VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Tôn Thạnh

尊盛寺 · Chùa Lan Nhã, Chùa Ông Ngộ, Tổ đình Tôn Thạnh, Tông Thạnh, Chùa Tăng Ngộ, Chùa Lão Ngộ

Ngôi chùa xưa nhất của đất Long An cũ, nơi một vị thiền sư mở trường tu và một nhà thơ mù mở trường dạy học.

Khởi dựng
1808
thiền sư Viên Ngộ lập, tên đầu là Lan Nhã
Tượng Địa Tạng
110 cm
bằng đồng, nguồn ghi đúc năm 1813
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định số 2890 ngày 27 tháng 11 năm 1997

Rẽ khỏi đường lớn vào ấp Thanh Ba, quý vị đi giữa ruộng và vườn một đoạn rồi gặp một khoảng sân rộng có mấy cây cổ thụ. Chùa nằm sau khoảng sân ấy: mái thấp, tường quét vôi, không tháp cao và không cổng lộng lẫy. Trong sân, ba ngôi bảo tháp đứng rời nhau, một ngôi lục giác ba tầng và hai ngôi hình vuông. Cạnh đó là hai tấm bia đá dựng cách nhau một phần tư thế kỷ.

Vào chính điện, pho tượng đáng nhìn nhất không phải tượng Phật ở ban giữa mà một pho Địa Tạng Vương Bồ Tát bằng đồng cao chừng một mét mười, sắc đồng đã sẫm. Đây là ngôi chùa xưa nhất của đất Long An cũ, dựng năm 1808, và nó được nhớ vì hai người: vị thiền sư đã lập chùa, và nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, người từng ở đây dạy học, làm thuốc và viết.

Chùa Tôn Thạnh
Chùa Tôn Thạnh. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tên Gọi Và Vị Tổ Khai Sơn

Ngôi chùa này mang bốn tên cùng lúc, mỗi tên nói một lớp. Lan Nhã là tên đầu tiên, chữ nhà Phật phiên từ tiếng Ấn Độ, chỉ chỗ vắng vẻ để người tu ở, tức một thảo am chứ không phải ngôi chùa lớn. Tôn Thạnh là tên chữ về sau. Chùa Ông Ngộ, còn gọi chùa Tăng Ngộ hay chùa Lão Ngộ, là tên dân gian gọi theo vị tổ khai sơn. Còn Tổ đình Tôn Thạnh là danh nghĩa trong hệ truyền thừa, xác nhận năm 2009.

Theo sử liệu

Việc đổi tên có một lý do rất cụ thể của thời ấy. Tên chữ ban đầu là Tông Thạnh, nghĩa là dòng dõi hưng thịnh. Đến năm 1841, chữ Tông phải bỏ vì trùng tên húy của vua Thiệu Trị, nên thay bằng chữ Tôn. Đây là chuyện kỵ húy, lệ tránh dùng chữ trùng tên vua, một lệ chi phối cả cách viết và cách gọi tên đất tên chùa suốt thời Nguyễn. Hai chữ Hán ghi ở đầu bài là dạng chuẩn của tên gọi ấy, suy từ nghĩa của tên và chuyện đổi chữ, chứ không chép từ một tấm hoành phi cụ thể.

Theo giáo nghĩa

Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông, dòng thiền Lâm Tế, tổ khai sơn được chép là thuộc đời thứ ba mươi chín của dòng ấy. Là tổ đình thì ngoài chính điện thờ Phật, chùa còn có nhà tổ và có bảo tháp, tức mộ tháp của các vị trụ trì đã viên tịch; ba thứ ấy là ba lớp thờ khác bậc nhau.

Pho tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng cần nói theo giáo nghĩa. Trong kinh điển Bắc Tông, Địa Tạng là vị Bồ Tát nguyện vào chỗ khổ nhất để cứu, nên thường được thờ gắn với việc cầu siêu cho người đã mất. Một pho Địa Tạng bằng đồng lớn đặt ở ngôi chùa mới lập trên đất mới khai phá là chọn đúng vị: dân vùng ấy cần một chỗ gửi việc hậu sự.

