VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Kiến An Cung

建安宮 · Chùa Ông Quách

Ngôi cung miếu của người Hoa gốc Phúc Kiến trên đất Sa Đéc, dựng trong ba năm và giữ nguyên nền cũ suốt một trăm năm.

Khởi công
1924
hoàn thành mùa thu năm 1927, đúng ba năm
Khuôn viên
1.634 m2
bố cục chữ Công, ba gian, mái ba lớp ngói âm dương
Xếp hạng
Di tích quốc gia
quyết định ngày 27 tháng 4 năm 1990

Đi trên phố cũ của Sa Đéc, chỗ hai con đường Trần Hưng Đạo và Phan Bội Châu gặp nhau, quý vị thấy một khối mái đỏ thẫm nhô lên giữa dãy nhà phố. Mái không phẳng mà uốn thành từng đợt cong vút, lớp ngói ống xếp ba lớp, trên bờ nóc đắp rồng và các khối trang trí nhiều màu. Trước cửa, một cặp kỳ lân đá ngồi canh. Bên trong, ánh sáng lọt qua khoảng sân giữa, soi lên những bức tranh vẽ trên vách và hàng cột gỗ tròn đỡ cả bộ mái.

Dân Sa Đéc gọi đây là chùa Ông Quách. Nhưng biển trên cửa ghi Kiến An Cung, và chữ cung mới nói đúng gốc gác: đây là một cung miếu kiêm hội quán của người Hoa gốc Phúc Kiến, dựng để thờ vị thần bản hương của họ và làm chỗ hội đồng hương trên đất mới. Bên trong không có tam bảo và không có tăng chúng.

Kiến An Cung
Kiến An Cung. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tên Gọi Và Vị Thần Được Thờ

Nơi này có hai tên cùng lưu hành. Kiến An Cung là tên chữ ghi trên biển, do những người dựng đặt. Chùa Ông Quách là tên dân gian, gọi theo vị thần ngồi ở ban chính. Chữ cung trong tên gọi của người Hoa chỉ nơi thờ một vị thần có phẩm vị cao, đứng trên chữ miếu; nó không có nghĩa là chùa Phật.

Xin nói rõ ngay đây là cơ sở thờ tự của cộng đồng nào. Người dựng là người Hoa gốc Phúc Kiến ở Sa Đéc, nói tiếng Mân Nam, khác với người Hoa Quảng Đông và người Hoa Triều Châu cũng có mặt ở Nam Bộ và cũng lập hội quán riêng. Tín ngưỡng ở đây là tín ngưỡng dân gian Hoa pha Đạo Giáo, tức lối thờ thần bản hương của người Hoa có tiếp thu phẩm vị và nghi thức Đạo Giáo, nhưng không phải Đạo Giáo của người Kinh và cũng không phải Phật Giáo, dù trong cung có phối thờ Quán Thế Âm Bồ Tát.

Theo giáo nghĩa

Quảng Trạch Tôn Vương, dân gian Sa Đéc gọi gọn là Ông Quách, là một vị thần bản hương của vùng Phúc Kiến, còn được gọi là Quách Thánh Vương hay Bảo An Tôn Vương. Theo cách kể của cộng đồng, ông vốn là một cậu bé họ Quách đi chăn dê, cha mất sớm, nổi tiếng vì lòng hiếu với mẹ; ông mất khi còn rất nhỏ tuổi, sau đó hiển linh và được dân làng thờ, rồi được các triều đại lần lượt gia phong.

Pho tượng vì thế tạc dưới dạng một người trẻ, dáng ngồi một chân xếp bằng và một chân buông thẳng xuống, chứ không khép hai chân theo lối tượng thần thường thấy; dáng ngồi lạ ấy là dấu nhận ra vị này giữa các ban thờ. Bên cạnh Ông Quách, hai vị phối thờ đáng chú ý là Thanh Thủy Tổ Sư, tổ của nghề thuốc, và Bảo Sanh Đại Đế, vị coi việc sinh nở; cả hai đều là thần bản hương Phúc Kiến, chọn thờ vì đúng những điều mà một nhóm di cư cần nhất.

