Đi hết đường Cao Văn Lầu về phía biển, quý vị bước vào một khoảnh sân rộng trải phẳng, không có mái che, và ở cuối sân là một pho tượng trắng cao chừng mười một mét đứng trên bệ, tay nâng bình cam lộ, mặt hướng ra phía đông nam. Phía sau tượng không có núi, không có vách, chỉ có trời và một vành cây ngập mặn thấp. Gió ở đây mặn và thổi gần như suốt ngày, nên câu kinh người ta đọc trước tượng thường bị gió cắt mất một nửa.
Người dân gọi nơi này là Mẹ Nam Hải, có nơi gọi là chùa Mẹ Nam Hải hoặc Phật Bà Nam Hải. Tên chính thức thì khác: Quan Âm Phật Đài. Hai cách gọi ấy nói hai chuyện riêng. Chữ Phật đài cho biết đây là một khu thờ lộ thiên dựng quanh một pho tượng lớn, còn chữ Nam Hải cho biết vì sao dân đi biển vùng này nhận vị Bồ Tát ấy làm chỗ trông cậy của riêng mình.
壹Tên Gọi Và Vị Bồ Tát Được Thờ
Tên chính thức của nơi này là Quan Âm Phật Đài. Chữ Phật đài chỉ một khu thờ dựng quanh một pho tượng lớn đặt lộ thiên, khác chữ chùa vốn chỉ cơ sở có chánh điện và chư tăng thường trú. Về sau khu này có thêm các điện thờ nên cách gọi chùa cũng thành quen, nhưng phần cốt vẫn là pho tượng ngoài trời. Bốn chữ Hán 觀音佛臺 mà thư viện đặt ở đầu bài là chữ do chúng tôi suy ra từ chính tên tiếng Việt, không phải chữ chép từ một bức hoành phi nào ở đây.
Chữ Nam Hải nghĩa là biển phương nam. Trong Phật Giáo Bắc Tông vùng Đông Á, Quán Thế Âm được gắn với biển từ rất sớm, và danh hiệu Nam Hải Quán Âm đi theo người đi biển suốt nhiều thế kỷ. Lớp dân chài lập ấp dọc bờ biển này mang theo danh hiệu ấy, và tên Mẹ Nam Hải thành tên gọi tại chỗ.
Quán Thế Âm, tiếng Phạn là Avalokiteśvara, là một vị Bồ Tát trong hệ kinh điển Đại thừa mà Phật Giáo Bắc Tông giữ. Danh hiệu được giải là bậc quán xét tiếng kêu của thế gian: hạnh nguyện của một vị đã đủ điều kiện chứng quả mà tự nguyện lùi lại để cứu độ, và phương tiện chính của hạnh nguyện ấy là lắng nghe.
Phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa là bản văn then chốt của tín ngưỡng này. Phẩm ấy chép rằng Bồ Tát tùy chỗ cần mà hiện thân dưới nhiều hóa thân, có thân nam, thân nữ, thân trẻ, thân người tu và thân người thường. Chỗ ấy giải thích vì sao một vị Bồ Tát thường được tạc dưới hình tướng nữ, và vì sao ở sân lễ có một dãy tượng hóa thân chứ không phải một pho duy nhất. Phẩm này cũng chép riêng việc Bồ Tát cứu người gặp nạn trên biển, gốc giáo nghĩa của danh hiệu Nam Hải Quán Âm và là lý do pho tượng được dựng quay mặt ra biển.
Trên phương diện tư liệu, đây là một cơ sở Phật Giáo Bắc Tông, tức dòng Đại thừa mà phần lớn người Kinh theo, chứ không phải cơ sở Nam Tông. Điều ấy thấy ngay ở hệ thờ tự: ngoài pho tượng Quán Thế Âm còn có điện thờ Thiên Thủ Quán Âm và điện thờ Địa Tạng Bồ Tát, hai vị đều thuộc hệ Bồ Tát Đại thừa và không có trong hệ thờ tự Nam Tông.
