VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tháp Bà Ponagar

· Po Nagar, Yang Po Inư Nagar, Tháp Bà Nha Trang

Quần thể đền tháp Chăm duy nhất còn được người dân thờ cúng liên tục cho tới nay, nơi một nữ thần Chăm được người Việt đón vào hàng Thánh Mẫu.

Niên đại
Thế kỷ 8 tới 13
theo hồ sơ di tích của cơ quan quản lý
Tháp chính
23 m
tháp Đông Bắc, xây khoảng 813 tới 817, dựng lại thế kỷ 11
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 152 ngày 17 tháng 1 năm 2025

Từ chân cầu Xóm Bóng nhìn lên, quý vị thấy một mỏm đồi thấp nhô ra sát cửa sông Cái, trên đỉnh đồi là bốn khối tháp gạch đỏ sẫm đứng so le. Leo hết bậc đá dốc là tới một khoảng sân có những cột gạch tám cạnh cụt đầu, không còn mái. Qua khoảng cột ấy mới tới chân tháp lớn. Cửa tháp hẹp, quay về hướng Đông, trong lòng tháp tối, một pho tượng nữ ngồi trên bệ đá, khoác áo lụa màu do người đi lễ dâng.

Pho tượng ấy là Po Nagar, nữ thần của người Chăm, mà người Việt trong vùng gọi là Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Đây là khu đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm, không phải đền miếu của người Kinh, nhưng lại là di tích Chăm Pa hiếm hoi mà việc thờ cúng chưa từng đứt đoạn, và là chỗ hai cộng đồng cùng đứng lễ trên một nền đất.

Tháp Bà Ponagar
Tháp Bà Ponagar. Ảnh: 4pf3154f7, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Po Nagar Và Thiên Y A Na

Vị được thờ ở đây mang ba lớp tên, và ba lớp tên ấy chính là ba lớp lịch sử của ngôi đền. Tên Chăm là Yang Po Inư Nagar, dịch sát là vị thần mẹ của xứ sở. Tên trong bia ký chữ Phạn là Bhagavati, một danh xưng của nữ thần trong Ấn Độ Giáo. Tên người Việt đặt về sau là Thiên Y A Na Thánh Mẫu, dân gian gọi tắt là Bà, nên cả khu đền thành Tháp Bà.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Ấn Độ Giáo Chăm, tức Bàlamôn Chăm, thần lực vũ trụ có hai mặt: mặt tĩnh thuộc vị nam thần, mặt động thuộc Shakti, tức năng lực, hình dung dưới dạng một vị nữ thần. Danh xưng Bhagavati trên bia ký ở đây thuộc mặt thứ hai, nên Po Nagar không phải một vị thần nhỏ của một vùng mà là hình tướng nữ của quyền năng sinh thành.

Riêng người Chăm kể bà theo cách của mình: bà sinh ra từ mây trời và bọt biển, tạo ra đất đai, dạy dân trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm và dệt vải. Đó là chân dung một vị thần lập quốc và dạy nghề. Hai cách hiểu không loại nhau: bia ký nói bằng ngôn ngữ kinh điển, truyền khẩu nói bằng ngôn ngữ người làm ruộng.

Theo sử liệu

Về mặt khảo được, khu đền để lại khoảng hai mươi tấm bia ký chữ Phạn và chữ Chăm cổ, ghi việc các vua Chăm dựng đền, dâng tượng và cúng ruộng đất. Nhờ lớp bia ấy mà biết được danh xưng Bhagavati và biết đây là một trung tâm tế tự chính thức chứ không phải am miếu dân lập. Bia cũng cho biết pho tượng thờ hôm nay không phải pho đầu tiên.

Năm 950 pho tượng nữ thần bằng vàng bị lấy mất trong một cuộc cướp phá; năm 965 vua Jaya Indravarman I cho tạc pho tượng đá thay vào, và giới nghiên cứu xác định pho đang ngồi trong tháp chính chính là pho đá ấy. Đầu tượng và hai tay nguyên bản bị lấy đi hồi đầu thế kỷ 20, phần đầu hiện nay là phục chế bằng vật liệu khác.

