VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Kh'leang

· Chùa Khleang, Wat Kh'leang

Ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông Khmer lâu đời nhất vùng Sóc Trăng, mang chính cái tên mà địa danh Sóc Trăng phiên ra từ đó, và là trường học của cả cộng đồng.

Khởi dựng
1533
một số nguồn ghi năm 1532, ngày 16 tháng 12 Phật lịch 2076
Chánh điện hiện còn
1918
xây lại, có nghệ nhân từ Campuchia góp công
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng ngày 27 tháng 4 năm 1990

Từ đường Tôn Đức Thắng nhìn vào, quý vị thấy trước tiên một dãy lan can nhiều màu chạy quanh cái nền cao ba cấp, mỗi cấp chừng một mét. Trên nền ấy là toà chánh điện mái xếp ba lớp, đầu mái vút cong thành hình đuôi rồng Naga, còn ở đầu mỗi cột hành lang có một pho chim thần Krud chống hai tay đỡ lấy mái. Bước lên bậc, quý vị đi qua những pho Yeak, tức tượng chằn, đứng gác hai bên.

Vào trong thì gặp một điều không thấy ở chùa Khmer nào khác trong vùng: hàng cột gỗ lớn sơn mài đen, trên cột có chữ Hán, có hình cá chép và rồng vàng vẽ theo lối thợ Trung Hoa. Đây là chùa Phật Giáo Nam Tông Khmer, nhưng trên chính hàng cột đỡ mái lại có tay của ba lớp thợ Khmer, Hoa và Việt. Và cái tên chùa, Kh'leang, chính là chữ mà địa danh Sóc Trăng phiên ra từ đó.

Chùa Kh'leang
Chùa Kh'leang. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Kh'leang Và Gốc Tên Đất Sóc Trăng

Trong tiếng Khmer, kh'leang nghĩa là cái kho. Chùa mang tên ấy vì vùng đất này xưa có một kho của, và tên chùa giữ lại tên đất. Người Khmer gọi chùa là Wat Kh'leang; người Việt viết thành Kh'leang, Khleang hoặc Khléang, cách viết chưa thống nhất giữa các tài liệu.

Theo sử liệu

Điều đáng nói nhất về cái tên này là nó đi ra ngoài khuôn viên chùa để thành tên của cả một vùng. Theo cách giải được dùng rộng rãi trong tư liệu về địa danh Nam Bộ, Sóc Trăng là dạng phiên âm của tiếng Khmer Srok Kh'leang: srok nghĩa là xứ, là vùng đất, còn kh'leang là kho. Ghép lại thành xứ có kho, và theo lời truyền trong vùng thì đó là kho chứa bạc của nhà vua. Chữ Hán Việt dùng trong văn bản triều Nguyễn là Sông Trăng và Nguyệt Giang.

Như vậy chùa và đất cùng đứng trên một chữ, mà chữ ấy nói về một cái kho chứ không nói về chùa. Đọc tên chùa là đọc được lai lịch của cả địa danh tỉnh cũ.

Theo giáo nghĩa

Đây là chùa của Phật Giáo Nam Tông Khmer, tức dòng Theravada theo hệ kinh điển Pali. Dòng này khác dòng Bắc Tông của người Kinh ở những điểm sau, xin ghi bằng giọng sử liệu, không xếp bên nào cao hơn bên nào.

Đối tượng thờ. Chánh điện chỉ thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, không thờ vị Phật nào khác và không thờ Bồ Tát. Chùa Bắc Tông thờ nhiều lớp gồm Tam Thế, A Di Đà, Quan Thế Âm, Địa Tạng, cùng ban Đức Ông, ban Đức Thánh Hiền, nhiều nơi có cả ban Mẫu.

Kinh và nếp tu. Nam Tông Khmer tụng kinh tiếng Pali, giảng và viết bằng chữ Khmer, nên chùa Khmer không có tên chữ Hán; Bắc Tông tụng kinh chữ Hán đọc theo âm Hán Việt. Sư Nam Tông Khmer giữ giới theo Phật Giáo nguyên thủy, đi khất thực, ăn hai bữa và dứt bữa trước giữa trưa, không giữ lệ ăn chay trường; áo cà sa màu vàng cam thay vì màu nâu hoặc màu lam.