Theo sử liệu

Lai lịch cụ thể của Ông Quách là chỗ các nguồn ghi khác nhau, xin nói thẳng. Về tên thật, có bản ghi Quách Hồng Phúc, có bản ghi Quách Trung Phúc. Về năm sinh, một bản đặt vào năm 923 thời Hậu Đường, một bản ghi năm 928 và xếp vào thời Hậu Tấn. Về quê gốc, các bản đều chỉ về vùng An Khê thuộc phủ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, nhưng địa danh cụ thể ghi không giống nhau. Những cách kể ấy cùng tồn tại trong chính cộng đồng thờ tự, không cách nào lấn hẳn cách nào, đúng như đặc điểm thường thấy của tín ngưỡng dân gian: danh hiệu ổn định trước, lai lịch bồi đắp về sau. Chúng tôi ghi cả các cách hiểu chứ không chọn bừa một bản.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất ở đây là chữ chùa trong tên gọi chùa Ông Quách. Trong tiếng Việt, chùa vốn chỉ cơ sở thờ Phật, có tam bảo và có tăng chúng trụ trì. Người Việt Nam Bộ từ lâu đã dùng chữ ấy rộng ra cho cả cung miếu thờ thần của người Hoa, nên mới có chùa Ông, chùa Bà và ở Sa Đéc là chùa Ông Quách. Bên trong Kiến An Cung thì không có tam bảo, không có tăng chúng, ban chính đặt tượng Ông Quách chứ không đặt tượng Phật, việc trông coi do ban quản trị của cộng đồng đảm nhiệm. Gọi cho đúng thì đây là một cung miếu kiêm hội quán, thuộc tín ngưỡng dân gian Hoa pha Đạo Giáo.

Chỗ thứ hai là tưởng hội quán chỉ là nơi thờ cúng. Hội quán của người Hoa là hình thức tự quản của một nhóm di cư: đón người mới sang, phân xử tranh chấp, giúp nhau khi ốm đau tang ma, lo trường lớp cho con em. Chính vì thế mà cung còn nhận giữ hương khói cho những người Phúc Kiến qua đời không có thân nhân.

Ba Năm Dựng Và Một Trăm Năm Giữ

Kiến An Cung khác các cơ sở thờ tự cổ ở chỗ niên đại của nó rất rõ. Không phải suy từ hiện vật, không phải dựa vào truyền thuyết: công trình khởi công năm Giáp Tý 1924 và hoàn thành mùa thu năm Đinh Mão 1927, đúng ba năm, và các nguồn đều thống nhất con số ấy.

  • Thế kỷ 19Người Hoa Phúc Kiến tụ ở Sa Đéc
    Sa Đéc là bến sông buôn bán lâu đời của miền Tây, nơi các nhóm người Hoa tới làm ăn. Nhóm gốc Phúc Kiến thành một cộng đồng riêng trước khi có cơ sở thờ tự chung.
  • 1924Khởi công
    Khởi công năm Giáp Tý, do cộng đồng người Hoa gốc Phúc Kiến ở Sa Đéc góp dựng. Nhà tài trợ chính được nêu tên là thương gia Huỳnh Cảnh Thuận.
  • 1924 tới 1927Vật liệu và nghệ nhân từ Phúc Kiến
    Gỗ, đá và một phần nghệ nhân đưa từ Phúc Kiến sang, làm cùng thợ địa phương. Đây là lý do công trình giữ được kỹ thuật gốc của nghề gỗ vùng ấy.
  • 1927Hoàn thành
    Khánh thành mùa thu năm Đinh Mão, vừa đúng ba năm thi công.
  • Sau 1927Ba lần trùng tu
    Theo tư liệu tại di tích, cung đã qua ba đợt trùng tu, nhưng vẫn giữ đúng nền đất cũ và không mở rộng mặt bằng.
  • 1990Di tích quốc gia
    Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định ngày 27 tháng 4 năm 1990, xếp hạng Kiến An Cung là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2024Tròn một trăm năm khởi công
    Mốc trăm năm tính từ năm 1924, được báo chí nhắc như một di tích của lớp người Hoa lập nghiệp ở miền Tây.
Theo sử liệu

