VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Lăng Ông Bà Chiểu

上公廟 · Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt, Thượng Công Miếu

Một phần mộ và một ngôi miếu đặt chung trong cùng khuôn viên, nơi thờ tự cổ bậc nhất còn lại của đất Gia Định xưa.

Khuôn viên
18.500 m²
gò đất cao, bốn mặt giáp đường
Dựng miếu thờ
1848
sau khi án được xét lại năm 1841
Xếp hạng
Di tích quốc gia
nguồn ghi năm 1988, nguồn ghi năm 1989

Từ cửa chợ Bà Chiểu nhìn sang, quý vị thấy một bức tường dài chạy theo bốn mặt đường, và trên gò đất cao bên trong là cổng tam quan ba lối, trên bảng đắp ba chữ Hán Thượng Công Miếu. Bốn con đường Vũ Tùng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức và Lê Văn Duyệt vây kín khu đất ấy, xe cộ chạy vòng quanh suốt ngày, còn bên trong hàng cây cao vẫn giữ được một khoảng tĩnh rộng hơn mười tám nghìn mét vuông.

Người Sài Gòn gọi nơi này là Lăng Ông Bà Chiểu, gọn tới mức nhiều người quên rằng đây là hai thứ đặt chung một khuôn viên: một phần mộ và một ngôi miếu. Người nằm dưới mộ là Tả quân Lê Văn Duyệt, mất năm 1832; ngôi miếu thờ chính ông, dựng sau đó mười sáu năm. Lăng và miếu ở đây không tách rời được, và chính chỗ ấy làm nơi này khác các ngôi đền khác của đất Gia Định.

Lăng Ông Bà Chiểu
Lăng Ông Bà Chiểu. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Vị Được Thờ Trong Miếu

Nơi đây thờ Tả quân Lê Văn Duyệt, sinh năm 1764, mất năm 1832, một vị quan lớn của triều Nguyễn, hai lần giữ chức Tổng trấn Gia Định thành. Ông là người thật, có sử chép, có mộ phần ngay trong khuôn viên; việc thờ ông vì thế thuộc lối thờ nhân thần, tức thờ người thật đã khuất như một vị thần che chở cho vùng đất.

Cần nói rõ ngay từ đầu, vì chỗ này hay bị xếp nhầm: đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, một lối thờ dân gian không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Miếu Thượng Công không phải cơ sở của Đạo Giáo, cũng không phải chùa của nhà Phật; cách bài trí và cách tế lễ đều theo lệ thờ tự cổ truyền của người Việt vùng Gia Định.

Theo giáo nghĩa

Trong lối thờ tự cổ truyền, một người thật muốn được thờ như thần thường phải đi qua hai bước: công trạng với một vùng đất, khiến dân vùng ấy còn nhớ sau khi người ấy mất, rồi một nơi thờ cố định, có ngày giỗ, có ban tế, có lệ cúng hằng năm, để việc nhớ ấy khỏi tan theo một hai đời người.

Ở đây cả hai bước đều rõ. Chữ Thượng Công trên cổng tam quan là cách người đời sau tôn xưng ông; chữ miếu chỉ nơi thờ một vị đã được tôn lên hàng thần, khác chữ đình chỉ nơi thờ Thành hoàng của một làng và khác chữ chùa của nhà Phật. Từ mộ phần của một gia đình, khu đất này chuyển thành miếu của cả một vùng.

Theo sử liệu

Chánh điện thờ Đức Thượng công Tả quân ở gian giữa; hai bên còn hai ban thờ Phan Thanh GiảnLê Chất, đều là quan lớn cùng thời hoặc kề thời với ông. Cách bày ba ban ấy cho thấy ngôi miếu giữ cả một lớp ký ức về hàng quan lại của đất Gia Định thuở trước, chứ không chỉ thờ một người.

