Từ chân cầu Xóm Bóng nhìn lên, quý vị thấy một mỏm đồi thấp nhô ra sát cửa sông Cái, trên đỉnh đồi là bốn khối tháp gạch đỏ sẫm đứng so le. Leo hết bậc đá dốc là tới một khoảng sân có những cột gạch tám cạnh cụt đầu, không còn mái. Qua khoảng cột ấy mới tới chân tháp lớn. Cửa tháp hẹp, quay về hướng Đông, trong lòng tháp tối, một pho tượng nữ ngồi trên bệ đá, khoác áo lụa màu do người đi lễ dâng.
Pho tượng ấy là Po Nagar, nữ thần của người Chăm, mà người Việt trong vùng gọi là Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Đây là khu đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm, không phải đền miếu khởi dựng bởi người Kinh, nhưng lại là di tích Chăm Pa hiếm hoi mà việc thờ cúng chưa từng đứt đoạn và là chỗ hai cộng đồng cùng đứng lễ trên một nền đất.

IPo Nagar và Thiên Y A Na
Vị được thờ ở đây mang ba lớp tên, và ba lớp tên ấy chính là ba lớp lịch sử của ngôi đền. Tên Chăm là Yang Po Inư Nagar, dịch sát là vị thần mẹ của xứ sở. Tên trong bia ký chữ Phạn là Bhagavati, một danh xưng của nữ thần trong Ấn Độ Giáo. Tên người Việt đặt về sau là Thiên Y A Na Thánh Mẫu, dân gian gọi tắt là Bà, nên cả khu đền thành Tháp Bà.
Theo giáo nghĩa Ấn Độ Giáo Chăm, tức Bàlamôn Chăm, thần lực vũ trụ có hai mặt, mặt tĩnh thuộc vị nam thần Shiva, còn mặt động thuộc Shakti, tức năng lực sáng tạo được hình dung dưới dạng một vị nữ thần. Danh xưng Bhagavati trên bia ký ở đây thuộc mặt thứ hai, đồng nhất nữ thần bản địa với phối ngẫu của thần Shiva, nên Po Nagar không phải một vị thần nhỏ của một vùng mà là hình tướng nữ của quyền năng sinh thành.
Riêng người Chăm kể bà theo cách của mình, rằng bà sinh ra từ mây trời và bọt biển, tạo ra đất đai, trầm hương và lúa gạo, dạy dân trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm và dệt vải. Đó là chân dung một vị thần lập quốc và dạy nghề. Hai cách hiểu không loại trừ nhau, bia ký nói bằng ngôn ngữ kinh điển, còn truyền khẩu nói bằng ngôn ngữ người làm ruộng.
Về mặt khảo cứu, khu đền để lại khoảng hai mươi tám đơn vị bia ký chữ Phạn và chữ Chăm cổ, ghi việc các vua Chăm dựng đền, dâng tượng và cúng ruộng đất. Bia ký cho biết ngôi đền gỗ ban đầu tại vùng Kauthara (Nha Trang) bị quân Java đường biển đốt phá năm 774, tới năm 784 vua Satyavarman cho dựng lại đền bằng gạch. Nhờ lớp bia ấy mà giới nghiên cứu biết được danh xưng Bhagavati và biết đây là một trung tâm tế tự chính thức của vương quốc chứ không phải am miếu dân lập. Bia cũng cho biết pho tượng thờ hôm nay không phải pho đầu tiên.
Năm 918 vua Indravarman III cho đúc tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng, nhưng tới năm 950 pho tượng vàng bị quân Khmer cướp mất. Năm 965 vua Jaya Indravarman I cho tạc pho tượng đá cao 2,6 mét đặt trên bệ đài sen thay vào, và giới nghiên cứu xác định pho đang ngồi trong tháp chính chính là pho tượng đá thế kỷ 10 ấy. Phần đầu nguyên bản của pho tượng bị mất vào thời Pháp thuộc đầu thế kỷ 20, đầu tượng hiện nay là phần phục chế bằng xi măng tô vẽ theo diện mạo tượng Mẫu.