Về vị tổ khai sơn, tư liệu chép thiền sư Viên Ngộ sinh năm 1787, xuất gia năm 1806 tại chùa Vĩnh Quang, rồi lập chùa trên đất Thanh Ba năm 1808; thế danh của ngài được một số bản ghi là Nguyễn Ngọc Dót. Chuyện truyền trong vùng kể rằng khi đúc pho tượng Địa Tạng, ngài đã chặt một ngón tay bỏ vào nồi đồng để tỏ tâm nguyện; chuyện ấy thuộc lớp truyền khẩu, nhưng cho thấy vị tổ được dân nhớ theo cách nào. Ngày viên tịch là 18 tháng Hai âm lịch; năm thì nguồn ghi vênh nhau, chi tiết nêu ở mục sau.

Hai Trăm Năm Và Những Năm Có Nguyễn Đình Chiểu

Lịch sử chùa đi theo hai mạch tách rời nhau. Mạch thứ nhất là mạch nhà chùa: lập am, đúc tượng, đổi tên, dựng tháp, trùng tu. Mạch thứ hai chỉ dài vài năm nhưng là mạch làm nên tên tuổi của nơi này ngoài giới nhà chùa, ấy là những năm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu ở đây.

  • 1808Lập chùa Lan Nhã
    Thiền sư Viên Ngộ lập chùa trên đất Thanh Ba vào năm Gia Long thứ bảy, tên đầu là Lan Nhã. Đây cũng là mốc làm nên danh xưng ngôi chùa cổ nhất vùng Long An cũ.
  • 1813Đúc tượng Địa Tạng bằng đồng
    Pho tượng cao 110 centimet được đúc ngay tại chùa. Một bản ghi niên đại Gia Long thứ mười hai tức 1813, bản khác chỉ chép rằng tượng phải đúc hai lần mới thành.
  • 1841Đổi tên thành Tôn Thạnh
    Chữ Tông trong tên cũ Tông Thạnh phải thay bằng chữ Tôn vì kỵ húy tên vua Thiệu Trị.
  • 1846Dựng bảo tháp tổ Viên Ngộ
    Tháp lục giác ba tầng, cao khoảng 4,5 mét, dựng sau khi tổ khai sơn viên tịch, trùng tu năm 1959.
  • 1859 tới 1862Nguyễn Đình Chiểu lưu trú
    Nhà thơ về Cần Giuộc, ở tại chùa, mở trường dạy học, làm thuốc cho dân trong vùng và tiếp tục sáng tác.
  • 1960Dựng cổng chùa
    Cổng hiện nay dựng vào năm này, thuộc lớp công trình muộn chứ không phải phần còn lại của thời khởi dựng.
  • 1973Dựng tấm bia thứ nhất
    Bia đá ghi dấu quãng thời gian nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu sống và làm việc tại chùa.
  • 1997Di tích quốc gia
    Xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 2890 của Bộ Văn hóa Thông tin, ký ngày 27 tháng 11 năm 1997. Chùa đại trùng tu năm 2005 và được xác nhận tổ đình năm 2009.

Những năm Nguyễn Đình Chiểu ở chùa

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thế kỷ 19, đồng thời là thầy giáo và thầy thuốc. Ông bị mù từ khi còn trẻ, và cả ba nghề ấy đều làm được trong cảnh mù: dạy học thì đọc miệng cho học trò chép, làm thuốc thì bắt mạch và kê bài, làm thơ thì đọc cho người khác ghi.

Các tư liệu chép ông về Cần Giuộc và ở tại chùa Tôn Thạnh trong khoảng 1859 tới 1862. Trong quãng ấy ông mở trường dạy học ngay trong chùa, khám bệnh bốc thuốc cho dân quanh vùng, và tiếp tục việc viết. Ba việc ấy đi liền nhau: học trò cũng là người chép bài cho ông, và thơ ông làm ra thì lan đi bằng đường truyền miệng của chính lớp học trò ấy.

