữa một nhà hội thương nhân: nơi nào người ta giao ước bằng miệng, không có giấy tờ bảo đảm, nơi ấy cần một vị thần chứng giám. Thanh long đao và sắc mặt đỏ của pho tượng thuộc lớp võ thần; cái lý khiến người ta tới khấn thì phần lớn thuộc lớp chữ tín và tài lộc.

Theo sử liệu

Về mặt khảo được, các nhóm người Hoa từ vùng Quảng Đông vào định cư ở đồng bằng sông Cửu Long theo nhiều đợt, sớm nhất khoảng thế kỷ 17 và 18, rồi tiếp tục trong thế kỷ 19. Người từ mỗi vùng quê lập riêng một hội quán theo gốc gác: hội quán người Quảng Đông, người Triều Châu, người Phúc Kiến, người Hải Nam, người Hẹ. Hội quán làm ba việc cùng lúc: thờ tự, hội họp bàn việc làm ăn, và tương trợ người mới sang. Quảng Triệu hội quán ở Cần Thơ thuộc dòng thứ nhất.

Bên cạnh vị chủ là Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị thần che chở người đi biển, được người Hoa vượt biển thờ khắp vùng Đông Nam Á. Có ban Tài Bạch Tinh Quân giữ việc tiền bạc, ban Phúc Đức Chính Thần mà dân gian gọi là Ông Bổn, giữ việc đất đai, và một gian riêng thờ Phật Bà Quan Thế Âm. Trong cùng một mái nhà có cả thần của Đạo Giáo, thần bảo hộ nghề biển, thần đất và một vị của nhà Phật.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay hiểu lầm về nơi này, xin nói rõ bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, đây không phải một ngôi chùa Phật Giáo. Chữ chùa trong tên gọi Chùa Ông là cách nói quen của người Việt quanh vùng, dùng cho mọi nơi thờ tự có khói nhang. Tên chữ trên biển là hội quán, tức nhà hội, và vị chủ trong chính điện là một vị thần chứ không phải một vị Phật. Gian thờ Quan Thế Âm là ban phối tự, không phải trung tâm thờ tự.

Thứ hai, nếp thờ ở đây là tín ngưỡng dân gian của người Hoa có pha Đạo Giáo, không đồng nhất với Đạo Giáo của người Kinh. Hai bên gặp nhau ở chỗ cùng thờ những vị trong hệ thần linh Đạo Giáo. Nhưng chỗ khác thì rõ: nơi thờ của người Hoa gọi là hội quán hoặc miếu, gắn với tổ chức theo quê gốc và theo nghề buôn, giữ tiếng Quảng Đông trong kinh cúng, và lịch lễ tính theo ngày vía của từng vị trong hệ thần người Hoa. Nơi thờ Đạo Giáo của người Kinh thì gọi là quán, nhập sâu vào lớp thần bản địa và lệ làng xã. Chúng tôi ghi chỗ khác ấy ra để quý vị đọc đúng nơi mình đang đứng, không xếp bên nào cao hơn bên nào.

Từ Nhà Hội Của Di Dân Đến Di Tích Quốc Gia

Lịch sử nơi này gắn với một bến sông. Cần Thơ nằm ở chỗ sông Cần Thơ đổ vào sông Hậu, là điểm dừng của thuyền bè khắp miền châu thổ, nên cũng là chỗ người buôn tụ lại. Nhà hội dựng đúng ở mặt tiền bến ấy chứ không lui vào trong phố.

  • Thế kỷ 17 và 18Người Hoa Quảng Đông tới vùng châu thổ
    Các nhóm di dân từ hai phủ Quảng Châu và Triệu Khánh vào định cư ở đồng bằng sông Cửu Long theo nhiều đợt, lập nghiệp bằng nghề buôn và nghề thủ công, rồi lập hội quán theo gốc quê.
  • 1892Đúc quả chuông đồng
    Quả chuông đồng hiện còn trong nhà mang niên đại 1892, tức trước năm khởi công công trình hiện tại. Chi tiết này được nói thêm ở phần dưới.
  • 1894Khởi công Quảng Triệu hội quán
    Cộng đồng người Hoa hai phủ khởi công dựng nhà hội ở mặt tiền bến sông, trên khu đất rộng 532 mét vuông theo tư liệu di tích.
  • 1896Hoàn thành
    Hoàn thành sau hai năm. Phần lớn cấu kiện gỗ, gạch men và các mảng trang trí gốm được đưa từ Quảng Đông sang, mang niên hiệu ghi năm 1896.
  • 1931Dựng nhà khói
    Khu nhà khói, tức phần bếp và nơi làm cỗ phục vụ việc lễ, được dựng thêm, muộn hơn khối nhà chính.
  • 1993Di tích quốc gia
    Ngày 21 tháng 6 năm 1993, Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định xếp hạng Chùa Ông là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Qua các đợt tu bổ về sau, bộ khung gỗ, hệ gạch men và các mảng gốm gốc phần lớn còn nguyên.
Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói thẳng. Tư liệu di tích của thành phố và phần lớn bài viết đều ghi công trình khởi công năm 1894, hoàn thành năm 1896, và đó là niên đại chúng tôi dùng. Nhưng một trang giới thiệu di tích của địa phương lại chia niên đại theo hạng mục: chính điện dựng giữa thế kỷ 19, nhà khách cuối thế kỷ 19, nhà khói năm 1931. Hai cách ghi lệch nhau tới vài chục năm ở phần chính điện.