Phần mộ trong khuôn viên là mộ song táng, gồm mộ Tả quân và mộ phu nhân là bà Đỗ Thị Phẫn. Một số tài liệu chép tên bà là Đỗ Thị Phận; chúng tôi ghi cả hai cách chép chứ không chọn bừa, vì chưa tra được văn bản gốc nào nói dứt điểm.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất ở nơi này nằm ngay trong cái tên. Nhiều người nghe Lăng Ông Bà Chiểu rồi hiểu đây là lăng của một ông và một bà, bà ấy tên Chiểu, hai người là vợ chồng. Cách hiểu ấy không đúng.

Tên đầy đủ theo lối gọi cũ là Lăng Ông ở Bà Chiểu. Chữ Ông chỉ Tả quân Lê Văn Duyệt, còn Bà Chiểutên đất, tên vùng chợ nằm ngay bên cạnh. Người xưa có lệ kiêng gọi thẳng tên vị được thờ nên lấy địa danh ghép vào cho dễ chỉ đường, thành ra một cái tên nghe qua tưởng là hai người. Bà Chiểu nằm trong loạt địa danh mang chữ của vùng Gia Định xưa, cùng mạch với Bà Điểm, Bà Quẹo, Bà Hom, và gốc gác những tên ấy tới nay vẫn còn nhiều cách giải thích. Phu nhân của Tả quân là bà Đỗ Thị Phẫn, mộ nằm cạnh mộ ông, không liên quan tới chữ Chiểu.

Từ Phần Mộ Đến Ngôi Miếu

Lịch sử khu đất đi theo ba chặng: chặng phần mộ trong nửa đầu thế kỷ 19, chặng dựng miếu và lập hội tế từ giữa thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, rồi chặng bồi đắp dần các lớp nhà. Những mốc dưới đây chỉ ghi việc xây dựng và việc thờ tự.

  • 1832Tả quân qua đời
    Lê Văn Duyệt mất, được an táng tại khu đất này, khi ấy còn là vùng ngoại vi của Gia Định. Phần mộ ban đầu là mộ của một gia đình, chưa có miếu thờ.
  • 1835Án nghị, phần mộ bị san bằng
    Triều đình nghị án; theo các tài liệu di tích, phần mộ bị san phẳng và trên nền mộ có dựng bia.
  • 1841Án được xét lại
    Dưới đời vua Thiệu Trị, án cũ được xét lại và phần mộ được đắp lại. Đây là mốc mở đường cho toàn bộ việc thờ tự về sau.
  • 1848Dựng miếu thờ
    Ngôi miếu được dựng bên cạnh phần mộ. Năm này thường được lấy làm năm khởi dựng của khu lăng miếu và là năm ghi trên hồ sơ di tích.
  • 1894Bia Lê công miếu bia
    Tấm bia đá trong nhà bia soạn năm Giáp Ngọ, do Hoàng Cao Khải chấp bút, khắc chữ Hán ghi công đức Tả quân.
  • 1914Lập Hội Thượng Công Quý Tế
    Hội lo việc tế lễ và trông coi lăng miếu được thành lập, đưa việc thờ tự vào nền nếp có tổ chức.
  • 1915 tới 1970Bồi đắp các lớp nhà
    Tiền điện và trung điện dựng năm 1915; bức tường bao dài khoảng 500 mét cùng bốn cổng theo bốn hướng xây năm 1948; chánh điện như thấy hôm nay hoàn thành năm 1970.
  • 1988 tới 1989Xếp hạng di tích quốc gia
    Khu lăng miếu được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Các nguồn ghi năm khác nhau, chi tiết nêu ngay dưới đây.
Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về năm xếp hạng di tích quốc gia, một số tài liệu ghi tháng 11 năm 1988, trong khi các bài báo khác ghi ngày 6 tháng 12 năm 1989 và có bài chỉ ghi gọn năm 1989. Chênh lệch này nhiều khả năng do một mốc là ngày ký quyết định còn một mốc là ngày công bố, nhưng chúng tôi chưa tra được bản quyết định gốc, nên ghi cả hai chứ không chọn bừa một con số. Tương tự, lễ hội Khai hạ Cầu an tại lăng được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trong năm 2022, nhưng các bản tin ghi tháng công bố khác nhau, có bản ghi tháng 4, có bản ghi tháng 8.