Về tác phẩm, các tư liệu gắn với quãng ở Tôn Thạnh này ba tên. Lục Vân Tiên, truyện thơ dài mà ông được biết đến nhiều nhất, được chép là hoàn chỉnh trong thời gian này. Dương Từ Hà Mậu, một truyện thơ dài khác luận về đạo lý. Và một bài văn tế mà người sau lấy tên đất Cần Giuộc mà gọi, được coi là mẫu mực của thể loại ấy trong văn học Việt Nam; tấm bia dựng ở chùa sau năm 1997 khắc trích đoạn của bài này. Văn tế là thể văn đọc trong lễ tế, viết theo lối biền ngẫu. Bài viết này chỉ ghi phần văn chương và việc dạy học của nhà thơ tại chùa.

Chỗ hay hiểu lầm

Thứ nhất, Nguyễn Đình Chiểu không phải người dựng chùa và không phải nhà sư. Ông là một người thế tục tới ở nhờ trong chùa một quãng, mở trường và làm thuốc ở đó. Chùa đã có trước khi ông tới hơn năm mươi năm, do thiền sư Viên Ngộ lập; vị tổ khai sơn cũng đã viên tịch trước đó hơn mười năm. Nhiều người quen nghe tên chùa cùng tên nhà thơ nên tưởng hai người là một mạch, thực ra là hai lớp người khác nhau trên cùng một nền đất.

Thứ hai, phần kiến trúc đang đứng không phải nguyên trạng năm 1808. Cổng chùa dựng năm 1960, tháp tổ trùng tu năm 1959, chùa đại trùng tu năm 2005. Thứ thuộc lớp sớm là pho tượng Địa Tạng bằng đồng, hệ tượng phong cách thế kỷ 19 và các ngôi bảo tháp. Danh xưng ngôi chùa cổ nhất ở đây nói về niên đại khởi dựng và về phạm vi địa bàn Long An cũ, không nói cả Nam Bộ và không nói về tuổi của gạch ngói.

Bố Cục Chữ Đinh, Bia Đá Và Ba Ngôi Bảo Tháp

Khu di tích rộng 34.410 mét vuông, riêng phần công trình chùa chiếm khoảng 940 mét vuông. Nhìn từ trên xuống, mặt bằng xếp thành hình chữ Đinh, tức một dãy ngang nối vào một dãy dọc thành hình chữ T. Đi từ ngoài vào là sân trước, chính điện, rồi nhà giảng, hai bên là hành lang Đông và hành lang Tây. Bố cục này gọn và thấp, đúng kiểu chùa làng Nam Bộ chứ không phải đại tự nhiều lớp.

Tượng Địa Tạng bằng đồng

Pho tượng quan trọng nhất của chùa, cao 110 centimet, đúc ngay tại chùa, nguồn ghi niên đại 1813. Hiện vật gắn liền với vị tổ khai sơn và với chuyện truyền khẩu về việc đúc tượng.

Hệ tượng cổ

Nhóm tượng Phật thuộc lớp đầu thế kỷ 19, mang phong cách tạo tượng thế kỷ ấy. Đây là phần cho thấy niên đại thật của lớp thờ tự sớm nhất còn lại.

Tháp tổ Viên Ngộ

Bảo tháp hình lục giác ba tầng, cao khoảng 4,5 mét, dựng năm 1846 và trùng tu năm 1959. Ngôi tháp lớn nhất trong sân, là mộ tháp của vị khai sơn.

Hai ngôi tháp còn lại

Tháp tổ Tắc Thành hình vuông ba tầng cao khoảng 3 mét, và tháp Hòa thượng Đạt Đồng. Ba ngôi tháp cùng đứng trong sân là dấu rõ nhất của một tổ đình.

Tấm bia năm 1973

Bia đá dựng để ghi dấu quãng thời gian nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu sống, dạy học và làm thuốc tại chùa.

Tấm bia thứ hai

Bia khắc trích đoạn bài văn tế gắn với tên đất Cần Giuộc. Niên đại các nguồn ghi khác nhau, bản ghi 1997, bản ghi 1998.