Lớp tên thứ ba đến muộn hơn nhiều. Cư dân Việt vào định cư ở vùng đất này không dựng đền mới mà đến lễ ngay tại ngôi đền đã có, đón vị nữ thần xứ sở vào tín ngưỡng Đạo Mẫu rồi gọi bà bằng tôn hiệu của mình. Sự tích về bà được chép thành văn năm 1856, khi Phan Thanh Giản đi qua Khánh Hòa, góp nhặt lời kể của người già rồi ghi thành bài Thiên Y tiên nữ truyện ký, khắc lên tấm bia chữ Hán dựng sau lưng tháp chính. Hiện sau tháp chính có bốn tấm bia xếp thẳng hàng theo trục Bắc Nam, gồm hai bia chữ Hán và hai bia chữ Quốc ngữ, trong đó tấm bia của Phan Thanh Giản nằm ở vị trí đầu tiên tính từ phía bắc.
Truyện chép một tiên nữ giáng trần ở vùng núi Đại An, được hai ông bà lão trồng dưa nhận làm con nuôi, về sau nàng nhập vào khúc kỳ nam trôi ra biển Bắc, kết duyên cùng một vị thái tử phương Bắc và sinh được hai người con. Nhớ quê cũ, nàng lại theo khúc kỳ nam trở về, dạy dân cày cấy, dệt vải và đặt lễ nghi rồi cưỡi hạc bay lên trời. Đáng chú ý là chính Phan Thanh Giản, một đại thần Nho học, khi viết lời bình ở cuối bài ký đã thẳng thắn nêu thắc mắc vì sao hành trạng tự ý đi về, bỏ chồng phương Bắc của bà không theo khuôn phép tam tòng của Nho Giáo, rồi tự kết luận rằng việc đi hay ở của bậc thần thánh có lẽ vượt ngoài khuôn thường.
Có hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không chê trách người đi lễ.
Thứ nhất, đây không phải đền khởi dựng bởi người Kinh. Toàn bộ công trình gạch trên đồi là đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm, do các vua Chăm Pa dựng theo sơ đồ kiến trúc đền tháp Ấn Độ, tháp thờ mở cửa hướng Đông, vật thờ đặt trong lòng tháp. Hương án, áo mão dâng cúng và lối lễ quen thuộc với người Việt là lớp thực hành muộn hơn nhiều thế kỷ, phủ lên một công trình vốn thuộc tôn giáo khác và dân tộc khác.
Thứ hai, Po Nagar và Thiên Y A Na không phải một chuyện kể. Đây là một vị thần được hai truyền thống kể theo hai cách, bản Chăm nói về vị thần mẹ sinh ra xứ sở và dạy nghề, còn bản Việt năm 1856 nói về một tiên nữ giáng trần rồi trở về. Hai bản chồng lên nhau chứ không thay nhau, và cả hai cộng đồng vẫn cùng hành lễ trước một pho tượng.
IINăm thế kỷ xây dựng và lớp tiếp nhận về sau
Hồ sơ di tích ghi niên đại xây dựng của quần thể khoảng từ thế kỷ 8 tới thế kỷ 13, tức năm trăm năm dựng và dựng lại chứ không phải một lần khởi công. Mỗi đời vua thêm một công trình hoặc sửa lại cái cũ, nên trong cùng khu đất có thể gặp mấy phong cách cách nhau vài trăm năm.
- 774 và 784Đền gỗ bị cháy và dựng lại bằng gạchBia ký của vua Satyavarman ghi ngôi đền gỗ ban đầu bị quân Java đường biển đốt phá năm 774. Năm 784 nhà vua cho dựng lại đền bằng gạch và đá tại đồi Cù Lao.
- 813 tới 817Dựng tháp Đông Bắc và tháp Tây BắcQuan đại thần Senapati Par dưới triều vua Harivarman I cho dựng tháp Đông Bắc (tháp chính) và tháp Tây Bắc trong khoảng thời gian này. Tháp Tây Bắc ghi niên đại năm 817 và còn được tu bổ tới thế kỷ 13.
- 918, 950 và 965Tượng vàng và pho tượng đá thay thếNăm 918 vua Indravarman III dựng tượng nữ thần bằng vàng, năm 950 tượng bị quân Khmer lấy mất. Năm 965 vua Jaya Indravarman I cho tạc pho tượng đá thay vào, đó là pho còn ngồi trong tháp chính hôm nay.