Quả chuông đồng đúc năm 1892 làm chuyện phức tạp thêm, vì nó có trước năm khởi công. Điều đó giải thích được theo hai hướng: chuông đúc sẵn bên Quảng Đông rồi chở sang, hoặc chuông thuộc về một nơi thờ tạm có trước. Chúng tôi chưa tra được tài liệu nói dứt điểm, nên ghi cả hai chứ không chọn bừa. Diện tích cũng vênh nhẹ: 532 mét vuông và hơn 533 mét vuông.

Bố Cục Chữ Quốc, Sân Thiên Tỉnh Và Bộ Tượng Gốm

Toàn bộ công trình bố cục theo hình chữ Quốc, tức các dãy nhà khép kín và vuông góc với nhau, vây lấy một khoảng trống ở giữa. Đây là lối dựng quen của hội quán người Hoa: bốn mặt tường kín đối với phố, mọi cửa và mọi ban thờ đều mở vào trong, và cả khối nhà chỉ có một chỗ thông lên trời.

Sân thiên tỉnh

Khoảng trống ở giữa, chữ Hán gọi là thiên tỉnh, tức giếng trời. Đây là chỗ duy nhất trong nhà thông thẳng lên trời, làm ba việc: lấy sáng cho chính điện, cho khói nhang thoát ra, và giữ cho bên trong không bị bí. Phía trên có mái che di động để điều chỉnh lượng sáng và che mưa.

Bộ tượng gốm trên nóc

Dọc sống mái và trên các gờ bó mái là một dải tượng gốm tráng men nhiều màu: rồng, phượng, kỳ lân, và một lớp nhân vật tuồng tích đứng thành từng cảnh. Hai đầu dải tượng là hai pho người nâng mặt trời và nâng mặt trăng. Các mảng gốm này đưa từ Quảng Đông sang, thuộc dòng gốm thủ công của nghệ nhân người Hoa thời nhà Thanh.

Các bức chạm gỗ

Trên hệ cửa, các bao lam, thành vọng và diềm mái là những bức chạm gỗ theo cả hai lối nổi và chìm. Đề tài lấy từ huyền thoại và điển tích Trung Hoa, xen với hoa lá, chim thú. Đọc các bức chạm ấy theo thứ tự là đọc cả một bộ tích truyện mà người di dân mang theo trong hành lý.

Vật liệu nhập, chuông đồng và hoành phi

Gạch men ốp tường và một phần cấu kiện gỗ chở từ Quảng Đông sang bằng thuyền, trên đó ghi niên hiệu năm 1896, nên công trình giữ được nét thợ Quảng Đông rất thuần. Trong nhà còn quả chuông đồng niên đại 1892 cùng hệ hoành phi câu đối chữ Hán treo dày trên các hàng cột, phần lớn do người trong hội quán cúng vào.

Cách dựng nhà kín bốn mặt rồi chừa một giếng trời ở giữa không phải chuyện thẩm mỹ mà là chuyện ở. Nhà hội của di dân thường nằm ngay mặt phố buôn bán, ồn và bụi; đóng kín bốn mặt là cách cắt cái ồn ấy ra khỏi chỗ thờ. Nhưng đóng kín thì tối và bí, nên phải mở một lỗ lên trời. Kết quả là một khoảng sáng rơi thẳng từ trên xuống giữa nhà, còn hai bên vẫn tối. Đó là thứ đặc trưng nhất của kiến trúc hội quán người Hoa, không lẫn với chùa Phật Giáo hay đình làng người Kinh.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải. Xin nói thêm rằng lối xem đất của người Hoa Quảng Đông và lối xem đất của người Kinh có nhiều điểm chung về nguyên tắc, nên phần dưới đây đọc được cho cả hai.

