VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Vĩnh Tràng

永長寺 · Chùa Vĩnh Trường, Vĩnh Tràng cổ tự

Ngôi đại tự của đất Mỹ Tho, nơi nghề chạm gỗ Nam Bộ, nghề ghép sành sứ và lối xây vòm của thợ tây cùng ở lại trong một khuôn tường.

Dựng đại tự
1849
Hòa thượng Huệ Đăng, đặt tên Vĩnh Trường
Khuôn viên
14.000 m2
khu thờ chính dài khoảng 70 m, 178 cột
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng năm 1984

Đi hết con đường nhỏ hai bên là vườn cây ở phía đông bắc trung tâm Mỹ Tho cũ, quý vị gặp trước tiên không phải một mái chùa mà một cái cổng. Hai cổng tam quan xây gạch, cao và dày, mặt cổng không quét vôi trơn mà phủ kín hàng vạn mảnh sành sứ vỡ ghép thành hình long lân quy phượng, hoa lá mây trời và các tích nhà Phật. Đứng gần thì chỉ thấy mảnh bát mảnh đĩa; lùi ra vài bước thì các mảnh ấy hiện thành tranh.

Qua cổng vào sân, cái lạ thứ hai mới tới. Mái chùa lợp ngói theo lối Việt, nhưng hàng cửa là cửa vòm cuốn, lan can có bông sắt, nền lát gạch men, còn trong chính điện thì bao lam chạm rồng phượng và hoành phi chữ Hán treo kín. Người trong nghề gọi đây là đại tự, và cái lớn ở Vĩnh Tràng nằm ở số lớp nghề đã chồng lên nhau trên một nền đất.

Chùa Vĩnh Tràng
Chùa Vĩnh Tràng. Ảnh: GiaoThong2013, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tổ Đình, Tông Phái Và Tên Gọi

Trước khi xem gạch ngói, xin nói rõ nơi này là chùa gì. Vĩnh Tràng là chùa Phật Giáo Bắc Tông, thuộc dòng thiền Lâm Tế, nhánh mà tài liệu nhà chùa gọi là Lâm Tế Trí Huệ, và được coi là tổ đình của nhánh ấy trên đất Mỹ Tho. Tổ đình nghĩa là ngôi chùa gốc của một dòng truyền thừa, nơi các chùa con cháu trong dòng về làm lễ tổ.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Bắc Tông, chính điện được bày theo trục dọc từ sâu ra ngoài: trong cùng và trên cao là bộ Tam Tôn, giữa là Đức Thích Ca, hai bên phối thờ các vị Bồ Tát, phía ngoài là các lớp hộ pháp và La Hán. Cách bày ấy dựng lại một trật tự giáo lý. Ở một tổ đình còn thêm một lớp nữa: phía sau chính điện là nhà tổ, đặt long vị và chân dung các vị trụ trì đã viên tịch, và lớp thờ tổ ấy là thứ phân biệt tổ đình với một ngôi chùa thường.

Theo sử liệu

Tư liệu nhà chùa chép rằng năm 1849, khi Hòa thượng Thích Huệ Đăng dựng lại thành đại tự, chùa được đặt tên Vĩnh Trường, lấy từ một câu đối có nghĩa là còn mãi cùng núi sông, bền lâu ngang trời đất. Quả đại hồng chung cũng khắc ba chữ Vĩnh Trường Tự. Ba chữ Hán ghi ở đầu bài là dạng chuẩn của tên gọi ấy, suy từ nghĩa câu đối, chứ không chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể.

Vĩnh Tràng là cách người trong vùng đọc chữ Trường theo lối phát âm Nam Bộ, dùng lâu tới mức thành tên chính thức trong mọi giấy tờ hôm nay. Trước cả hai tên ấy, dân quanh vùng còn gọi là chùa Ông Huyện.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm: thấy chùa mang nhiều nét kiến trúc phương tây thì cho rằng hẳn do người phương tây dựng hoặc dựng theo bản vẽ của họ. Không có tư liệu nào nói vậy. Các đợt xây dựng đều do nhà chùa chủ trì, thợ trong vùng cùng thợ từ nơi khác tới làm; vòm cuốn, bông sắt và gạch men là vật liệu sẵn có trên thị trường Nam Bộ đầu thế kỷ 20, nhà chùa chọn dùng như người ta chọn một loại gỗ hay một loại ngói.