- Thế kỷ 11 tới 13Dựng lại tháp chính, khu Mandapa và các tháp phụTháp Đông Bắc được xây dựng lại vào khoảng giữa thế kỷ 11, khu Mandapa cũng thuộc lớp thế kỷ 11. Tháp Đông Nam cao 7,1 mét thuộc thế kỷ 11 tới 12, tháp Nam cao 18 mét thuộc thế kỷ 13. Sau đó việc xây mới dừng lại.
- Từ thế kỷ 17Cư dân Việt tham gia thờ tựNgười Việt định cư ngày một đông trong vùng, đến lễ tại ngôi đền có sẵn và gọi vị thần chủ là Thiên Y A Na Thánh Mẫu.
- 1856Dựng bia Thiên Y tiên nữ truyện kýPhan Thanh Giản soạn bài ký chép sự tích Thiên Y A Na theo lời kể người địa phương, khắc lên bia chữ Hán dựng sau lưng tháp chính.
- 1979 và 2012Di tích quốc gia và di sản phi vật thểNăm 1979 Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Ngày 27 tháng 12 năm 2012, lễ hội Tháp Bà Ponagar được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 5079/QĐ-BVHTTDL.
- 2025Di tích quốc gia đặc biệtXếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt 17 theo Quyết định số 152/QĐ-TTg ký ngày 17 tháng 1 năm 2025, lễ đón nhận bằng tổ chức vào tháng 7 cùng năm.
Một chỗ nguồn ghi khác nhau, xin nói rõ về số công trình còn lại. Hồ sơ của cơ quan quản lý ghi hiện còn năm công trình kiến trúc chính ở hai mặt bằng trên tổng diện tích hơn 57.000 mét vuông, gồm khu Mandapa ở tầng giữa và bốn ngọn tháp ở tầng trên. Nhiều bản tin báo chí lại ghi bốn tháp còn lại trong số sáu tháp từng có ở tầng trên, vì phía sau hàng tháp trước vốn còn hai ngọn tháp nữa bên cạnh tháp Tây Bắc nhưng nay chỉ còn vết nền móng. Hai cách đếm không mâu thuẫn, chỉ khác ở chỗ đếm cả nhà tiền đình Mandapa hay chỉ đếm số tháp thờ. Thư viện ghi rõ cả hai để bạn đọc tiện đối chiếu.
IIIBa tầng đất, bốn ngọn tháp
Khu di tích dựng theo ba tầng mặt bằng cao dần từ chân đồi lên đỉnh đồi Cù Lao (cao khoảng 10 tới 12 mét so với mặt nước biển), đúng lối bố cục đền tháp Ấn Độ Giáo, trong đó việc bước lên cao dần là một phần của nghi thức. Tầng thấp ngang mặt đất là tháp cổng, nay chỉ còn dấu tích nền móng và bậc đá dẫn lên. Tầng giữa là khu Mandapa, nơi sửa soạn lễ vật. Tầng trên cùng đặt các ngọn tháp thờ.
Nằm ở tầng giữa, mặt bằng dài khoảng 20 mét, rộng 15 mét, gồm bốn hàng cột gạch nung hình bát giác mất mái với tổng cộng 22 cột, trong đó có 10 cột lớn phía trong (cao hơn 3 mét, đường kính hơn 1 mét, có lỗ mộng) và 12 cột nhỏ phía ngoài. Đây là nơi khách hành hương chuẩn bị lễ vật trước khi lên tháp.
Tháp chính, cao khoảng 23 mét, bốn tầng thu nhỏ dần, thờ nữ thần Po Nagar, nơi đặt pho tượng đá năm 965. Trên vòm cửa chính phía Đông có bức phù điêu đá (lá nhĩ) thế kỷ 11 chạm hình thần Shiva bốn tay múa giữa hai nhạc công.
Cao 18 mét, lớn thứ hai trong quần thể, niên đại thế kỷ 13, thờ thần Shiva dưới dạng linga. Theo truyền thuyết dân gian của người Việt, đây là Dinh Ông, thờ chồng của Thiên Y A Na Thánh Mẫu.