Điều đáng để ý về kiến trúc ở đây không phải sự bề thế mà sự giản dị được giữ nguyên. Chùa không có tam quan hoành tráng, không có tháp cao, không có bộ chạm lộng thếp vàng như các đại tự cùng thời ở Mỹ Tho hay Gia Định. Hai trăm năm qua, nơi này vẫn là một ngôi chùa của làng, các lần tu sửa đều làm theo hướng giữ chứ không mở rộng. Giá trị của di tích vì thế nằm ở ba chỗ: pho tượng đồng, hệ tượng thế kỷ 19 và ba ngôi bảo tháp.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên phải nói là chỗ này không được chọn theo phép xem đất theo nghĩa thông thường. Năm 1808, một vị thiền sư trẻ dựng thảo am trên đất Thanh Ba, vùng vừa được khai phá. Ông chọn chỗ vắng để tu, và chữ Lan Nhã trong tên đầu tiên nói đúng tiêu chí ấy: chỗ vắng, xa đường lớn, đủ yên để ở. Đọc thế đất ở đây là đọc thế đất của một thảo am về sau thành chùa, không phải một huyệt được thầy địa lý tìm ra rồi mới dựng nhà lên.

Thứ hai là thế gò giữa đồng. Vùng Cần Giuộc cũ nằm ở rìa vùng đất thấp quanh Sài Gòn, đất phẳng, ruộng và kênh rạch dày, nước lợ theo con triều. Phép xem đất đồng bằng gọi những dải đất nổi cao hơn ruộng là chỗ có mạch: nơi không có núi để làm hậu chẩm, tức chỗ dựa sau lưng, thì gò đất nổi thay vai núi. Chùa dựng trên một dải đất như thế, chung quanh là ruộng vườn.

Thứ ba là khoảng sân và ba ngôi tháp. Sân trước rộng và bằng, không bị chắn, làm thành một minh đường đúng nghĩa theo sách cũ. Riêng việc ba ngôi bảo tháp đứng ngay trong sân thì đọc được thêm một tầng. Ở nhiều chùa về sau, mộ tháp được đưa ra vườn tháp bên hông để trục chính thông suốt; ở đây tháp vẫn ở trong sân, nên người vào lễ phải đi qua mộ của các vị tổ trước khi vào lễ Phật. Đọc theo lối cũ thì đó là cách buộc phần ngườiphần đạo vào cùng một trục, hợp với vị thế tổ đình.

Cuối cùng là hướng và lớp nghĩa của Địa Tạng. Chùa quay mặt ra khoảng sân và lối vào, lưng tựa vườn cây phía sau, một cách đặt quen của chùa làng Nam Bộ: lấy vườn làm chỗ dựa vì không có núi, lấy cây cao làm vật che gió. Pho tượng Địa Tạng trong chính điện thì trùng khít với chức năng của một ngôi chùa làng trên đất mới khai phá, nơi việc cầu siêu là việc thường xuyên nhất. Trong phép cũ, sự trùng khít ấy gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ.

Lễ Tiết Trong Năm

Là chùa Bắc Tông và là tổ đình, Tôn Thạnh giữ hai loại lễ: các ngày lễ Phật chung của Bắc Tông, cố định theo âm lịch; và húy kỵ chư tổ, trong đó ngày trọng nhất là giỗ tổ khai sơn Viên Ngộ vào ngày 18 tháng Hai âm lịch.

Bảng chỉ ghi các mốc cố định theo âm lịch; lịch nghi thức từng năm do nhà chùa định. Nguồn: Lệ lễ tiết chung của chùa Phật Giáo Bắc Tông và tư liệu về tổ đình Tôn Thạnh..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Rằm tháng GiêngLễ Thượng NguyênKỳ rằm lớn đầu tiên của năm, có tụng kinh cầu an.
Ngày 18 tháng HaiHúy kỵ tổ Viên NgộGiỗ vị tổ khai sơn, lễ riêng và trọng nhất của chùa với danh nghĩa tổ đình.
Rằm tháng TưLễ Phật ĐảnNgày sinh của Đức Thích Ca, lễ trọng nhất trong năm của một ngôi chùa Bắc Tông.
Rằm tháng BảyLễ Vu LanLễ báo hiếu và cầu siêu; ở chùa có tượng Địa Tạng thì kỳ này càng được coi trọng.
Mùng 8 tháng ChạpLễ Phật thành đạoNgày Đức Thích Ca thành đạo, khép lại vòng lễ Phật trong năm.
Theo long vị nhà tổHúy kỵ các vị trụ trì khácGiỗ những vị trụ trì đã viên tịch, có bảo tháp trong sân.
Theo sử liệu