Ba Phần Trong Một Khuôn Viên

Khu lăng miếu nằm trên gò đất cao hơn mặt đường chung quanh, có tường bao dài khoảng 500 mét, cao chừng 1,2 mét, mở bốn cổng theo bốn hướng. Cổng phía nam trông ra đường Vũ Tùng là cổng tam quan chính, trên bảng đắp ba chữ Hán Thượng Công Miếu; ba chữ này chép từ chính bảng cổng chứ không phải do chúng tôi suy ra. Hình cổng tam quan ấy cùng hàng cây cao phía sau từ lâu đã là một hình tượng quen thuộc của vùng Sài Gòn và Gia Định.

Bên trong tường bao, ba phần chính nối nhau trên một trục: nhà bia, khu lăng mộkhu miếu thờ. Ba phần ấy có ba chức năng khác hẳn nhau, và người đi hết cả ba mới thấy đủ ý của nơi này.

Nhà bia

Một nếp nhà nhỏ dựng như ngôi điện thu gọn, mái lợp ngói, bên trong đặt tấm bia đá khắc bốn chữ Lê công miếu bia. Bài văn bia chữ Hán do Hoàng Cao Khải soạn năm 1894. Phía trước bia có chạm đôi hạc cưỡi rùa.

Khu lăng mộ

Hai ngôi mộ song táng trong một vòng tường thấp, mộ Tả quân và mộ phu nhân. Nấm mộ đắp bằng hợp chất cổ truyền, dáng khum như nửa quả trứng úp, lối làm mộ mà người trong vùng quen gọi là mộ quy vì nhìn xa giống mai rùa.

Bức bình phong

Trước lối vào khu mộ có bức bình phong xây chắn, hai mặt đắp nổi hình khác nhau: mặt ngoài đắp hình chim và thú theo lối chơi chữ bằng hình, mặt trong đắp hình hổ. Bình phong vừa che chắn theo lệ cũ, vừa là chỗ đặt hình tượng nói về thân phận người nằm dưới mộ.

Khu miếu thờ

Còn gọi là Thượng Công Linh Miếu, gồm ba lớp nối nhau là tiền điện, trung điện và chánh điện, giữa các lớp có giếng trời lấy sáng. Cột gỗ trung điện chạm khắc kỹ, hai bên lối đi có tượng ngựa lớn. Chánh điện thờ Tả quân ở gian giữa.

Đông Lang và Tây Lang

Hai dãy nhà chạy dọc hai bên sân miếu, dùng cho việc hội họp, sửa soạn lễ vật và sinh hoạt của ban tế. Khu Tây Lang là nơi bố trí cho người đi lễ xin xăm, tách khỏi chánh điện.

Về bức bình phong, hình hổ đáng nói thêm một câu. Trong mỹ thuật thờ tự của người Việt, hổ là con vật giữ cửa, đặt ở bình phong hoặc bệ thờ ngoài trời để trấn lối vào; đặt hình hổ trước khu mộ của một võ quan là cách người xưa nói về nghề nghiệp và uy thế của người nằm bên trong mà không cần chữ nghĩa nào. Các tài liệu hiện diễn giải từng chi tiết trên bình phong hơi khác nhau, nên chúng tôi chỉ ghi những gì thấy được trên hiện vật.

Một điểm nữa khiến nơi này khác đền miếu miền Bắc: không gác chuông, không tháp, không tam bảo. Toàn bộ bố cục dựng quanh việc tế một vị quan lớn theo nghi thức cung đình triều Nguyễn, nên sân rộng, nhà thấp và dài, và chỗ trọng nhất không phải một pho tượng lớn mà là hương án cùng bài vị.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đập vào mắt là cái gò. Khu lăng miếu nằm trên dải đất nổi cao hơn mặt bằng chung quanh, và trong vùng thấp của châu thổ phương Nam thì một gò đất cao là thứ hiếm. Theo phép xem đất, chỗ đất nổi giữa vùng bằng phẳng được coi là chỗ khí kết, vì nước không đọng và người nằm dưới đất được khô ráo. Các bài báo về khu lăng đều nhắc cách gọi dân gian rằng đây là đất có long mạch; cách gọi ấy chính là ghi nhận cái gò này.