Một chỗ nhỏ cần nói rõ là địa chỉ. Bảng dữ liệu của thư viện ghi đường Trần Hưng Đạo; nhiều tư liệu lại ghi số 39 đường Phan Bội Châu. Hai cách ghi không mâu thuẫn: công trình nằm ngay chỗ hai đường ấy gặp nhau, nên tùy tài liệu mà lấy mặt tiền nào làm địa chỉ. Cũng cần ghi rõ rằng thành phố Sa Đéc cũ nay là phường Sa Đéc thuộc tỉnh Đồng Tháp, theo địa giới sau lần sắp xếp năm 2025.

Mái Ba Lớp Và Bộ Khung Ráp Mộng

Khuôn viên rộng 1.634 mét vuông. Tư liệu tại di tích gọi lối dựng ở đây là nội công ngoại quốc: bên trong các dãy nhà xếp thành hình chữ Công, bên ngoài các dãy phụ khép thành một khung vuông kín. Ba phần của chữ Công ấy là ba gian mà người trong cung gọi là Đông lang, Tây langkhu chính điện ở giữa, nối nhau bằng sân trời để hở.

Mái ba lớp ngói âm dương

Mái không lợp một lớp mà ba lớp: ngoài là ngói, giữa là lớp gạch, trong lại là ngói. Ngói âm dương là lối lợp ngửa úp xen nhau thành rãnh, thoát nước nhanh và giữ được lớp khí đệm dưới mái.

Bờ mái gợn sóng

Bờ mái uốn thành từng đợt cong vút mà các tư liệu gọi là lối gợn sóng rồng, tính được sáu đợt. Sáu thứ trên mái ấy được kể khác nhau: có bản nói sáu ngọn sóng, có bản nói sáu khối cung điện nhỏ ở góc mái, có bản nói sáu đầu lân gỗ thếp vàng.

Bộ khung không dùng đinh

Điểm đáng nói nhất về nghề mộc. Công trình không dùng vì kèo như nhà gỗ Việt mà dùng hệ đòn tay ráp mộng gác trực tiếp lên các cột gỗ tròn đường kính chừng 30 centimet, các cấu kiện khớp bằng mộng chứ không dùng đinh sắt.

Tranh vẽ trên vách

Bộ tranh vẽ theo lối thủy mặc, tức mực và màu loãng trên nền tường, đề tài gồm các tích khuyến thiện trừ tà, cảnh Thập điện, truyện Phong Thần và truyện Tam Quốc. Đây là trang trí bằng tranh chứ không bằng chạm nổi.

Cửa võng chạm lộng

Hệ cửa võng thếp vàng treo ngang phía trên các ban thờ, chạm đề tài rồng mây, hoa lá và chim muông. Chạm lộng là chạm thủng qua thân gỗ để ánh sáng lọt được, nên hoa văn hiện thành viền sáng.

Kỳ lân đá và ban thờ

Cặp kỳ lân bằng đá ngồi canh trước cửa. Trong chính điện, ban giữa đặt tượng Ông Quách, hai bên là Thanh Thủy Tổ Sư và Bảo Sanh Đại Đế, các ban phối thờ có Quan Thánh Đế Quân, Ngọc Hoàng và Quán Thế Âm Bồ Tát.

Sân trời và vai trò hội quán

Khoảng sân để hở giữa các dãy nhà không chỉ là giải pháp thông khí và lấy sáng. Trong một hội quán, đây còn là chỗ cả nhóm tụ lại: chỗ bày mâm lễ vào ngày vía, chỗ người trong cộng đồng đứng bàn việc chung sau khi lễ xong. Mặt bằng chữ Công với sân trời ở giữa vì thế là hình thức hợp với một cộng đồng cần vừa thờ vừa họp.