Lớp tên thứ ba đến muộn hơn nhiều. Cư dân Việt vào định cư ở vùng đất này không dựng đền mới mà đến lễ ngay tại ngôi đền đã có, rồi gọi vị thần bằng tên của mình. Sự tích về bà được chép thành văn năm 1856, khi Phan Thanh Giản đi qua Khánh Hòa, góp nhặt lời kể của người già rồi ghi thành bài Thiên Y tiên nữ truyện ký, khắc lên bia dựng sau tháp chính, nay còn bốn tấm.

Truyện chép một tiên nữ giáng trần ở vùng núi Đại An, được hai ông bà lão trồng dưa nhận làm con nuôi; về sau nàng nhập vào khúc kỳ nam trôi ra biển Bắc, được một vị thái tử lấy làm vợ; nhớ quê cũ, nàng theo khúc gỗ trở về, dạy dân làm ăn rồi hóa. Đáng chú ý là chính Phan Thanh Giản, một nhà nho, khi bình lại truyện đã thấy hành trạng của bà không khớp khuôn phép tam tòng của Nho Giáo, và ông ghi thẳng nhận xét ấy vào bài ký.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không chê trách người đi lễ.

Thứ nhất, đây không phải đền của người Kinh. Toàn bộ công trình gạch trên đồi là đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm, do các vua Chăm Pa dựng theo sơ đồ kiến trúc đền tháp Ấn Độ, tháp thờ mở cửa hướng Đông, vật thờ đặt trong lòng tháp. Hương án, áo mão dâng cúng và lối lễ quen thuộc với người Việt là lớp thực hành muộn hơn nhiều thế kỷ, phủ lên một công trình vốn thuộc tôn giáo khác và dân tộc khác.

Thứ hai, Po Nagar và Thiên Y A Na không phải một chuyện kể. Đây là một vị thần được hai truyền thống kể theo hai cách: bản Chăm nói về vị thần mẹ sinh ra xứ sở và dạy nghề, bản Việt năm 1856 nói về một tiên nữ giáng trần rồi trở về. Hai bản chồng lên nhau chứ không thay nhau, và cả hai cộng đồng vẫn cùng hành lễ trước một pho tượng.

Năm Thế Kỷ Xây Dựng Và Lớp Tiếp Nhận Về Sau

Hồ sơ di tích ghi niên đại xây dựng của quần thể khoảng từ thế kỷ 8 tới thế kỷ 13, tức năm trăm năm dựng và dựng lại chứ không phải một lần khởi công. Mỗi đời vua thêm một công trình hoặc sửa lại cái cũ, nên trong cùng khu đất có thể gặp mấy phong cách cách nhau vài trăm năm.

  • Thế kỷ 8Lớp công trình sớm nhất
    Việc tế tự tại đồi Cù Lao bắt đầu khoảng thế kỷ này, biết qua lớp bia ký sớm nhất. Các công trình đầu tiên không còn nguyên.
  • 813 tới 817Dựng tháp Đông Bắc và tháp Tây Bắc
    Tháp Đông Bắc, tức tháp chính cao 23 mét, xây trong khoảng này. Tháp Tây Bắc cao 9 mét ghi vào năm 817, còn được sửa tới thế kỷ 13.
  • 950 và 965Thay tượng vàng bằng tượng đá
    Năm 950 pho tượng nữ thần bằng vàng bị lấy mất. Năm 965 vua Jaya Indravarman I cho tạc pho tượng đá thay vào, đó là pho còn ngồi trong tháp chính hôm nay.
  • Thế kỷ 11 tới 13Dựng lại tháp chính, khu Mandapa và các tháp nhỏ
    Tháp Đông Bắc được xây lại trong thế kỷ 11, khu Mandapa cũng thuộc lớp này. Tháp Đông Nam cao 7,1 mét thuộc thế kỷ 11 tới 12, tháp Nam cao 18 mét thuộc thế kỷ 13. Sau đó việc xây dựng dừng lại.
  • Từ thế kỷ 17Cư dân Việt tham gia thờ tự
    Người Việt định cư ngày một đông trong vùng, đến lễ tại ngôi đền có sẵn và gọi vị thần chủ là Thiên Y A Na Thánh Mẫu.
  • 1856Dựng bia Thiên Y tiên nữ truyện ký
    Phan Thanh Giản soạn bài ký chép sự tích Thiên Y A Na theo lời kể người địa phương, khắc lên bia dựng sau tháp chính.
  • 1979Di tích quốc gia
    Bộ Văn hóa và Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2025Di tích quốc gia đặc biệt
    Xếp hạng theo Quyết định số 152 ký ngày 17 tháng 1 năm 2025, lễ đón bằng tổ chức tháng 7 cùng năm. Trước đó lễ hội Tháp Bà đã vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012.
Theo sử liệu