Từ Ngôi Am Của Tri Huyện Tới Ngôi Đại Tự

Lịch sử chùa chia ba đoạn: một ngôi am nhỏ do viên tri huyện dựng ở đầu thế kỷ 19; năm 1849, khi am ấy được dựng lại thành đại tự và có tên chữ; rồi những lần tu sửa sau bão gió suốt nửa đầu thế kỷ 20, và chính đoạn thứ ba này để lại dáng vóc quý vị thấy hôm nay.

  • Đầu thế kỷ 19Ngôi am của tri huyện Bùi Công Đạt
    Tri huyện Bùi Công Đạt, viên quan đời Minh Mạng, dựng ngôi am nhỏ trên đất này để tu niệm. Dân vùng gọi là chùa Ông Huyện. Một bản khảo cứu nhà chùa nêu năm 1840.
  • 1849Dựng thành đại tự, đặt tên Vĩnh Trường
    Hòa thượng Thích Huệ Đăng, từ chùa Giác Lâm ở Gia Định về, dựng ngôi am thành đại tự và đặt tên chữ. Đây là mốc khởi dựng được dùng rộng rãi nhất.
  • 1854Đúc đại hồng chung
    Chuông đồng cao khoảng 1,2 mét, nặng chừng 150 kilogram, thân khắc ba chữ Vĩnh Trường Tự. Hiện vật xác định niên đại thuộc lớp sớm nhất còn giữ tại chùa.
  • 1904Bão lớn làm hư hại
    Một trận bão tàn phá nhiều hạng mục, khởi đầu loạt trùng tu nửa đầu thế kỷ 20. Trước đó năm 1895 đã có đợt sửa chính điện.
  • 1907Trùng tu sau bão
    Đợt sửa lớn hoàn thành. Người chủ trì được gọi là Hòa thượng Chánh Hậu hay Trà Chánh Hậu; một bản khảo cứu ghi công cho Hòa thượng Quảng Ân.
  • 1930Đại trùng tu thời Hòa thượng Minh Đàn
    Tu bổ toàn diện, định hình dáng vóc hiện nay với hệ cửa vòm, lan can và hoa văn trang trí. Tên vị hòa thượng được ghi là Minh Đàn hoặc Minh Đằng.
  • 1933Hoàn thành hai cổng tam quan
    Hai cổng Phương Tiện và Tịnh Độ, do thợ xứ Huế làm, mặt cổng ghép mảnh sành sứ. Kinh phí do Huỳnh Tri Phú và Lý Văn Quang cúng dựng.
  • 1984Di tích quốc gia
    Xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Một số tài liệu nhà chùa nêu thêm mốc 1989 với danh nghĩa di tích kiến trúc nghệ thuật.
Theo sử liệu

Xin nói thẳng ba chỗ nguồn ghi vênh nhau. Năm dựng đại tự: bảng dữ liệu của thư viện và phần lớn tài liệu ghi năm 1849, một bản khảo cứu nhà chùa ghi là hoàn thành năm Tự Đức thứ hai tức 1849; trong khi một bài báo năm 2025 ghi mốc này là năm 1894. Chênh nhau bốn mươi lăm năm và chúng tôi ghi cả hai. Năm làm cổng tam quan: nguồn ghi 1933, nguồn ghi 1930; có thể một mốc là năm khởi công và một mốc là năm hoàn thành, nhưng chưa tài liệu nào nói dứt điểm. Năm tạc bộ Thập Bát La Hán: có bản ghi 1907, có bản ghi khoảng 1909 tới 1910, có bản chỉ ghi đầu thế kỷ 20; điều các nguồn thống nhất là bộ tượng cùng lớp thời gian với đợt trùng tu sau bão.

Năm Lớp Nhà Và Lối Kiến Trúc Pha Trộn

Khuôn viên rộng chừng 14.000 mét vuông. Khu thờ tự chính dài khoảng 70 mét, rộng 20 mét, dựng bằng xi măng và gỗ quý, bên trong có 178 cột. Mặt bằng xếp theo hình chữ Quốc, tức các dãy nhà quây thành một khung vuông kín; trong khung ấy là các lớp nhà nối tiếp theo trục dọc, các nguồn ghi bốn gian nối tiếp và năm lớp nhà.