Cũng cần nói rằng việc đưa gỗ, đá và nghệ nhân từ Phúc Kiến sang không phải chuyện trang trí. Kỹ thuật ráp mộng không đinh, lối lợp ngói âm dương ba lớp và lối uốn bờ mái đều là nghề của vùng ven biển Phúc Kiến, học bằng tay chứ không bằng bản vẽ. Muốn có đúng những thứ ấy trên đất Sa Đéc thì phải mời người biết làm sang.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất là chỗ đặt cung. Kiến An Cung không lùi vào nơi khuất nẻo mà đứng giữa khu phố cũ của Sa Đéc, ngay chỗ hai đường gặp nhau và ngó ra mặt nước con rạch. Theo lối đọc cổ truyền, chợ và bến là nơi tụ nhân, mà chỗ người tụ thì khí cũng tụ theo; chỗ hai đường gặp nhau là giao hội. Với một vị thần bản hương như Ông Quách thì lựa chọn ấy càng hợp, vì thần bản hương phải ngồi giữa chỗ dân mình ở chứ không ngồi ở rìa.

Thứ hai là mặt nước. Sa Đéc là đất bến sông, nằm trong hệ rạch nối ra sông Tiền, và công trình hướng ra một con rạch. Trong phép xem đất, nước là thứ dẫn khí và tụ khí; nơi có mặt nước trước cửa thì được coi là có minh đường thủy tụ. Ở vùng châu thổ không có núi để làm chỗ dựa, mạch nước thay hẳn vai mạch núi, nên cả lối buôn bán lẫn lối xem đất ở đây đều quy về cùng một thứ là con nước.

Thứ ba là mặt bằng chữ Công và sân trời. Các dãy nhà quây kín bốn phía quanh khoảng trống ở giữa làm thành thế tàng phong tụ khí, tức chắn gió mà giữ khí, thế được sách địa lý cổ coi là vững nhất cho nơi cần yên. Công trình mở toang ra phố thì khí đi thẳng qua mà không dừng; quây lại thì khí có chỗ ở. Khoảng sân trời giữ đúng vai một minh đường nhỏ, và trong khuôn đất chật giữa phố buôn bán thì đó là cách duy nhất làm được điều ấy.

Cuối cùng là cái mái. Bờ mái uốn cong thành từng đợt là mô típ tạo hình của vùng ven biển Phúc Kiến, thường được ví với hình sóng hoặc thân rồng. Đọc theo phong thủy thì đường cong ấy còn một nghĩa nữa: mái thẳng cắt gió thành luồng sắc, còn mái cong đưa gió trượt đi, mà nơi thờ tự cần khí chậm. Xin nhắc lại rằng những người dựng cung làm theo truyền thống tạo hình và kinh nghiệm khí hậu của nghề mình, chứ không theo một cuốn sách địa lý cụ thể nào.

Lễ Vía Ông Quách

Cung có hai kỳ vía lớn trong năm, cả hai đều rơi vào ngày 22 và cả hai đều gắn với thân thế của vị thần theo cách kể của cộng đồng: ngày 22 tháng Hai là ngày sinh, ngày 22 tháng Tám là ngày ông thành đạo, mà một số bản kể lại gọi là ngày mất.

Các mốc tính theo âm lịch. Bài không ghi giờ giấc vì lịch nghi thức từng năm do ban quản trị định. Nguồn: Tư liệu tại di tích và các bài khảo cứu, bản tin về Kiến An Cung..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Ngày 22 tháng HaiVía Ông Quách, ngày sinhKỳ vía lớn trong năm, do ban quản trị cung đảm nhiệm. Sân trời là chỗ bày lễ và diễn xướng.
Ngày 22 tháng TámVía Ông Quách, ngày thành đạoKỳ vía thứ hai, giữ đủ phần tế và dâng hương. Một số bản kể gọi đây là ngày mất.
Ba năm một lầnTrai đàn cầu siêuLễ cúng chay lớn, cầu siêu cho người đã mất và cầu quốc thái dân an, theo chu kỳ ba năm.
Từ mùng một Tết tới rằm tháng GiêngLễ đầu nămQuãng đông người nhất trong năm. Cung treo đèn lồng, người tới dâng hương và thỉnh lộc.
Rằm và mùng một hằng thángLễ thường kỳLệ dâng hương định kỳ theo lịch âm, quy mô gọn, giữ đều quanh năm.
Quanh nămViệc chung của hội quánCác việc tương trợ trong cộng đồng và phần hương khói cho những người Phúc Kiến không có thân nhân.