Một chỗ nguồn ghi khác nhau, xin nói rõ: số công trình còn lại. Hồ sơ của cơ quan quản lý ghi hiện còn năm công trình kiến trúc chính, gồm bốn ngọn tháp cộng khu Mandapa, trên tổng diện tích 57.000 mét vuông. Nhiều bản tin lại ghi bốn tháp còn lại trong số sáu công trình từng có, tức chỉ đếm tháp và kể cả công trình đã mất. Hai cách đếm không mâu thuẫn, chỉ khác ở chỗ có tính nhà tiền đình hay không; chúng tôi ghi cả hai.

Ba Tầng Đất, Bốn Ngọn Tháp

Khu di tích dựng theo ba tầng cao dần, đúng lối bố cục đền tháp Ấn Độ Giáo, trong đó việc đi lên là một phần của nghi thức. Tầng thấp nhất là tháp cổng, nay chỉ còn nền. Tầng giữa là khu Mandapa, nơi sửa soạn lễ vật. Tầng trên cùng đặt bốn ngọn tháp còn lại.

Khu Mandapa

Nhà tiền đình ở tầng giữa, nay còn hệ cột gạch tám cạnh mất mái, xếp bốn hàng, mười cột lớn phía trong và mười hai cột nhỏ phía ngoài. Chỗ sửa soạn lễ, không phải chỗ thờ.

Tháp Đông Bắc

Tháp chính, cao 23 mét, thờ nữ thần Po Nagar, nơi đặt pho tượng đá thế kỷ 10. Người Việt gọi là tháp Bà.

Tháp Nam

Cao 18 mét, thế kỷ 13, thờ thần Shiva. Lối gọi dân gian của người Việt là tháp Ông, tức nơi thờ chồng của Bà.

Tháp Đông Nam

Nhỏ nhất, cao 7,1 mét, thế kỷ 11 tới 12, thờ thần Skandha, con của Shiva. Dân gian Việt xếp vào hàng con cháu trong nhà của Bà.

Tháp Tây Bắc

Cao 9 mét, thờ thần Ganesha, giữ được kiến trúc và trang trí nguyên vẹn hơn cả, mái hình yên ngựa khác hẳn ba ngọn kia.

Bia ký

Khoảng hai mươi tấm bia chữ Phạn và chữ Chăm cổ rải trong khu đền, cùng bốn tấm bia chữ Hán chép bài ký năm 1856.

Cách Xây Của Người Chăm

Tường tháp xây bằng gạch, xếp khít tới mức mắt thường khó tìm ra mạch vữa, nhiều mảng hoa văn chạm thẳng lên mặt tường đã xây xong, tức chạm xuyên qua nhiều viên gạch liền nhau. Chất kết dính chưa có lời đáp dứt điểm; các giả thuyết thường được nhắc gồm mài chập hai mặt gạch rồi gắn bằng lớp keo nhựa cây rất mỏng, xây bằng gạch chưa nung hẳn rồi nung lại cả khối, hoặc dùng vữa làm từ chính bột gạch.

Khối tháp chia ba phần đế, thânmái, mái thu nhỏ dần thành nhiều tầng giả. Trong giáo nghĩa Ấn Độ Giáo, hình khối ấy dựng lại ngọn núi thiêng ở trung tâm vũ trụ, nên ngôi đền là hình ảnh thu nhỏ của cả một thế giới chứ không phải cái nhà cho thần ở. Lòng tháp vì thế rất hẹp và tối, chỉ vừa đủ cho vật thờ và người chủ tế.