Cần ghi thêm rằng Bạc Liêu cũ là nơi ba cộng đồng Kinh, Hoa và Khmer sống đan nhau, nên quanh đây có đủ chùa Bắc Tông của người Kinh, chùa Nam Tông Khmer và miếu thờ Thiên Hậu của người Hoa; ba hệ ấy khác nhau về tông phái và đối tượng thờ tự.
Chỗ hay hiểu lầm nhất ở đây là cái tên Mẹ Nam Hải. Không ít người nghe chữ Mẹ rồi hiểu rằng đây là một nữ thần biển của người Việt, một vị trong hàng Mẫu, cùng loại với Thiên Hậu Thánh Mẫu của người Hoa hay Bà Chúa Xứ. Xét theo giáo nghĩa thì không phải, và xin nói rõ chỗ khác nhau bằng giọng sử liệu, không xếp bên nào cao hơn bên nào.
Quán Thế Âm là một vị Bồ Tát trong hệ kinh điển Đại thừa, có bản văn là phẩm Phổ Môn, có hạnh nguyện được định rõ, và hình tướng nữ chỉ là một trong nhiều hóa thân mà bản văn ấy kể ra. Thiên Hậu Thánh Mẫu là một vị thần trong tín ngưỡng dân gian của người Hoa, gốc là một người con gái ở Phúc Kiến được cộng đồng đi biển phong thần, thờ trong hội quán và miếu. Bà Chúa Xứ là một vị thần bản địa của vùng Nam Bộ, thờ trong miếu. Ba vị thuộc ba hệ khác nhau.
Cách gọi Mẹ không sai và cũng không mới: đó là lối gọi thân của người bình dân dành cho một vị mà họ đặt trọn lòng trông cậy, và lối ấy có khắp nơi trong nếp thờ tự Việt Nam. Điều cần phân biệt chỉ là: cái tên thuộc về cách gọi của dân, còn vị được thờ thuộc về hệ giáo nghĩa của Phật Giáo Bắc Tông.
貳Từ Ngôi Nhà Lá Của Dân Chài
Nơi này không bắt đầu bằng một công trình mà bằng một chỗ dừng chân. Theo tư liệu, trước khi có tượng thì chỉ có một ngôi nhà rộng lợp cây lá dựng ven biển giữa rừng đước và bãi bùn, nơi người đi biển ghé lễ trước khi ra khơi và sau khi về bờ.
- Trước năm 1973Ngôi nhà lá ven biểnMột ngôi nhà rộng lợp cây lá dựng ven biển giữa rừng đước và bãi bùn, làm nơi lễ bái cho dân đi biển. Tư liệu không ghi rõ năm dựng.
- 1973Khởi dựng pho tượng Quán Thế ÂmHòa thượng Thích Trí Đức chủ trì việc dựng pho tượng Quán Thế Âm lộ thiên, quay mặt ra biển. Đây là mốc bảng dữ liệu của thư viện lấy làm năm khởi dựng.
- 1975Tượng hoàn thànhPho tượng hoàn thành vào đầu năm 1975. Khi ấy tượng đứng ngay sát mé biển, chân bệ gần với mực nước lúc triều lên.
- 1995Tu sửa chân đế tượngPhần chân đế của pho tượng được tu sửa. Đây là hạng mục phải làm lại nhiều lần vì nền đất ven biển mềm và vì hơi muối trong gió.
- Khoảng 2010 tới 2013Dựng các công trình trong khuCổng tam quan, điện Thiên Thủ, điện Địa Tạng, nhà chư tăng và nhà khách lần lượt hoàn thành. Khu thờ từ một pho tượng ngoài trời thành một quần thể nhiều hạng mục.
- 2021San lấp mở rộng khuôn viênPhần đất được san lấp để mở rộng khuôn viên, chủ yếu lấy vào phần bãi bồi phía biển, khiến khoảng cách từ tượng ra mặt nước dài thêm.
- NayChỗ hành hương của cả vùngNơi này trở thành điểm hành hương lớn nhất vùng ven biển Bạc Liêu cũ, với lễ hội Quán Âm Nam Hải là một kỳ lễ lớn của địa phương.