Vai trò của chùa. Đây là chỗ khác lớn nhất. Theo lệ Khmer, con trai trong làng tới tuổi trên mười hai thường vào chùa xuất gia một thời gian, ít thì bảy ngày, nhiều thì ba tháng hoặc vài năm, và trong thời gian ấy học chữ Khmer, học kinh Pali, học phép ăn ở. Ngôi chùa Khmer vì thế là trường học của làng, là nơi giữ chữ viết và sách vở, là nhà hội của cả cộng đồng; chùa Bắc Tông không đảm nhiệm những việc ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nằm ở địa danh chứ không ở ngôi chùa.

Nhiều người đọc hai chữ Sóc Trăng rồi hiểu theo nghĩa tiếng Việt, đoán là bãi trăng, sông trăng hoặc một cái tên tả cảnh. Theo tư liệu về địa danh Nam Bộ thì không phải vậy: đây là dạng phiên âm của tiếng Khmer Srok Kh'leang, xứ có kho. Dạng Nguyệt GiangSông Trăng xuất hiện về sau, khi người soạn văn bản đọc âm Trăng rồi hiểu theo nghĩa mặt trăng. Nghĩa mặt trăng là nghĩa gán vào sau, còn nghĩa gốc nằm trong tiếng Khmer và nằm ngay trong tên ngôi chùa này. Cần nói thêm rằng cách giải Srok Kh'leang là cách phổ biến nhất chứ không phải duy nhất; các sách về địa danh Nam Bộ còn nêu vài cách khác, nên vấn đề chưa khép lại.

Gần Năm Trăm Năm Và Ba Lớp Tay Thợ

Chùa dựng vào thế kỷ 16, khi vùng này còn thưa người, trên khu đất rộng khoảng 3.825 mét vuông cạnh dòng nước chảy qua trung tâm Sóc Trăng cũ. Buổi đầu chùa làm bằng tre, gỗ và lá; cái mà quý vị thấy hôm nay thuộc lớp đầu thế kỷ 20.

  • 1533Khởi dựng
    Chùa được dựng bằng tre gỗ lợp lá. Đây là niên đại dùng trong bảng tư liệu và phần lớn bài viết; một số nguồn ghi năm 1532, chi tiết nêu ngay dưới đây.
  • Các thế kỷ 17 tới 19Dựng lại bằng gạch ngói
    Chùa được dựng lại nhiều lần bằng vật liệu bền hơn, dần thành khối chánh điện trên nền cao ba cấp cùng các dãy sala, tăng phòng và khu tháp cốt.
  • 1916Pho tượng Phật chính
    Theo một nguồn, thân pho tượng Phật Thích Ca trong chánh điện được tạo vào năm này, trước khi chánh điện xây lại.
  • 1918Xây lại chánh điện và sala
    Chánh điện cùng sala được xây lại, có nghệ nhân từ Campuchia sang góp công. Bộ khung, hàng cột gỗ sơn mài và phần lớn trang trí còn thấy hôm nay thuộc lần dựng này.
  • 1990Di tích quốc gia
    Ngày 27 tháng 4 năm 1990, chùa được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
  • Các thập niên gần đâyTrường Pali đặt tại chùa
    Trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ đặt trong khuôn viên chùa, dạy tiếng Pali, chữ Khmer và văn hóa cho tăng sinh cùng học sinh Khmer các tỉnh trong vùng.
  • Gần đâySách lá buông chuyển về bảo tàng
    Bộ sách lá buông chùa giữ lâu năm được chuyển về Bảo tàng Văn hóa Khmer tại Sóc Trăng để bảo quản, theo một bản tin phát thanh đối ngoại.
Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau, xin ghi cả. Về năm khởi dựng, bảng tư liệu và nhiều bài viết ghi năm 1533; một số nguồn ghi cụ thể hơn là ngày 16 tháng 12 Phật lịch 2076, đổi ra năm 1532, và báo Thanh Niên cũng dùng con số 1532. Hai con số lệch nhau một năm, rất có thể do cách đổi giữa lịch Phật và lịch thường ở chỗ giao năm, nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nói dứt điểm nên ghi cả hai.

Về hàng cột chánh điện, nguồn vênh rõ hơn. Một bài báo ghi 12 cột gỗ quý bên trong; một tư liệu Phật học ghi 60 cột gỗ xếp sáu hàng đỡ mái, trên mặt bằng khoảng 24 mét nhân 13 mét. Có lẽ con số nhỏ đếm riêng cột sơn mài lớn ở gian giữa, con số lớn đếm toàn bộ cột đỡ mái. Chúng tôi ghi cả hai.