Thế Đất Và Hướng

Xin nói thẳng trước khi đọc tiếp. Ấn Độ Giáo không dạy phong thủy. Phong thủy là một hệ thuật số của vùng Đông Á, người Chăm khi dựng đền tháp không dùng nó. Việc các tháp ở đây đều mở cửa chính về hướng Đông là theo quy tắc riêng của kiến trúc đền tháp Ấn Độ, hướng mặt trời mọc, hướng ánh sáng đầu ngày phải rọi được vào vật thờ. Phần dưới đây là chỗ đối chiếu của thư viện dành cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt, không phải điều người Chăm tính tới, cũng không phải điều chép trong bia ký.

Thế đất và hướng

Đọc theo lối cũ của người Việt thì điều đầu tiên là chỗ đứng. Khu đền nằm trên mỏm đồi thấp ngay bên cửa sông Cái, chỗ dòng sông đổ ra biển. Trong phép xem đất, đây là thế gò nổi giữa hợp lưu: đất cao hơn chung quanh làm chỗ tụ, nước sông và nước biển gặp nhau ngay trước mặt làm minh đường. Sách xưa coi chỗ sông gặp biển là nơi khí động mạnh, thường dành cho đền miếu chứ ít dùng làm nhà ở.

Thứ hai là hướng Đông. Trong phép cũ của người Việt, hướng Đông thuộc hành Mộc, ứng với khí sinh phát buổi sáng, nên đền miếu quay về hướng ấy được coi là đón được khí lên. Kiến trúc đền tháp Ấn Độ chọn hướng Đông vì lý khác hẳn: ánh sáng đầu ngày phải đi qua cửa mà chạm tới vật thờ. Hai hệ đi tới cùng một hướng bằng hai đường lý giải khác nhau, và chỗ đáng học nằm ở sự khác nhau ấy.

Thứ ba là ba tầng cao dần. Người Việt đọc thế đất theo mặt bằng, lấy trục trước sau và minh đường làm chuẩn; kiến trúc ở đây tổ chức theo chiều đứng, người hành hương phải leo, mức cuối là nơi thần ngự. Con mắt cổ truyền sẽ thấy giống lối tầng tầng thăng tiến của chùa dựng trên núi, nhưng lý do bên trong khác hẳn: một bên là bậc thang của việc tu tập, một bên là hình ảnh ngọn núi vũ trụ. Chúng tôi ghi các nhận xét ấy đúng như một cách đọc, và dừng ở đó.

Lễ Hội Tháp Bà Tháng Ba Âm Lịch

Đây là điểm khác lớn nhất giữa Tháp Bà Ponagar và các khu đền tháp Chăm còn lại: nơi này vẫn có lễ hội thật hằng năm, không phải một khu khảo cổ đã ngừng. Lễ hội mở từ ngày 20 tới ngày 23 tháng Ba âm lịch, người về dự gồm cả người Việt tại Khánh Hòa lẫn người Chăm từ Ninh Thuận và Bình Thuận cũ.

Trình tự bốn ngày lễ hội tại khu đền tháp. Lễ hội vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012. Nguồn: Cổng thông tin tỉnh Khánh Hòa, bài về lễ hội Tháp Bà Ponagar..
Ngày âm lịchNghi thứcNội dung
Ngày 20 tháng BaLễ thay yNghi thức mở đầu. Chủ tế dâng trầm hương, nhang, hoa và trái cây, khấn vái, rồi thay y phục mới cho pho tượng trong tháp chính.
Ngày 20 tháng BaLễ thả hoa đăngĐoàn rước từ khu đền xuống bến sông Cái thả đèn hoa trên mặt nước, gắn với vị trí ngôi đền ngay cửa sông.
Ngày 21 tháng BaLễ cầu quốc thái dân an, hoàn kinh và cúng thí thựcPhần tụng kinh cầu an, sau đó là lễ cúng thí thực theo lệ của nhà đền.
Ngày 22 tháng BaLễ dâng MẫuCác đoàn hành hương lần lượt dâng lễ vật lên Thánh Mẫu, là ngày đông người dâng lễ nhất trong kỳ hội.
Ngày 23 tháng BaTế lễ cổ truyền, lễ Khai Diên và lễ Tôn VươngPhần tế theo nghi thức cổ truyền, tiếp đó là hai lễ mở đầu cho phần diễn xướng.
Ngày 23 tháng BaMúa Bóng và hát vănMúa Bóng là điệu múa dâng thần với mâm lễ đội trên đầu, hát văn là lối hát kể sự tích vị được thờ.