Hai cổng tam quan ghép sành sứ

Hai cổng mang tên Phương TiệnTịnh Độ, hoàn thành trong đợt tu bổ đầu thập niên 1930 do thợ xứ Huế làm. Kỹ thuật ở đây là ghép mảnh sành sứ, tức lấy mảnh bát đĩa vỡ gắn lên mặt vữa để tạo hình, nghề mà thợ Huế đã làm quen trên lăng tẩm miền Trung rồi mang xuống Nam Bộ. Đề tài gồm tứ linh, tứ quý, hoa lá mây trời và các tích nhà Phật. Điểm đáng nói là mảnh sành không cắt vuông vắn rồi xếp như gạch men, mà chọn theo màu và độ cong của mảnh vỡ, nên mỗi khoảng tranh chỉ làm được một lần.

Các lớp nghề chồng lên nhau

Vĩnh Tràng thường được nhắc như ngôi chùa pha trộn nhiều nguồn kiến trúc, và đây là chỗ cần nói rõ vì các nguồn kể tên không giống nhau: có bản ghi pha trộn Á Âu gồm Pháp, La Mã, Thái, Miên và Chàm, có bản chỉ nói giao thoa Đông Tây, có bản nhấn vào ba lớp Việt, Hoa và Pháp. Cách chắc chắn hơn là xem từng chi tiết rồi nói nó thuộc lớp nghề nào.

Lớp Việt

Bộ khung gỗ, mái lợp ngói, trục thờ dọc từ tiền đường vào chính điện rồi ra nhà tổ, cùng nghề chạm gỗ Nam Bộ trong bảy bộ bao lam, nổi bật là bao lam Bát tiên kỵ thú.

Lớp Hoa

Hoành phi, liễn đối chữ Hán treo kín chính điện, mô típ rồng phượng và La Hán trên bao lam, khám thờ nhiều tầng. Lớp này vào Nam Bộ theo cộng đồng người Hoa và theo hệ chữ nghĩa của chùa Bắc Tông.

Lớp Pháp và phương tây

Hệ cửa vòm cuốn, mái vòm được ví với lối La Mã, lan can và bông sắt, hoa văn mà các bản khảo cứu gọi là kiểu Phục Hưng hoặc Art Nouveau, cùng gạch men nhập.

Lớp Khmer

Các bản khảo cứu chỉ vào cụm tháp nhỏ dựng hai bên, dáng thu dần theo tầng, và ví với tháp Angkor. Mỹ Tho nằm sát địa bàn cư trú của người Khmer đồng bằng nên lối tạo hình này không xa lạ.

Lớp được gọi là Chàm

Nhiều bản kể liệt kê thêm nét Chàm, tức Chăm, thường chỉ vào khối tháp vuông thu tầng và các đường gờ ngang trên thân tháp. Đây là nhận xét về hình khối do tài liệu đưa ra, không phải dấu vết một công trình Chăm trên đất này.

Hệ tượng

Trên sáu mươi pho bằng đồng, gỗ, đất nung và xi măng, phần lớn thếp vàng; trong đó có bộ Tam Tôn đồng cao 93 centimet và bộ Thập Bát La Hán gỗ mít cao khoảng 0,8 mét mỗi vị.

Bộ Thập Bát La Hán gỗ mít đáng nói riêng. Mười tám vị tạc trong thế cưỡi trên lưng mãnh thú, tay bắt các ấn quyết khác nhau, mỗi pho một dáng chứ không lặp lại. Giới nghiên cứu coi bộ này là một mốc của nghề tạc tượng tròn ở đồng bằng sông Cửu Long, tức tượng đứng độc lập và xem được từ mọi phía, khác với tượng đắp dựa vào vách.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên phải đọc là thế giồng. Vùng Mỹ Tho nằm trên châu thổ hạ lưu sông Tiền, đất thấp và bằng, nước lên xuống theo con triều. Muốn dựng một công trình nặng ở đây thì phải chọn giồng, tức dải đất cát pha nổi cao hơn ruộng chung quanh, khô chân và không ngập. Phép xem đất đồng bằng gọi những dải nổi ấy là chỗ đất có mạch: nơi không có núi thì gò cao thay vai núi. Ngôi am đầu tiên dựng trên dải đất ấy, mọi lớp xây cất về sau chỉ chồng thêm lên cùng một chỗ.