Có một chuyện thuộc về địa lý hơn là về xây dựng, nhưng lại nằm trong lịch sử của chính nơi này: đất bồi. Khi pho tượng dựng xong, tượng đứng sát mé biển; nửa thế kỷ sau, bãi bồi đã lấn ra và mặt nước lùi xa. Các nguồn ghi khoảng cách ấy khác nhau, có nguồn ghi gần một cây số, và con số còn đổi theo từng năm vì việc bồi tụ chưa dừng. Điều đáng ghi nằm ở chỗ khác: một pho tượng dựng để nhìn ra biển, sau năm mươi năm, lại thành pho tượng nhìn ra đất.
參Pho Tượng Lộ Thiên Và Quần Thể Quanh Nó
Bố cục của khu này rất đơn giản và vì đơn giản nên mạnh: một trục thẳng chạy từ cổng, qua sân lễ dài, tới pho tượng ở cuối trục, phía sau tượng là biển. Không có mái che trên trục ấy, nên pho tượng lớn dần lên trong tầm mắt theo từng bước. Đây là cách bài trí quen của các khu Phật đài lộ thiên, khác lối chùa Bắc Tông cổ truyền vốn dẫn người qua nhiều lớp nhà trước khi cho thấy tượng.
Tượng đứng, sắc trắng, cao khoảng mười một mét không tính bệ, đặt trên bệ nhiều cấp và quay mặt ra biển, tạc theo hình tướng quen của Quán Thế Âm trong nếp Bắc Tông: tay nâng bình cam lộ, tay kia bắt ấn, đầu đội mũ có hình Phật nhỏ phía trước. Phần chân đế đã qua tu sửa vì nền đất ven biển mềm và hơi muối trong gió.
Cổng tam quan mở vào trục chính, phía trong còn một lớp cổng mà tư liệu gọi là cổng trời, cùng một bức bình phong. Các lớp cổng chia trục đi thành từng chặng trước khi tới sân lễ.
Điện thờ Thiên Thủ Quán Âm, tức Quán Âm nghìn tay, hình ảnh của sức cứu độ trải khắp với mỗi tay một phương tiện; và điện thờ Địa Tạng Bồ Tát, vị mà hệ Đại thừa gắn với hạnh nguyện cứu độ nơi cõi khổ. Sự có mặt của hai điện này là dấu rõ cho biết đây là cơ sở Bắc Tông.
Ở sân lễ có một dãy tượng hóa thân của Bồ Tát, tư liệu ghi con số 32, lấy từ nội dung phẩm Phổ Môn chép rằng Bồ Tát tùy chỗ cần mà hiện thân dưới nhiều hình tướng.
Hai chỗ các nguồn ghi khác nhau, xin nêu thẳng thay vì chọn bừa một con số.
Chiều cao pho tượng. Phần lớn tư liệu ghi tượng cao 11 mét không tính bệ, và bảng dữ liệu của thư viện cũng lấy con số ấy. Một nguồn lại ghi rằng tượng ban đầu cao 11 mét và về sau được nâng lên 12 mét. Chúng tôi không tìm được tư liệu thứ hai xác nhận việc nâng, nên ghi cả hai con số; chênh lệch một mét giữa các nguồn nói về tượng lớn thường đến từ chỗ có nguồn tính cả một cấp bệ, có nguồn không.
Diện tích khuôn viên. Một nguồn ghi khoảng 3 hecta tính ở thời điểm năm 2013; một nguồn khác ghi hơn 49.000 mét vuông; lại có tư liệu nhắc tới một dự án mở rộng lên tới 98,5 hecta. Ba con số thuộc ba việc khác nhau: phần đã xây, phần khuôn viên hiện có sau khi san lấp, và phần quy hoạch dự kiến.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, không phải điều được chép trong tư liệu của nơi này. Cần nói thêm rằng hướng của pho tượng đã được định sẵn bằng một lý do thuộc giáo nghĩa: phẩm Phổ Môn chép việc Bồ Tát cứu người gặp nạn trên biển, và dân đi biển dựng tượng quay ra biển vì lẽ ấy, không vì một phép chọn hướng nào. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Trước hết là mặt nước trước tượng. Nơi này không có núi để tựa, không có sông để dẫn, chỉ có một thứ nước duy nhất mà lại là thứ lớn nhất: biển. Trong phép xem đất, khoảng đất bằng trước cửa gọi là minh đường, và sách xưa đòi minh đường phải rộng, bằng và sáng; ở đây minh đường là cả một vùng biển mở. Nhưng phép cũ cũng dặn kèm: minh đường quá rộng mà không có gì che thì khí dễ tán, nên cái được ở chỗ này lại là cái mất ở chỗ kia.