Cần nói rõ một điều về bảng trên: phần lớn các nghi thức ấy thuộc lớp thực hành của người Việt theo lối thờ Mẫu, không phải nghi thức Ấn Độ Giáo Chăm nguyên bản, vốn xoay quanh việc tắm tượng, dâng hoa và dâng lửa do lớp tăng lữ Chăm chủ trì. Riêng lễ thay y là chỗ hai bên gặp nhau rõ nhất, vì tắm tượng và thay áo cho tượng vốn có gốc trong nghi thức đền tháp, lại vừa khớp với lệ thay khăn áo cho Thánh Mẫu của người Việt.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đồi Cù Lao bên cửa sông Cái, phường Vĩnh Phước cũ, thành phố Nha Trang cũ, tỉnh Khánh Hòa
Đường tới
Khu đền tháp nằm trên đồi Cù Lao bên cửa sông Cái, phường Vĩnh Phước cũ, thuộc thành phố Nha Trang cũ, tỉnh Khánh Hòa, cách trung tâm chừng hai cây số về phía bắc, qua cầu Xóm Bóng là tới.
Toạ độ
12.2653, 109.1953
Khi tới nơi

Đây vừa là di tích vừa là nơi thờ tự đang hoạt động, nên có hai lớp lệ cùng lúc. Lệ của nơi thờ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và bỏ giày dép trước khi vào lòng tháp chính, không đứng chắn cửa tháp khi có người đang lễ. Lệ giữ hiện vật: không chạm và không tựa vào mặt gạch có hoa văn, không đặt lễ vật lên bia đá và chân cột Mandapa, không trèo lên nền móng đã đổ. Kỳ lễ tháng Ba âm lịch nhiều đoàn hành lễ theo lượt, xin nhường lối cho đoàn đang vào tháp.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Tháp Bà Ponagar thờ ai

Thờ nữ thần Po Nagar của người Chăm, tên Chăm là Yang Po Inư Nagar nghĩa là thần mẹ của xứ sở, tên trong bia ký chữ Phạn là Bhagavati. Người Việt gọi bà là Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Ba ngọn tháp còn lại thờ Shiva, Skandha và Ganesha.

Tháp Bà Ponagar là chùa hay là đền

Không phải chùa. Đây là quần thể đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm, tức Bàlamôn Chăm, do các vua Chăm Pa dựng khoảng thế kỷ 8 tới 13, thờ nữ thần chứ không thờ Phật. Việc người Việt về sau đến lễ theo lối thờ Mẫu là lớp thực hành muộn hơn, phủ lên công trình vốn có.

Po Nagar và Thiên Y A Na có phải là một không

Là cùng một vị thần được hai truyền thống kể theo hai cách. Bản Chăm nói bà sinh ra xứ sở, dạy dân trồng lúa và dệt vải. Bản Việt trong bài Thiên Y tiên nữ truyện ký do Phan Thanh Giản soạn năm 1856 kể bà là tiên nữ giáng trần ở vùng Đại An rồi trở về. Hai bản chồng lên nhau chứ không thay nhau.

Tháp Bà Ponagar còn lại mấy tháp và cao bao nhiêu

Hồ sơ di tích ghi còn năm công trình chính, gồm bốn tháp và khu Mandapa. Tháp Đông Bắc là tháp chính cao 23 mét, tháp Nam 18 mét, tháp Tây Bắc 9 mét, tháp Đông Nam 7,1 mét. Một số bản tin chỉ đếm bốn tháp trong số sáu công trình từng có.

Lễ hội Tháp Bà diễn ra ngày nào

Từ ngày 20 tới ngày 23 tháng Ba âm lịch hằng năm, gồm lễ thay y và thả hoa đăng ngày 20, lễ cầu quốc thái dân an ngày 21, lễ dâng Mẫu ngày 22, rồi tế lễ cổ truyền cùng múa Bóng và hát văn ngày 23. Lễ hội là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2012.

Đọc Tiếp