Thế đất và hướng

Trước tiên là chỗ đứng. Nhà hội dựng ngay mặt tiền bến Ninh Kiều, chỗ sông Cần Thơ sắp đổ vào sông Hậu. Trong phép xem đất, nơi hai dòng nước gặp nhau gọi là thủy khẩu, tức miệng nước, và thủy khẩu được coi là chỗ khí ra vào của cả một vùng. Với cộng đồng sống bằng nghề buôn đường sông, chỗ ấy cũng là chỗ thuyền bè cập bến. Hai lý do, một của phép cũ và một của việc làm ăn, trùng vào cùng một điểm trên bản đồ.

Kế đến là nước và tài. Phép cũ có câu sơn quản nhân đinh, thủy quản tài lộc: núi giữ việc người, nước giữ việc tiền. Cả vùng châu thổ này không có núi, chỉ có nước; đọc theo lối cũ thì đây là đất nặng phần tài mà nhẹ phần đinh, hợp với một hội quán thương nhân hơn là với một ngôi đền làng xã. Ban thờ Tài Bạch Tinh Quân đặt ngay trong nhà, và lớp nghĩa thần tài của Quan Đế được người đi lễ coi trọng, đều nằm cùng mạch ấy.

Về hướng, cổng chính mở ra đường Hai Bà Trưng, tức mở về phía mặt nước, lưng quay vào phố. Thế ấy phép cũ gọi là tiền thủy. Nó khác thế chuẩn mực tựa sơn hướng thủy của sách vở ở chỗ không có núi để tựa; chỗ tựa ở đây là khối phố xây kín phía sau, mà trong lối xem đất đô thị thì dãy nhà liền khối vẫn được đọc thay cho thế núi.

Sau cùng là giếng trời, chỗ đáng nói nhất khi đọc nơi này theo phép cũ. Bốn dãy nhà khép thành chữ Quốc, kín cả bốn mặt, thì khí không xổ ra ngoài mà quay vòng trong sân; lối ấy gọi là tàng phong tụ khí, giấu gió mà gom khí. Nhưng kín hoàn toàn thì khí đọng, nên phải chừa một lỗ thông lên trời. Sân thiên tỉnh vừa là chỗ trời rót sáng xuống, vừa là chỗ khói nhang dâng lên: một đường xuống và một đường lên trong cùng một khoảng trống. Người Hoa gọi chỗ ấy là giếng, mà giếng bao giờ cũng là nơi cả nhà lấy nước ăn. Cái tên nói đúng chức năng mà phép cũ gán cho nó.

Lễ Vía Theo Âm Lịch Và Tục Treo Vòng Nhang

Lịch lễ ở đây tính theo âm lịch và theo ngày vía của từng vị được thờ, chứ không theo các ngày lễ của nhà Phật. Ngày vía là ngày sinh hoặc ngày hóa của vị thần, và mỗi ban thờ trong nhà có ngày vía riêng của mình, nên trong một năm có nhiều kỳ lễ nhỏ thay vì một hội lớn.

Các kỳ lễ vía chính trong năm, tính theo âm lịch. Ngày vía của từng vị do nhà hội giữ theo lệ riêng, có thể lệch nhẹ so với lịch vía ở hội quán khác. Nguồn: Tư liệu di tích của thành phố Cần Thơ và các bài giới thiệu di tích Chùa Ông..
Ngày âm lịchLễ víaNội dung
Mùng 1 tới rằm tháng GiêngLễ đầu nămKỳ đông người nhất trong năm. Người Cần Thơ giữ lệ tới đây vào phút giao thừa và những ngày đầu năm để cầu an, treo vòng nhang và xin lộc.
Rằm tháng 3Giỗ Ông BổnLễ của ban Phúc Đức Chính Thần, vị thần giữ việc đất đai và bản địa mà dân gian gọi là Ông Bổn.
23 tháng 3Vía Thiên Hậu Thánh MẫuNgày vía vị thần che chở người đi biển. Có lễ cúng và dâng phẩm vật tại ban Thiên Hậu.
24 tháng 6Vía Quan Thánh Đế QuânNgày vía của vị chủ trong chính điện, kỳ lễ trọng nhất trong năm. Có lễ cúng lớn, múa lân sư rồng và các hoạt động của cộng đồng người Hoa trong vùng.
Theo lệ nhà hộiVía Tài Bạch Tinh QuânNgày vía ban thần tiền bạc, được giới buôn bán coi trọng. Lễ gọn, chủ yếu là dâng hương tại ban.