Về pho tượng Phật, một nguồn ghi tượng cao 2,2 mét trên toà sen cao 2,5 mét; nguồn khác ghi cả khối tượng và bệ cao 6,8 mét với thân tượng 2,7 mét. Chúng tôi chưa tra được hồ sơ di tích để chốt.

Chánh Điện, Hàng Cột Sơn Mài Và Sách Lá Buông

Các hạng mục đặt rải quanh khối chánh điện đứng giữa trên nền cao, theo lệ chung của chùa Nam Tông Khmer. Riêng phần trang trí thì ở đây có một nét không giống chùa Khmer nào khác trong vùng, và đó là chỗ khiến chùa được xem như khuôn mẫu cho các chùa khác ở Sóc Trăng cũ.

Nền ba cấp và hệ mái

Chánh điện đặt trên nền nâng ba cấp, mỗi cấp chừng một mét, quanh nền là lan can nhiều màu. Mái xếp ba lớp chồng lên nhau, đầu mái vút cong thành hình đuôi rồng Naga, tạo dáng mái rất cao so với thân nhà.

Hàng cột gỗ sơn mài

Trong chánh điện là hàng cột gỗ lớn sơn mài đen, trên cột có chữ Hán, hình cá chép và rồng vàng vẽ theo lối thợ Trung Hoa, xen hình các chặng trong đời Đức Phật vẽ theo lối Khmer. Có nguồn ghi 12 cột gỗ quý, nguồn khác ghi 60 cột xếp sáu hàng.

Tượng Phật Thích Ca

Giữa chánh điện là pho tượng Phật Thích Ca đặt trên toà sen cao, tượng duy nhất giữ vị trí chủ trong gian thờ; kích thước các nguồn ghi khác nhau, chi tiết nêu ở phần lịch sử. Quanh pho chính có các tượng Phật nhỏ hơn bằng nhiều chất liệu.

Krud, Yeak và Tiahu

Ở đầu cột hành lang có tượng chim thần Krud chống tay đỡ mái, hai bên bậc lên có tượng chằn Yeak và tượng Tiahu đứng gác. Đây là mô típ đặc trưng của nghệ thuật Khmer.

Sala và trường Pali

Sala là nhà hội của chùa, nơi làm lễ đông người và nơi dạy học. Trong khuôn viên còn có Trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ, dạy tiếng Pali, chữ Khmer và văn hóa cho tăng sinh và học sinh Khmer trong vùng.

Sách lá buông

Chùa lâu năm giữ một bộ sách viết trên lá buông, tức lá một loài cây họ cọ được xử lý rồi khắc chữ Khmer lên, nội dung gồm kinh Phật, bài thuốc và tri thức cộng đồng. Bộ sách đã chuyển về Bảo tàng Văn hóa Khmer để bảo quản.

Hai chữ lá buông đáng nói thêm. Trước khi có giấy dùng rộng rãi, người Khmer chép kinh bằng cách xử lý lá buông cho phẳng và bền, dùng bút sắt khắc chữ lên mặt lá, xoa mực vào vết khắc cho chữ hiện lên, rồi xâu các lá thành tập. Một bộ sách như vậy phải làm rất lâu và chỉ có chùa mới đủ người, đủ chữ và đủ chỗ để làm. Đó là lý do ngôi chùa Khmer đồng thời là thư viện: sách không nằm ở nhà dân mà nằm ở chùa.

Chỗ hay hiểu lầm

Chùa Kh'leang thường được nhắc như ngôi chùa mang cả ba lớp nghệ thuật Khmer, Hoa và Việt. Điều ấy đúng về trang trí, nhưng đôi khi bị đọc thành ra rằng đây là chùa pha trộn tín ngưỡng.