Một điểm đáng để ý trong nếp lễ ở đây là lễ vật theo lệ Phúc Kiến, tức bộ mâm gồm các món mặn và ngũ quả bày theo thứ tự riêng của nhóm, khác lệ bày lễ của người Kinh. Kỳ trai đàn ba năm một lần cũng là chỗ thấy rõ chức năng hội quán: lễ ấy còn cúng cho lớp người đã mất mà không ai thờ, và đòi cả nhóm cùng góp vào mới làm được.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 39 đường Phan Bội Châu, góc Trần Hưng Đạo, phường Sa Đéc, Đồng Tháp
Đường tới
Nằm ở phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, thuộc địa bàn thành phố Sa Đéc cũ, ngay chỗ đường Trần Hưng Đạo gặp đường Phan Bội Châu trong khu phố cũ. Đi bộ được từ chợ Sa Đéc và bờ rạch.
Toạ độ
10.2947, 105.7608
Khi tới nơi

Đây là cung miếu đang hoạt động, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào các bức tranh vẽ trên vách vì lớp màu dễ mòn, không chạm vào cửa võng thếp vàng và cặp kỳ lân đá. Nhang và lễ vật xin gửi đúng chỗ người trông coi chỉ. Hai kỳ vía tháng Hai và tháng Tám, sân trời dành cho nghi thức, xin giữ khoảng trống.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Kiến An Cung thờ ai

Ban chính thờ Quảng Trạch Tôn Vương, dân gian gọi Ông Quách, một vị thần bản hương của vùng Phúc Kiến. Hai bên thờ Thanh Thủy Tổ Sư là tổ nghề thuốc và Bảo Sanh Đại Đế coi việc sinh nở; các ban phối thờ có Quan Thánh Đế Quân, Ngọc Hoàng và Quán Thế Âm Bồ Tát.

Chùa Ông Quách có phải chùa Phật không

Không. Đây là cung miếu kiêm hội quán của người Hoa gốc Phúc Kiến, thuộc tín ngưỡng dân gian Hoa pha Đạo Giáo. Bên trong không có tam bảo, không có tăng chúng trụ trì, ban chính đặt tượng Ông Quách chứ không đặt tượng Phật, việc trông coi do ban quản trị của cộng đồng đảm nhiệm.

Vì sao dân gian lại gọi là chùa

Vì người Việt Nam Bộ từ lâu dùng chữ chùa rộng ra cho cả cung miếu thờ thần của người Hoa, nên mới có chùa Ông, chùa Bà, chùa Ông Bổn và ở Sa Đéc là chùa Ông Quách. Tên chữ trên biển vẫn là Kiến An Cung, mà chữ cung chỉ nơi thờ một vị thần có phẩm vị cao.

Kiến An Cung xây năm nào

Khởi công năm Giáp Tý 1924 và hoàn thành mùa thu năm Đinh Mão 1927, đúng ba năm. Công trình do cộng đồng người Hoa gốc Phúc Kiến ở Sa Đéc góp dựng, gỗ đá và một phần nghệ nhân đưa từ Phúc Kiến sang làm cùng thợ địa phương. Xếp hạng di tích quốc gia ngày 27 tháng 4 năm 1990.

Lễ vía Ông Quách vào ngày nào

Hai kỳ trong năm, đều vào ngày 22 âm lịch. Ngày 22 tháng Hai là ngày sinh của Ông Quách theo cách kể của cộng đồng, cũng là kỳ vía lớn. Ngày 22 tháng Tám là ngày ông thành đạo, mà một số bản kể gọi là ngày mất. Ngoài ra ba năm một lần có kỳ trai đàn cầu siêu.

Đọc Tiếp