Quy mô nhỏ, cao 7,1 mét, niên đại thế kỷ 11 tới 12, thờ thần Skandha (con của thần Shiva, vị thần chiến trận). Truyền thuyết người Việt gọi là Dinh Cố, thờ ông bà Tiều là cha mẹ nuôi của Bà.
Đứng ở hàng thứ hai phía sau, cao 9 mét, xây lần đầu năm 817 và trùng tu tới thế kỷ 13, giữ được kiến trúc và trang trí nguyên vẹn với bộ mái hình yên ngựa. Tháp thờ thần Ganesha (vị thần trí tuệ và may mắn), người Việt gọi là Dinh Cô Cậu, thờ hai người con của Bà.
Khoảng hai mươi tám đơn vị minh văn chữ Phạn và chữ Chăm cổ khắc trên bia đá và trụ cửa rải trong khu đền, cùng bốn tấm bia sau tháp chính chép bài ký năm 1856.
Cách xây của người Chăm
Tường tháp xây bằng gạch, xếp khít tới mức mắt thường khó tìm ra mạch vữa, nhiều mảng hoa văn chạm thẳng lên mặt tường đã xây xong, tức chạm xuyên qua nhiều viên gạch liền nhau. Chất kết dính chưa có lời đáp dứt điểm, các giả thuyết thường được nhắc gồm mài chập hai mặt gạch rồi gắn bằng lớp keo nhựa cây dầu rái rất mỏng, xây bằng gạch chưa nung hẳn rồi nung lại cả khối, hoặc dùng vữa làm từ chính bột gạch.
Khối tháp chia ba phần đế, thân và mái, mái thu nhỏ dần thành nhiều tầng giả, lòng tháp rỗng vút lên tới đỉnh. Trong giáo nghĩa Ấn Độ Giáo, hình khối ấy dựng lại ngọn núi thiêng Meru ở trung tâm vũ trụ, nên ngôi đền là hình ảnh thu nhỏ của cả một thế giới chứ không phải cái nhà cho thần ở. Lòng tháp vì thế hẹp và tối, vốn chỉ dành cho vật thờ và người chủ tế.
IVThế đất và hướng
Xin nói thẳng trước khi đọc tiếp. Ấn Độ Giáo không dạy phong thủy. Phong thủy là một hệ thuật số của vùng Đông Á, người Chăm khi dựng đền tháp không dùng nó. Việc các tháp ở đây đều mở cửa chính về hướng Đông là theo quy tắc riêng của kiến trúc đền tháp Ấn Độ, hướng mặt trời mọc, hướng ánh sáng đầu ngày phải rọi được vào vật thờ. Phần dưới đây là chỗ đối chiếu của thư viện dành cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt, không phải điều người Chăm tính tới, cũng không phải điều chép trong bia ký.
Đọc theo lối cũ của người Việt thì điều đầu tiên là chỗ đứng. Khu đền nằm trên mỏm đồi Cù Lao ngay bờ bắc cửa sông Cái, chỗ dòng sông đổ ra vịnh Nha Trang ở phía đông. Trong phép xem đất, đây là thế gò nổi giữa hợp lưu, đất cao hơn chung quanh làm chỗ tụ, nước sông và nước biển gặp nhau ngay trước mặt làm minh đường. Sách xưa coi chỗ sông gặp biển là nơi khí động mạnh, thường dành cho đền miếu lớn chứ ít dùng làm nhà ở.
Thứ hai là hướng Đông. Trong phép cũ của người Việt, hướng Đông thuộc hành Mộc, ứng với khí sinh phát buổi sáng, nên đền miếu quay về hướng ấy được coi là đón được khí lên. Kiến trúc đền tháp Ấn Độ chọn hướng Đông vì lý khác hẳn, ánh sáng đầu ngày từ mặt biển phía đông phải đi qua cửa mà chạm tới vật thờ trong lòng tháp. Hai hệ đi tới cùng một hướng bằng hai đường lý giải khác nhau, và chỗ đáng học nằm ở sự khác nhau ấy.