Nói cho đúng thì tông phái ở đây thuần một dòng: Phật Giáo Nam Tông Khmer. Chánh điện chỉ thờ Phật Thích Ca, kinh tụng bằng tiếng Pali, lịch lễ theo lịch Khmer, không có ban thờ nào của Bắc Tông và không có ban thờ thần nào của người Hoa. Chỗ ba lớp gặp nhau là chỗ tay thợ. Đó là dấu của một vùng đất mà ba cộng đồng sống cạnh nhau và thuê thợ của nhau, chứ không phải dấu của việc trộn đạo.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, không phải điều được chép trong văn bản của chùa hay trong hồ sơ di tích. Xin nói rõ thêm: Phật Giáo Nam Tông Khmer không dạy phong thủy. Hướng chánh điện chùa Khmer định theo quy tắc riêng của dòng này, tức mặt tiền quay về hướng Đông, theo tích Đức Phật thành đạo trong thế ngồi mặt hướng về phía Đông. Phần dưới đây chỉ là chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt.

Thế đất và hướng

Trước hết là cái tên. Đất này mang tên kho, theo lời truyền là kho chứa bạc. Người xưa không đặt kho ở chỗ trũng dễ ngập, cũng không đặt ở chỗ trống dễ mất, mà đặt ở gò cao gần đường nước, nơi thuyền tới được mà nước không lên tới. Đọc theo lối cũ thì việc một cái kho từng nằm ở đây đã là chỉ dấu cho biết thế đất: cao, kín, gần nước.

Kế đến là nước. Chùa nằm cạnh dòng nước chảy qua trung tâm Sóc Trăng cũ, mà chính dòng nước ấy về sau được chép thành Sông Trăng trong văn bản Hán Việt. Cả vùng châu thổ này không có núi, nên phép xem đất đồng bằng lấy mạch nước thay cho mạch núi: dòng chảy dẫn khí, còn ao hồ tụ khí. Chùa dựng trên gò cao bên dòng nước là thế thường gặp nhất của chùa Khmer Nam Bộ, vừa hợp phép cũ vừa hợp lẽ thường của vùng ngập theo mùa.

Thứ ba là hướng Đông. Phương Đông trong phép cũ thuộc hành Mộc, là phương mặt trời mọc, phương của khí sinh phát trong ngày. Một toà nhà quay mặt về Đông thì buổi sáng nhận sáng trực tiếp vào giữa gian thờ, buổi chiều tránh được nắng gắt hắt vào mặt tiền. Điểm đáng chú ý là lệ tôn giáo của người Khmer và lối đọc phong thủy của người Việt ở đây trùng kết luận, tuy đi từ hai lý lẽ khác hẳn.

Sau cùng là nền ba cấp. Nền cao trước hết để tránh nước, nhưng đọc theo phép cũ thì nó thay cho hậu chẩm: nơi không có núi để tựa, người ta tự đắp lấy một thế cao. Nó còn buộc người đi lễ lên ba lần bậc mới tới cửa chánh điện, mà phép cũ gọi cách buộc người ta đi chậm là cách giữ khí, không để khí và người xổ thẳng vào chỗ thờ.

Lễ Tiết Theo Lịch Khmer Và Nếp Học Ở Chùa

Lịch lễ ở đây là lịch của Phật Giáo Nam Tông Khmer. Ba kỳ lớn nhất là Chôl Chnăm Thmây, Sen ĐôltaOk Om Bok; ngoài ra có chuỗi lễ theo ba tháng an cư của tăng đoàn.

Các kỳ lễ chính theo lịch Phật Giáo Nam Tông Khmer. Ngày đổi sang lịch thường dùng có thể lệch một hai ngày giữa các năm. Nguồn: Tài liệu giới thiệu Phật Giáo Nam Tông Khmer của cơ quan quản lý tôn giáo và các bài viết về chùa Kh'leang..
Thời điểmLễNội dung
Giữa tháng 4 dương lịch, thường ba ngàyChôl Chnăm ThmâyTết năm mới của người Khmer, tên nghĩa là vào năm mới. Có lễ rước đại lịch, tắm tượng Phật, đắp núi cát, dâng cơm cho chư tăng.
Rằm tháng 4 âm lịchVisakha BocheaLễ tưởng niệm ba sự kiện đản sinh, thành đạo và nhập diệt của Đức Phật, được Nam Tông tính chung vào một ngày rằm.
Rằm tháng 6 tới rằm tháng 9 âm lịchNhập hạ và xuất hạBa tháng an cư của chư tăng, tiếng Khmer gọi Chôl Vossa khi vào và Chênh Vossa khi ra; cũng là kỳ tăng sinh học đều đặn nhất trong năm.
Cuối tháng 8 tới đầu tháng 9 theo lịch KhmerSen ĐôltaLễ cúng ông bà, kỳ lễ hướng về tổ tiên lớn nhất trong năm. Người Khmer về chùa dâng cơm, nghe tụng kinh hồi hướng, thăm khu tháp cốt.
Rằm tháng 10 âm lịchOk Om BokLễ cúng trăng, tạ ơn mặt trăng sau mùa thu hoạch, có lễ đút cốm dẹp cho trẻ nhỏ và thả đèn nước.
Rằm tháng 9 tới rằm tháng 10 âm lịchKathina dâng yLễ dâng áo cà sa và vật dụng cho chư tăng sau ba tháng an cư, do từng nhóm gia đình trong vùng đứng ra tổ chức.