Thứ hai là nước. Cả vùng thuộc thế Thủy Thổ tương giao: sông Tiền và hệ rạch dày đặc là Thủy, dải giồng và lớp phù sa là Thổ. Theo phép cũ, Thủy dẫn khí còn Thổ giữ khí, hai hành gặp nhau thì sinh; mà chỗ ấy chính là đất vườn, và Mỹ Tho là đất vườn lâu đời. Chùa không nằm sát mép sông lớn mà lùi vào trong vùng vườn, đủ xa để tránh lở bờ và tránh gió sông đánh trực diện, đọc theo lối cũ là thế gần nước mà không kề nước.

Thứ ba là mặt bằng chữ Quốccái cổng. Các dãy nhà quây kín bốn phía làm thành thế tàng phong tụ khí, tức chắn gió mà giữ khí, thế được sách địa lý cổ coi là vững nhất cho nơi cần yên; ở vùng nóng và mưa nhiều thì cách quây ấy còn che mưa tạt ngang và giữ bóng mát cho sân trong, nên phép phong thủy và nhu cầu khí hậu đòi cùng một hình dạng. Khoảng sân trước chính điện đóng vai trò minh đường, chỗ khí dừng một nhịp; còn hai cổng tam quan nặng và cao thì làm việc của một tấm bình phong, chặn cho khí không xổ thẳng từ đường vào chỗ thờ. Trong nhà ở cổ truyền Nam Bộ, vai trò ấy do bình phong trước cửa đảm nhiệm; ở đây cái cổng làm thay.

Cuối cùng là lớp nghĩa của sự pha trộn. Phép cũ chuộng thế tương sinh, các thành phần nuôi nhau chứ không chống nhau, mà một công trình gom nhiều lối nghề vào một khuôn tường thì dễ thành chỗ này lấn chỗ kia. Ở Vĩnh Tràng các lớp ấy xếp theo thứ bậc: khung gỗ và trục thờ của người Việt làm nền, mô típ Hoa làm lớp trang trí trong chính điện, vòm cuốn và bông sắt làm lớp vỏ ngoài, các cụm tháp làm điểm nhấn ở rìa. Đọc theo con mắt cũ thì đó là chủ khách phân minh.

Lễ Tiết Trong Năm

Là chùa Bắc Tông và là tổ đình, Vĩnh Tràng giữ hai loại lễ: các ngày lễ Phật chung của Bắc Tông, tính theo âm lịch và cố định; và húy kỵ chư tổ, tức ngày giỗ các vị trụ trì đã viên tịch, do nhà chùa định theo long vị đặt ở nhà tổ.

Bảng chỉ ghi các mốc cố định theo âm lịch; ngày húy kỵ chư tổ do nhà chùa định. Nguồn: Lệ lễ tiết chung của chùa Phật Giáo Bắc Tông và tư liệu về hệ truyền thừa của chùa Vĩnh Tràng..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Rằm tháng GiêngLễ Thượng NguyênKỳ rằm lớn đầu tiên của năm, có tụng kinh cầu an. Quãng đầu tháng Giêng cũng là lúc đông người.
Mùng 8 tháng HaiLễ Phật xuất giaNgày Đức Thích Ca rời hoàng cung đi tu theo lịch Bắc Tông.
Rằm tháng TưLễ Phật ĐảnNgày sinh của Đức Thích Ca, lễ trọng nhất trong năm của một ngôi chùa Bắc Tông.
Rằm tháng BảyLễ Vu LanLễ báo hiếu và cầu siêu, đi liền lễ Trung Nguyên. Kỳ lễ thứ hai đông người trong năm.
Mùng 8 tháng ChạpLễ Phật thành đạoNgày Đức Thích Ca thành đạo, khép lại vòng lễ Phật trong năm.
Theo long vị nhà tổHúy kỵ chư tổGiỗ các vị trụ trì đã viên tịch, trong đó có vị khai sơn đại tự. Ngày cụ thể do nhà chùa định.