Thứ ba là ba tầng cao dần. Người Việt đọc thế đất theo mặt bằng, lấy trục trước sau và minh đường làm chuẩn, còn kiến trúc ở đây tổ chức theo chiều đứng, người hành hương phải leo bậc dốc qua khu Mandapa mới lên tới sân tháp nơi thần ngự. Con mắt cổ truyền sẽ thấy giống lối tầng tầng thăng tiến của chùa dựng trên núi, nhưng lý do bên trong khác hẳn, một bên là bậc thang của việc tu tập, một bên là hình ảnh ngọn núi vũ trụ Meru. Thư viện ghi các nhận xét ấy đúng như một cách đọc đối chiếu và dừng ở đó.
VLễ hội Tháp Bà tháng Ba âm lịch
Điểm làm nên sức sống riêng của Tháp Bà Ponagar là nơi này vẫn có lễ hội lớn hằng năm, thu hút hàng vạn người hành hương. Kỳ lễ hội chính mở từ ngày 20 tới ngày 23 tháng Ba âm lịch, người về dự gồm cả người Việt tại Khánh Hòa và Tây Nguyên lẫn người Chăm từ vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ. Ngoài kỳ hội chính, tại tháp còn có lệ thay y ba lần trong năm vào giờ Ngọ (12 giờ trưa) các ngày 20 tháng Ba, 12 tháng Bảy và 20 tháng Chạp âm lịch, cùng các ngày vía vào mùng 8, 18 và 28 âm lịch hằng tháng.
| Ngày âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 20 tháng Ba | Lễ thay y (Mộc dục) | Nghi thức mở đầu vào đúng giờ Ngọ (12 giờ trưa). Chủ tế dâng trầm hương, nhang, hoa và trái cây, dùng nước thơm pha ngũ vị hương lau rửa pho tượng rồi khoác xiêm y và mũ miện mới cho tượng Bà trong tháp chính. |
| Ngày 20 tháng Ba | Lễ thả hoa đăng | Buổi tối, đoàn rước từ khu đền xuống bờ sông Cái thả hàng nghìn đèn hoa trên mặt nước cầu bình an, gắn với vị trí ngôi đền ngay cửa sông. |
| Ngày 21 tháng Ba | Lễ cầu quốc thái dân an, hoàn kinh và cúng thí thực | Phần tụng kinh cầu an cho mưa thuận gió hòa, sau đó là lễ cúng thí thực siêu độ cô hồn theo lệ của nhà đền. |
| Ngày 22 tháng Ba | Lễ dâng Mẫu | Các đoàn hành hương từ các tỉnh thành lần lượt dâng lễ vật và trình diễn múa dâng Bông lên Thánh Mẫu. |
| Ngày 23 tháng Ba | Tế lễ cổ truyền, lễ Khai Diên và lễ Tôn Vương | Phần tế theo nghi thức cổ truyền của các bô lão, tiếp đó là hai lễ mở đầu cho phần diễn xướng hầu Mẫu. |
| Ngày 23 tháng Ba | Múa Bóng và hát văn | Múa Bóng là điệu múa dâng thần với mâm lễ hoặc tháp hoa đội trên đầu, hát văn là lối hát kể sự tích Thiên Y A Na Thánh Mẫu. |
Cần nói rõ một điều về bảng trên, phần lớn các nghi thức như tế cổ truyền, hát văn và cúng thí thực thuộc lớp thực hành của người Việt theo lối thờ Mẫu và Phật giáo dân gian, còn các đoàn người Chăm về dự hội lại thực hiện nghi lễ và điệu múa truyền thống của người Chăm. Riêng lễ thay y là chỗ hai truyền thống gặp nhau rõ rệt, vì nghi thức tắm tượng bằng nước thảo mộc và khoác y phục mới cho thần vốn có gốc trong nghi thức đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm, lại vừa khớp với lệ mộc dục và thay khăn áo cho Thánh Mẫu của người Việt.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đồi Cù Lao bên cửa sông Cái, phường Bắc Nha Trang (phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang cũ), tỉnh Khánh Hòa
- Đường tới
- Khu đền tháp nằm trên đồi Cù Lao bên bờ bắc cửa sông Cái, đường 2 Tháng 4, phường Bắc Nha Trang (trước tháng 7 năm 2025 là phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang), tỉnh Khánh Hòa, cách trung tâm Nha Trang chừng 2 km về phía bắc, qua cầu Xóm Bóng là tới.