Thứ hai là vành rừng ngập mặn. Cây đước và các loài chịu mặn mọc thành dải trước và bên khu thờ. Theo lối đọc cổ truyền, một vành cây thấp trải trước mặt nước lớn giữ vai án sa, tức lớp che thấp phía trước, làm cho minh đường quá rộng có được một giới hạn. Hai cách nhìn gặp nhau ở đây khá đẹp: người trồng đước là để chắn sóng và giữ đất, còn con mắt phong thủy cũ gọi đúng cái dải ấy là thứ giữ cho khí đừng tán ra biển.
Thứ ba là chuyện đất bồi, điều đáng đọc nhất ở nơi này. Trong lối đọc cổ truyền, đất tự lấn ra phía trước một công trình thờ tự được gọi là đất tiến hoặc đất nở, và người xưa coi đó là điềm của sự thêm chứ không phải sự bớt. Chúng tôi ghi nhận xét ấy đúng như một cách đọc cổ truyền, và nói ngay nguyên nhân thật: vùng này nằm trong địa bàn bồi tụ của hệ cửa sông Cửu Long, cộng với việc rừng ngập mặn giữ bùn và việc san lấp của con người. Đó là địa chất và là công việc, không phải điềm.
Sau cùng là chỗ cao và hướng. Cả vùng này là đất thấp và phẳng, không có điểm cao tự nhiên nào, nên pho tượng trên bệ thành vật cao nhất trong một tầm mắt rất rộng; theo lối đọc cũ, ở vùng không có núi thì công trình cao nhất giữ vai chủ tinh, tức điểm quy tụ. Tượng quay mặt về phía biển, tức về khoảng đông nam, phương của khí ấm và gió lành mùa hè, mà phép cũ coi là thế thuận. Cái phải trả giá cũng rõ: gió biển mang hơi muối thổi thẳng vào mặt tượng suốt năm. Một thế đất thuận trong sách không có nghĩa là một thế đất dễ giữ ngoài đời.
伍Ba Lễ Vía Quán Âm Và Lễ Hội Nam Hải
Lịch lễ ở đây có hai lớp. Lớp thứ nhất là ba lễ vía Quán Âm, tức ba ngày mười chín của tháng Hai, tháng Sáu và tháng Chín âm lịch, những ngày Phật Giáo Bắc Tông vùng Đông Á giữ chung cho vị Bồ Tát này. Lớp thứ hai là lễ hội Quán Âm Nam Hải, kỳ lễ riêng của chính nơi này, mở ba ngày cuối tháng Ba âm lịch và là kỳ đông người nhất trong năm.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| 19 tháng Hai | Vía Quán Âm đản sinh | Ngày vía thứ nhất trong năm, kính ngày Bồ Tát đản sinh. Có lễ dâng hương, tụng phẩm Phổ Môn và trì niệm danh hiệu Bồ Tát. |
| 22, 23 và 24 tháng Ba | Lễ hội Quán Âm Nam Hải | Kỳ lễ lớn nhất trong năm của nơi này. Phần lễ gồm dâng hương cầu an, thỉnh thánh, thuyết pháp và rước Quán Âm; phần hội có triển lãm hình ảnh, hát bội và văn nghệ. |
| Rằm tháng Tư | Đại lễ Phật Đản | Lễ kính ngày đản sinh của Đức Phật Thích Ca, theo lịch chung của Bắc Tông cả nước. |
| 19 tháng Sáu | Vía Quán Âm thành đạo | Ngày vía thứ hai, kính ngày Bồ Tát thành đạo. Nghi thức gọn hơn kỳ lễ tháng Ba nhưng giữ đủ phần tụng niệm và dâng hương. |
| 19 tháng Chín | Vía Quán Âm xuất gia | Ngày vía thứ ba, kính ngày Bồ Tát xuất gia. Cùng với hai ngày vía trên, ba ngày này làm thành bộ ba lễ vía Quán Âm của nếp Bắc Tông. |