Thứ hai là bốn mặt đường. Khu đất bị bốn con phố vây kín, thành một khối vuông vức tách hẳn khỏi dân cư chung quanh. Trong lối xem đất đô thị, đường phố đóng vai trò của dòng nước: vừa dẫn khí vừa cuốn khí đi. Cách người xưa xử lý chỗ ấy hiện còn thấy rõ trên hiện vật: tường bao kín bốn mặt, bốn cổng đặt đúng bốn hướng, rồi bình phong chắn trước khu mộ. Ba lớp chắn nối nhau ấy không phải để giấu mà để giữ, và đó là bài toán quen của mọi nơi thờ tự nằm giữa phố.

Thứ ba là hướng. Cổng tam quan chính mở về phía nam, trông ra đường Vũ Tùng, đúng lệ chuộng hướng nam của đền miếu người Việt. Hướng nam trong sách vở cổ truyền là hướng của ánh sáng và khí ấm; đặt cổng chính về hướng ấy là đặt lối vào chỗ sáng nhất, còn phần mộ và các lớp nhà trong lui về sau.

Sau cùng là thứ tự ba phần. Nhà bia đứng trước, khu mộ ở giữa, miếu thờ ở trong; người đi lễ vì thế đi từ chữ nghĩa tới thân xác rồi mới tới hương khói. Đọc theo lối phong thủy, đó là một trục dẫn khí đi sâu dần, mỗi lớp một lần chậm lại, và chỗ sâu nhất được dành cho việc tế.

Lễ Giỗ, Lễ Khai Hạ Và Lệ Xin Xăm

Lăng có hai kỳ lễ lớn trong năm, đều tính theo âm lịch: lễ giỗ Đức Tả quân cuối tháng Bảy sang đầu tháng Tám, và lễ Khai hạ Cầu an mùng bảy tháng Giêng. Cả hai cử hành theo nghi thức tế lễ cổ truyền, do ban tế của Hội Thượng Công Quý Tế đảm nhiệm.

Các kỳ lễ chính trong năm của lăng miếu, tính theo âm lịch. Nguồn: Tư liệu của ban quản lý di tích và các bản tin về lễ giỗ Đức Tả quân..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Ngày 29 hoặc 30 tháng BảyCúng Tiên thườngLễ mở đầu kỳ giỗ, dâng hương báo trước với Đức Tả quân, sửa soạn lễ vật và bài vị cho ngày chánh giỗ.
Đêm trước chánh giỗXây chầu Đại bộiĐánh trống khai chầu rồi diễn tuồng trước chánh điện, phần gắn hát bội vào lễ tế theo lối Nam Bộ.
Mùng 1 tháng TámChánh giỗNgày trọng nhất trong năm, tế theo nghi thức cung đình triều Nguyễn, có đọc văn tế, dâng hương, dâng rượu và dâng trà.
Mùng 2 tháng TámHậu thườngLễ khép kỳ giỗ, kèm tế Tiền hiền và Hậu hiền, tức các bậc có công gìn giữ lăng miếu.
Mùng 7 tháng GiêngLễ Khai hạ Cầu anLễ hạ nêu và cầu an đầu năm, có tế, hát bội, lân sư rồng. Lễ hội này đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2022.

Kỳ giỗ được đánh số theo năm mất của Tả quân, nên mỗi năm con số lại tăng thêm một; kỳ giỗ cử hành trong năm Bính Ngọ là kỳ thứ một trăm chín mươi tư. Cách đếm ấy cho thấy việc thờ ở đây chưa từng đứt quãng lâu.