Thứ khiến người tới đây nhớ lâu nhất lại không phải một kỳ lễ mà là một vật: vòng nhang, có nơi gọi là khoanh nhang. Đó là những khoanh nhang xếp thành hình xoắn, mở ra trông như chiếc nón lá úp. Người cầu an viết tên người mình muốn cầu phúc lên một tấm thẻ bài bằng tiếng Việt hoặc chữ Hán, gắn thẻ vào khoanh nhang, rồi khoanh nhang được treo lồng vào nhau trên giàn cao chừng bốn mét trong chính điện. Mỗi khoanh cháy rất chậm, theo bản tin báo chí là khoảng hai tuần mới hết một vòng.

Vì cháy chậm và vì treo gối lên nhau thành lớp, giàn nhang trong chính điện gần như không lúc nào tắt. Báo chí ghi chính điện có thể treo tới tám trăm khoanh cùng lúc. Nhìn từ dưới lên, cả trần chính điện là một lớp vòng tròn đồng tâm đang toả khói, và lớp khói ấy được giếng trời hút lên. Đây là chỗ nghi thức khớp vào kiến trúc: không có sân thiên tỉnh thì không thể để hàng trăm khoanh nhang cháy liên tục trong một ngôi nhà kín bốn mặt.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 32 đường Hai Bà Trưng, phường Ninh Kiều, Cần Thơ
Đường tới
Số 32 đường Hai Bà Trưng, phường Ninh Kiều, Cần Thơ, ngay mặt tiền bến Ninh Kiều bên bờ sông. Đi bộ được từ khu chợ cổ Cần Thơ và từ công viên bến tàu.
Toạ độ
10.0334, 105.7908
Khi tới nơi

Vài lệ của chính nhà hội này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, không chạm tay vào các bức chạm gỗ, mảng gốm và quả chuông đồng. Giàn vòng nhang treo trên đầu và đang cháy, xin quý vị không đứng lâu ngay bên dưới, cũng không tự tay gỡ hay xê dịch khoanh nhang của người khác. Muốn treo vòng nhang thì ghi tên vào thẻ bài rồi nhờ người trông coi treo giúp.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Ông Cần Thơ thờ ai

Vị chủ trong chính điện là Quan Thánh Đế Quân, tức Quan Công, gốc là viên tướng Quan Vũ thời Tam Quốc được thần hóa. Các ban phối tự gồm Thiên Hậu Thánh Mẫu, Tài Bạch Tinh Quân, Phúc Đức Chính Thần mà dân gian gọi là Ông Bổn, cùng một gian thờ Phật Bà Quan Thế Âm.

Chùa Ông Cần Thơ có phải là chùa Phật Giáo không

Không. Chữ chùa ở đây là cách gọi quen của người Việt quanh vùng. Tên chữ trên biển là Quảng Triệu hội quán, tức nhà hội của người Hoa hai phủ Quảng Châu và Triệu Khánh. Nếp thờ ở đây là tín ngưỡng dân gian của người Hoa có pha Đạo Giáo, không đồng nhất với Phật Giáo cũng không đồng nhất với Đạo Giáo của người Kinh.

Quảng Triệu hội quán nghĩa là gì

Quảng là phủ Quảng Châu, Triệu là phủ Triệu Khánh, hai phủ thuộc tỉnh Quảng Đông. Hội quán là nhà hội của người cùng quê gốc, làm ba việc cùng lúc: thờ tự, hội họp bàn việc làm ăn, và tương trợ người mới sang. Tên gọi ấy cho biết ngay cộng đồng nào đã dựng nên công trình.

Vòng nhang ở chùa Ông là gì

Vòng nhang, còn gọi khoanh nhang, là những khoanh nhang xếp xoắn, mở ra trông như chiếc nón lá úp. Người cầu an ghi tên lên thẻ bài rồi gắn vào khoanh nhang, treo lồng vào nhau trên giàn cao trong chính điện. Mỗi khoanh cháy chừng hai tuần, nên giàn nhang gần như không lúc nào tắt.

Chùa Ông Cần Thơ xây năm nào

Tư liệu di tích của thành phố ghi khởi công năm 1894, hoàn thành năm 1896, trên khu đất 532 mét vuông. Một trang giới thiệu di tích của địa phương lại ghi chính điện dựng giữa thế kỷ 19, nhà khách cuối thế kỷ 19 và nhà khói năm 1931. Hai cách ghi vênh nhau nên chúng tôi ghi cả hai.

Đọc Tiếp