Xin nói thẳng hai chỗ nguồn ghi vênh nhau. Về năm viên tịch của tổ Viên Ngộ: ngày thì các bản đều ghi 18 tháng Hai âm lịch, nhưng năm thì có bản ghi năm Bính Ngọ tức 1846, có bản ghi 1845, lại có bản nêu năm sinh năm mất là 1787 tới 1846 trong khi thân bài chép ngài mất năm 1845. Vì tháp tổ được chép là dựng năm 1846 nên hai mốc ấy có thể là năm mất và năm dựng tháp bị chép lẫn, nhưng chưa tra được tài liệu nói dứt điểm. Về tấm bia thứ hai: có bản ghi năm 1997, có bản ghi 1998; cả hai đều đặt việc dựng bia ngay sau khi chùa được xếp hạng di tích quốc gia.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Ấp Thanh Ba, xã Mỹ Lộc (huyện Cần Giuộc cũ), Tây Ninh
Đường tới
Chùa ở ấp Thanh Ba, xã Mỹ Lộc, tỉnh Tây Ninh, thuộc địa bàn huyện Cần Giuộc cũ của tỉnh Long An cũ. Lối vào rẽ khỏi đường lớn rồi đi giữa ruộng vườn một đoạn.
Toạ độ
10.5983, 106.6519
Khi tới nơi

Đây là chùa đang có tăng chúng tu học, nên lệ nhà chùa là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và bỏ giày khi vào chính điện theo chỉ dẫn tại chỗ, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào pho tượng Địa Tạng bằng đồng và hệ tượng cổ. Ba ngôi bảo tháp trong sân là phần mộ của chư tổ, xin đi vòng chứ không tựa hay leo lên bậc tháp. Nhang và lễ vật xin gửi đúng chỗ người trông coi chỉ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Tôn Thạnh thờ ai

Đây là chùa Phật Giáo Bắc Tông, chính điện thờ Phật theo lối Bắc Tông, trong đó có pho tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát bằng đồng cao 110 centimet là hiện vật quan trọng nhất. Là tổ đình nên chùa còn có nhà tổ thờ các vị trụ trì đã viên tịch, cùng ba ngôi bảo tháp trong sân.

Chùa Tôn Thạnh xây năm nào và ai xây

Chùa do thiền sư Viên Ngộ lập năm 1808, tức năm Gia Long thứ bảy, với tên đầu tiên là Lan Nhã. Đây là ngôi chùa cổ nhất của địa bàn tỉnh Long An cũ. Tên Tôn Thạnh chỉ có từ năm 1841, khi chữ Tông trong tên cũ Tông Thạnh phải thay vì kỵ húy tên vua Thiệu Trị.

Nguyễn Đình Chiểu ở chùa Tôn Thạnh làm gì

Các tư liệu chép ông ở tại chùa trong khoảng 1859 tới 1862. Trong quãng ấy ông mở trường dạy học ngay trong chùa, khám bệnh bốc thuốc cho dân quanh vùng và tiếp tục sáng tác. Truyện thơ Lục Vân Tiên được chép là hoàn chỉnh trong thời gian này, cùng với Dương Từ Hà Mậu và một bài văn tế.

Nguyễn Đình Chiểu có phải người lập chùa không

Không. Chùa do thiền sư Viên Ngộ lập năm 1808, hơn năm mươi năm trước khi nhà thơ tới; vị tổ khai sơn cũng đã viên tịch trước đó hơn mười năm. Nguyễn Đình Chiểu là một người thế tục tới ở nhờ trong chùa một quãng, mở trường dạy học và làm thuốc ở đó.

Chùa Tôn Thạnh nay thuộc tỉnh nào

Chùa ở ấp Thanh Ba, xã Mỹ Lộc, thuộc địa bàn huyện Cần Giuộc cũ. Sau lần sắp xếp địa giới năm 2025, địa bàn này thuộc tỉnh Tây Ninh. Tên gọi chùa cổ nhất Long An vẫn được dùng trong tư liệu vì gắn với tên tỉnh cũ.

Đọc Tiếp