| Tháng Mười Một | Vía Phật A Di Đà | Lễ kính Đức Phật A Di Đà, vị Phật của cõi Tây Phương Cực Lạc trong hệ Đại thừa, theo lịch chung của Bắc Tông. |
Ngoài lịch trên, nơi này đông vào dịp đầu xuân và các ngày rằm mùng một, và đông theo một nếp riêng của vùng biển: nhiều gia đình làm nghề đi biển giữ lệ tới lễ trước mỗi chuyến đi dài và sau mỗi chuyến về. Nếp ấy không nằm trong lịch lễ nào, nhưng có trước cả pho tượng.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường Cao Văn Lầu, khóm Bờ Tây, phường Hiệp Thành (phường Nhà Mát cũ), Cà Mau
- Đường tới
- Khu Phật đài nằm ở cuối đường Cao Văn Lầu, khóm Bờ Tây, phường Hiệp Thành, tức khu vực Nhà Mát cũ, cách khu trung tâm thành phố Bạc Liêu cũ chừng tám cây số về phía biển. Đường vào là một trục thẳng, dễ tìm.
- Toạ độ
- 9.2411, 105.7622
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ của chính nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín vai kín gối, bỏ mũ khi vào các điện thờ, bỏ giày theo lệ ghi ở cửa điện, đi nhẹ và nói khẽ. Trục sân lễ trước tượng không có mái che, quý vị nên tính trước chuyện nắng và gió mặn. Hương đèn xin đặt đúng chỗ nhà chùa đã sắp, không cắm hương vào bệ tượng và không leo lên các cấp bệ.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Quan Âm Phật Đài Bạc Liêu thờ ai
Thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, vị Bồ Tát trong hệ kinh điển Đại thừa mà Phật Giáo Bắc Tông giữ, ở đây mang danh hiệu Nam Hải Quán Âm và được dân gọi là Mẹ Nam Hải. Trong khu còn có điện thờ Thiên Thủ Quán Âm, điện thờ Địa Tạng Bồ Tát và một dãy tượng hóa thân ở sân lễ.
Mẹ Nam Hải có phải một nữ thần biển không
Không. Quán Thế Âm là một vị Bồ Tát của Phật Giáo Đại thừa, có bản văn là phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, và hình tướng nữ chỉ là một trong nhiều hóa thân bản văn ấy kể ra. Vị này khác Thiên Hậu Thánh Mẫu của người Hoa và khác Bà Chúa Xứ là thần bản địa Nam Bộ.
Tượng Mẹ Nam Hải cao bao nhiêu mét
Phần lớn tư liệu ghi tượng cao 11 mét không tính bệ, dựng từ năm 1973 và hoàn thành đầu năm 1975. Một nguồn ghi tượng về sau được nâng lên 12 mét, nhưng không có tư liệu thứ hai xác nhận nên chúng tôi ghi cả hai con số.
Vì sao tượng bây giờ không còn sát biển nữa
Vì đất bồi. Khi tượng hoàn thành năm 1975 thì tượng đứng sát mé biển; sau nửa thế kỷ, bãi bồi lấn ra và mặt nước lùi xa, có nguồn ghi khoảng cách gần một cây số. Nguyên nhân là bồi tụ phù sa của vùng ven biển Tây Nam Bộ, rừng ngập mặn giữ bùn, cộng với việc san lấp mở rộng khuôn viên.
Lễ lớn nhất ở Quan Âm Phật Đài là ngày nào
Lễ hội Quán Âm Nam Hải, mở ba ngày 22, 23 và 24 tháng Ba âm lịch, là kỳ đông người nhất trong năm. Ngoài ra có ba lễ vía Quán Âm vào ngày mười chín tháng Hai, tháng Sáu và tháng Chín âm lịch, cùng đại lễ Phật Đản rằm tháng Tư theo lịch chung của Bắc Tông.