Ngoài các mốc trên, chùa giữ lệ tụng kinh và dâng hương vào mùng một và ngày rằm hằng tháng. Với một tổ đình, ngày húy kỵ tổ là dịp các chùa cùng dòng truyền thừa về tụ, còn hai kỳ Phật Đản và Vu Lan thì đông khách thập phương. Cũng xin nói rằng nhà tổ và chính điện khác bậc nhau: ban Phật là chỗ thờ theo giáo nghĩa, nhà tổ là chỗ tưởng niệm người đã truyền và giữ đạo, nên luôn đặt phía sau.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 60 đường Nguyễn Trung Trực, ấp Mỹ An, phường Mỹ Phong, Đồng Tháp
Đường tới
Chùa nằm ở phường Mỹ Phong, tỉnh Đồng Tháp, thuộc địa bàn thành phố Mỹ Tho cũ, cách trung tâm Mỹ Tho chừng ba cây số về phía đông bắc. Đường vào là đường nhỏ hai bên vườn cây.
Toạ độ
10.3697, 106.3739
Khi tới nơi

Đây là chùa đang có tăng chúng tu học, nên lệ nhà chùa là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và bỏ giày khi vào chính điện theo chỉ dẫn tại chỗ, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào bộ tượng gỗ Thập Bát La Hán, các bao lam chạm và mặt cổng ghép sành sứ vì lớp mảnh sành dễ bong. Nhang và lễ vật xin gửi đúng chỗ người trông coi chỉ. Hai kỳ Phật Đản và Vu Lan, sân trước dành cho nghi thức, xin giữ khoảng trống.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Vĩnh Tràng thờ ai

Đây là chùa Phật Giáo Bắc Tông, chính điện thờ Phật theo trục dọc quen của Bắc Tông, với bộ Tam Tôn và Đức Thích Ca ở giữa, hai bên phối thờ các vị Bồ Tát, ngoài là hộ pháp và bộ Thập Bát La Hán. Phía sau chính điện có nhà tổ đặt long vị các vị trụ trì đã viên tịch.

Chùa Vĩnh Tràng xây năm nào

Ngôi am đầu tiên do tri huyện Bùi Công Đạt dựng ở đầu thế kỷ 19, có bản khảo cứu nêu năm 1840. Năm 1849 Hòa thượng Thích Huệ Đăng dựng lại thành đại tự và đặt tên Vĩnh Trường; riêng một bài báo gần đây ghi mốc này là năm 1894, nên hai con số vênh nhau và chúng tôi ghi cả hai.

Vì sao gọi là Vĩnh Tràng mà trên chuông lại khắc Vĩnh Trường

Vì Tràng là âm đọc của chữ Trường theo lối phát âm Nam Bộ. Tên chữ đặt năm 1849 là Vĩnh Trường, lấy từ câu đối có nghĩa còn mãi cùng núi sông và bền lâu ngang trời đất; tên dân gian Vĩnh Tràng dùng lâu thành tên chính thức hôm nay. Trước cả hai tên ấy dân vùng còn gọi là chùa Ông Huyện.

Chùa Vĩnh Tràng pha trộn những lối kiến trúc nào

Các nguồn kể tên không giống nhau, có bản ghi Pháp, La Mã, Thái, Miên và Chàm, có bản chỉ nói giao thoa Đông Tây. Xem theo từng chi tiết thì thấy rõ bộ khung gỗ và trục thờ của người Việt, hoành phi liễn đối và mô típ của người Hoa, cửa vòm cùng bông sắt và gạch men của lớp phương tây, và các cụm tháp thu tầng được ví với tháp Khmer.

Cổng tam quan chùa Vĩnh Tràng làm năm nào

Hai cổng mang tên Phương Tiện và Tịnh Độ, do thợ xứ Huế làm, mặt cổng ghép mảnh sành sứ thành hình tứ linh, hoa lá và các tích nhà Phật. Nguồn ghi năm hoàn thành là 1933, một bản khảo cứu khác ghi 1930 cùng đợt đại trùng tu, hai mốc vênh nhau nên chúng tôi ghi cả hai.

Đọc Tiếp