Ngoài hai kỳ lễ, nơi này còn giữ một lệ riêng gắn chặt với tên tuổi của lăng: lệ xin xăm. Người đi lễ quỳ trước ban, khấn điều muốn hỏi, lắc ống cho tới khi một thẻ rơi ra, rồi đối chiếu số thẻ với bài thơ ghi sẵn. Khu dành cho việc này là Tây Lang, tách khỏi chánh điện; dịp đầu năm số ống xăm được bày thêm nhưng vẫn thường kín chỗ.

Lệ xin xăm không phải nghi thức riêng của lăng, mà là lệ chung của nhiều đình, miếu và hội quán ở phương Nam, có chỗ giao thoa với lệ của cộng đồng người Hoa cùng sống trên đất ấy. Chúng tôi ghi lệ này như một nếp sinh hoạt có thật của nơi đây, không bàn về hiệu nghiệm.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 1 đường Vũ Tùng, phường Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Nằm ở số 1 đường Vũ Tùng, phường Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh, ngay cạnh chợ Bà Chiểu. Khu đất giáp bốn con đường Vũ Tùng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức và Lê Văn Duyệt, vào được từ cả bốn phía.
Toạ độ
10.8033, 106.6969
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp điện trong, đi nhẹ nói khẽ ở chánh điện, không trèo lên bệ mộ, không chạm tay vào bia đá và hiện vật gỗ chạm. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức chứ không gài lên hương án. Người xin xăm xin theo đúng khu Tây Lang. Trong kỳ giỗ và ngày mùng bảy tháng Giêng, lối đi được phân luồng.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Lăng Ông Bà Chiểu thờ ai

Thờ Tả quân Lê Văn Duyệt, sinh năm 1764, mất năm 1832, hai lần giữ chức Tổng trấn Gia Định thành. Trong khuôn viên có cả phần mộ của ông và mộ phu nhân. Chánh điện thờ ông ở gian giữa, hai bên còn hai ban thờ Phan Thanh Giản và Lê Chất. Đây là lối thờ nhân thần của người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào.

Bà Chiểu có phải vợ của Ông không

Không. Bà Chiểu là tên đất, tên vùng chợ ngay cạnh khu lăng, cùng mạch với các địa danh Bà Điểm, Bà Quẹo, Bà Hom của đất Gia Định xưa. Tên gọi đầy đủ theo lối cũ là Lăng Ông ở Bà Chiểu. Phu nhân của Tả quân là bà Đỗ Thị Phẫn, có mộ nằm cạnh mộ ông, không liên quan tới chữ Chiểu.

Lăng Ông và Thượng Công Miếu có phải một nơi không

Cùng một khuôn viên. Chữ lăng chỉ phần mộ, chữ miếu chỉ nơi thờ. Ba chữ Hán Thượng Công Miếu đắp trên bảng cổng tam quan phía nam, trông ra đường Vũ Tùng. Khu thờ tự bên trong còn được gọi là Thượng Công Linh Miếu, gồm ba lớp tiền điện, trung điện và chánh điện.

Lễ giỗ Tả quân Lê Văn Duyệt vào ngày nào

Kỳ giỗ kéo bốn ngày theo âm lịch: cúng Tiên thường ngày 29 hoặc 30 tháng Bảy, chánh giỗ mùng 1 tháng Tám, hậu thường mùng 2 tháng Tám, kèm nghi thức xây chầu Đại bội và hát bội. Ngoài ra lăng còn lễ Khai hạ Cầu an mùng 7 tháng Giêng, đã được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2022.

Xin xăm ở Lăng Ông thì xin ở đâu

Khu Tây Lang trong khuôn viên được bố trí riêng cho việc này, tách khỏi chánh điện. Người xin quỳ khấn trước ban, lắc ống cho tới khi rơi một thẻ, rồi đối chiếu số thẻ với bài thơ ghi sẵn. Đây là lệ chung của nhiều đình miếu phương Nam chứ không riêng lăng này, và vào dịp đầu năm thường phải chờ tới lượt.

Đọc Tiếp