- Toạ độ
- 12.2653, 109.1953
Đây vừa là di tích quốc gia đặc biệt vừa là nơi thờ tự đang hoạt động, nên có hai lớp lệ cùng lúc. Lệ của nơi thờ yêu cầu khách ăn mặc kín đáo (nhà đền có cho mượn áo choàng miễn phí nếu mặc quần váy ngắn), bỏ mũ và bỏ giày dép trước khi bước vào lòng tháp chính, không đứng chắn cửa tháp khi có người đang lễ. Lệ giữ hiện vật yêu cầu không chạm và không tựa vào mặt gạch có hoa văn, không đặt lễ vật lên bia đá và chân cột Mandapa, không trèo lên nền móng đã đổ. Kỳ lễ tháng Ba âm lịch nhiều đoàn hành lễ theo lượt, xin nhường lối cho đoàn đang vào tháp.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tháp Bà Ponagar
Contribute photos, information or video for Po Nagar Cham TowersThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tháp Bà Ponagar thờ ai
Thờ nữ thần Po Nagar của người Chăm, tên Chăm là Yang Po Inư Nagar nghĩa là thần mẹ của xứ sở, tên trong bia ký chữ Phạn là Bhagavati. Người Việt đón bà vào tín ngưỡng thờ Mẫu dưới tôn hiệu Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Ba ngọn tháp còn lại thờ thần Shiva (Dinh Ông), thần Skandha (Dinh Cố) và thần Ganesha (Dinh Cô Cậu).
Tháp Bà Ponagar là chùa hay là đền
Không phải chùa. Đây là quần thể đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm, tức Bàlamôn Chăm, do các vua Chăm Pa dựng bằng gạch khoảng thế kỷ 8 tới 13 để thờ nữ thần Po Nagar và các vị thần Ấn Độ Giáo. Việc người Việt về sau đến lễ theo lối thờ Mẫu là lớp thực hành muộn hơn, tiếp nối trên công trình vốn có.
Po Nagar và Thiên Y A Na có phải là một không
Là cùng một vị thần được hai truyền thống kể theo hai cách. Bản Chăm nói bà sinh ra từ mây trời và bọt biển, tạo dựng xứ sở, dạy dân trồng lúa và dệt vải. Bản Việt trong bài Thiên Y tiên nữ truyện ký do Phan Thanh Giản soạn năm 1856 kể bà là tiên nữ giáng trần ở núi Đại An, theo khúc kỳ nam ra Bắc kết duyên với thái tử rồi trở về quê cũ dạy dân làm ăn. Hai lớp truyện chồng lên nhau và cả hai cộng đồng cùng hành lễ trước một pho tượng.
Tháp Bà Ponagar còn lại mấy tháp và cao bao nhiêu
Hồ sơ di tích ghi còn năm công trình chính ở hai tầng mặt bằng, gồm khu tiền đình Mandapa (22 cột gạch tám cạnh) và bốn ngọn tháp ở tầng trên. Tháp Đông Bắc là tháp chính cao khoảng 23 mét, tháp Nam cao 18 mét, tháp Tây Bắc cao 9 mét, tháp Đông Nam cao 7,1 mét. Tầng trên xưa có sáu tháp nhưng hai tháp hàng sau chỉ còn dấu nền móng.
Lễ hội Tháp Bà diễn ra ngày nào
Kỳ lễ hội chính diễn ra từ ngày 20 tới ngày 23 tháng Ba âm lịch hằng năm, gồm lễ thay y lúc 12 giờ trưa và thả hoa đăng tối ngày 20, lễ cầu quốc thái dân an ngày 21, lễ dâng Mẫu ngày 22, rồi tế lễ cổ truyền cùng múa Bóng và hát văn ngày 23. Ngoài ra lễ thay y còn tổ chức vào ngày 12 tháng Bảy và 20 tháng Chạp âm lịch.