Bên cạnh lịch lễ còn một nhịp nữa, ít ai gọi là lễ nhưng lại quyết định vai trò của ngôi chùa này: nhịp học. Trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ đặt trong khuôn viên chùa, nhận tăng sinh và học sinh Khmer từ các tỉnh trong vùng; chùa còn mở lớp dạy chữ Khmer cho trẻ em quanh vùng vào dịp nghỉ hè. Cộng với lệ con trai vào chùa tu học một thời gian, phần lớn người Khmer trong vùng đã từng học chữ ở một ngôi chùa, và ở Sóc Trăng cũ thì ngôi chùa ấy thường là Kh'leang.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đường Tôn Đức Thắng, khóm 5, phường Sóc Trăng, Cần Thơ
Đường tới
Chùa nằm trên đường Tôn Đức Thắng, khóm 5, phường Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ, ngay khu trung tâm Sóc Trăng cũ. Đi cùng tuyến có thể ghé chùa Dơi và Bảo tàng Văn hóa Khmer.
Toạ độ
9.6008, 105.9761
Khi tới nơi

Vài lệ của chính chùa này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và bỏ giày trước khi vào chánh điện, không quay lưng vào tượng Phật khi lui ra. Nữ khách không đưa vật trực tiếp vào tay các vị sư mà đặt xuống để sư nhận. Không chạm tay vào hàng cột sơn mài và các tượng Krud, Yeak. Trong khuôn viên có lớp học của tăng sinh, xin quý vị đi nhẹ nói khẽ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Kh'leang thờ ai

Chánh điện chỉ thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, pho chính đặt trên toà sen cao giữa gian thờ, quanh đó có các tượng Phật nhỏ hơn. Đây là lệ của Phật Giáo Nam Tông Khmer: chỉ thờ Đức Phật lịch sử, không thờ vị Phật nào khác và không thờ Bồ Tát như chùa Bắc Tông.

Tên Sóc Trăng có phải bắt nguồn từ chùa Kh'leang không

Tên chùa và tên đất cùng đứng trên một chữ Khmer. Sóc Trăng là dạng phiên âm của Srok Kh'leang, trong đó srok là xứ và kh'leang là kho, ghép lại thành xứ có kho, theo lời truyền là kho chứa bạc của nhà vua. Dạng Sông Trăng và Nguyệt Giang trong văn bản Hán Việt xuất hiện về sau.

Chùa Kh'leang xây năm nào

Bảng tư liệu và nhiều bài viết ghi năm 1533; một số nguồn ghi ngày 16 tháng 12 Phật lịch 2076, đổi ra năm 1532, nên chúng tôi ghi cả hai. Riêng chánh điện đang thấy hôm nay là công trình xây lại năm 1918, có nghệ nhân từ Campuchia góp công.

Vì sao trong chánh điện chùa Khmer lại có chữ Hán trên cột

Vì tay thợ, không phải vì tông phái. Hàng cột sơn mài đen có chữ Hán, hình cá chép và rồng vàng do thợ người Hoa vẽ, cạnh đó là hoa văn Khmer và mô típ theo lối người Việt. Tông phái của chùa vẫn thuần một dòng Nam Tông Khmer, không có ban thờ nào của Bắc Tông hay của người Hoa.

Sách lá buông ở chùa Kh'leang là gì

Là sách viết trên lá một loài cây họ cọ: lá được xử lý cho phẳng và bền, dùng bút sắt khắc chữ Khmer rồi xoa mực vào vết khắc, sau đó xâu thành tập. Nội dung gồm kinh Phật, bài thuốc và tri thức cộng đồng. Bộ sách của chùa đã chuyển về Bảo tàng Văn hóa Khmer tại Sóc Trăng để bảo quản.

Đọc Tiếp