Từ ngã ba đường dưới chân núi Sam, quý vị thấy trước mắt một dãy mái ngói cong thấp, và nhô lên trên dãy mái ấy là ba khối tháp tròn quét vàng, đỉnh thu lại thành hình củ hành. Mặt tiền mở ba vòm cửa uốn cung, không phải kiểu cửa gỗ chấn song của chùa Bắc Bộ. Hai bên bậc lên có hai con voi đắp nổi, một trắng một đen.
Bước qua ba vòm cửa thì mọi thứ trở lại quen mắt. Bên trong là chánh điện bày theo lối thờ tự nhà thiền, hoành phi câu đối chữ Hán treo kín các gian, trên các bệ là hàng trăm pho tượng gỗ chạm trổ kỹ lưỡng. Cái vỏ ngoài mang dáng phương Nam Á, còn cái ruột trong vẫn là một ngôi chùa của người Việt ở đất Châu Đốc.

壹Tên Gọi Và Dòng Thiền Lâm Tế
Tên Tây An được các tài liệu Phật học giải là ý trấn an bờ cõi phía tây của đất nước, đặt cho một ngôi chùa dựng sát biên giới tây nam. Người đặt tên là Doãn Uẩn, khi ấy giữ chức Tổng đốc An Hà, tức quan đầu tỉnh của hai tỉnh An Giang và Hà Tiên dưới triều Nguyễn. Về sau tấm biển trước chùa đổi từ Tây An tự thành Tây An cổ tự, chữ cổ thêm vào để phân biệt ngôi chùa gốc ở núi Sam với một ngôi chùa khác cùng tên trong vùng.
Chữ Hán 西安古寺 ghi ở đầu bài là chữ chúng tôi phiên theo nghĩa bốn chữ Tây An cổ tự, không phải chữ chép từ một tấm hoành phi cụ thể nào tại chùa.
Chùa Tây An thuộc Phật Giáo Bắc Tông của người Kinh, và trong Bắc Tông thì thuộc dòng thiền Lâm Tế, một trong năm nhà lớn của Thiền Tông Trung Hoa, truyền vào Nam Bộ theo các vị tăng từ miền Trung xuống; nhánh phổ biến nhất ở đất Gia Định là nhánh Lâm Tế Gia Phổ. Dòng này lấy tham thiền làm gốc, nhưng ở Nam Bộ thì trong sinh hoạt hằng ngày kết hợp rất đậm với pháp môn niệm Phật, nên chánh điện vẫn thờ Phật A Di Đà và vẫn có khóa tụng niệm đều đặn. Điều này cần nói trước, vì khu núi Sam có cả nơi thờ nữ thần đất đai và nơi thờ nhân thần đứng cạnh nhau; chùa Tây An là nơi duy nhất trong cụm ấy thuộc hẳn về nhà chùa, có tăng chúng và có hệ truyền thừa theo bài kệ của dòng phái.
Theo tài liệu của Giác Ngộ và của Đạo Phật Ngày Nay, vị trụ trì đầu tiên là Tăng cang Tiên Giác Hải Tịnh, giữ chùa từ 1847 tới 1875. Vị này là một nhân vật lớn của dòng Lâm Tế ở Nam Bộ, từng giữ chức tăng cang, tức chức tăng quan do triều Nguyễn đặt để trông coi việc chùa. Kế tiếp là Thiền sư Minh Khiêm Hoằng Ân, giữ chùa từ 1875 tới 1893, rồi lần lượt các vị Huệ Quang, Thuần Hậu, Thiện Pháp, Bửu Thọ, Huệ Châu, Thiện Ngọc, Huệ Kỉnh. Chuỗi truyền thừa liên tục ấy là lý do người trong vùng coi chùa Tây An như một ngôi tổ đình của dòng Lâm Tế ở miền biên viễn phía tây. Cũng xin nói thẳng chỗ vênh: một số trang ghi vị trụ trì đầu tiên tên là Pháp Tang, thế danh Nguyễn Văn Giác, sinh 1788 mất 1875; trang khác ghi người trùng tu năm 1861 là Hòa thượng Nhất Thừa thay vì Hòa thượng Minh Khiêm. Chúng tôi chưa tra được tài liệu chốt dứt điểm nên ghi lại cả các cách chép.
Một lớp nhân vật khác gắn với chùa là Đoàn Minh Huyên, sinh năm 1807 tại làng Tòng Sơn, mất ngày mười hai tháng Tám năm Bính Thìn, tức năm 1856, người khai sáng Bửu Sơn Kỳ Hương, một dòng tôn giáo bản địa của miền Tây Nam Bộ lấy thuyết Tứ Ân làm cốt. Ông về núi Sam trú tại ngôi chùa do dòng Lâm Tế lập ra ở đây, mang đạo hiệu Pháp Tạng, và từ chỗ ấy mà có danh hiệu Phật Thầy Tây An, tức lấy tên chùa làm hiệu. Mộ ông nằm phía sau chùa, trùng tu năm 1936.
Chỗ hay lẫn nhất ở khu núi Sam là lẫn chùa Tây An với miếu Bà Chúa Xứ. Hai nơi cách nhau vài trăm mét, cùng nằm dưới chân núi, cùng đông người vào mùa hành hương, và nhiều người đi một buổi cả hai nơi rồi về nhớ thành một. Xin nói rõ bằng giọng sử liệu: đây là hai cơ sở thờ tự khác nhau, khác cả về đối tượng thờ lẫn lối thờ. Chùa Tây An là một ngôi chùa Phật Giáo Bắc Tông thuộc dòng thiền Lâm Tế, có tăng chúng và trụ trì, chánh điện thờ Phật, lễ lớn tính theo lịch nhà Phật. Miếu Bà Chúa Xứ là một ngôi miếu thờ nữ thần đất đai thuộc lớp tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, không có tăng chúng, lễ lớn là lễ Vía Bà tháng Tư âm lịch; miếu Bà đã có trang riêng trong thư viện này.
Chỗ lẫn thứ hai là lẫn tên chùa: trong vùng còn một ngôi chùa nữa cũng mang tên Tây An, và đó là lý do tấm biển ở núi Sam được ghi thêm chữ cổ.
貳Niên Đại Và Các Lần Trùng Tu
Niên đại khởi dựng là chỗ nguồn vênh nhau rõ nhất, nên xin trình bày cả hai cách chép. Cách thứ nhất, được tài liệu Phật học và báo chí An Giang dùng, đặt việc dựng chùa vào năm Thiệu Trị thứ bảy, tức 1847, do Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn lập tại thôn Vĩnh Tế, huyện Tây Xuyên. Cách thứ hai, thấy trên nhiều trang phổ thông, ghi chùa có từ năm 1820 dưới triều Minh Mạng, do một vị quan dựng theo lời nguyện, rồi tới 1847 mới xây kiên cố. Hai cách ấy không hẳn loại trừ nhau, nhưng chưa có văn bản gốc nào chốt dứt điểm, nên ghi cả hai.
- 1820Lớp chùa đầu theo nguồn phổ thôngNhiều tài liệu phổ thông ghi ngôi chùa có từ năm này, đời Minh Mạng. Con số này không thấy trong các tài liệu Phật học chép về chùa.
- 1847Doãn Uẩn dựng chùa Tây AnNăm Thiệu Trị thứ bảy. Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn lập chùa tại thôn Vĩnh Tế, huyện Tây Xuyên, tường gạch, cột gỗ quý, nền đá xanh. Cùng năm, Tăng cang Tiên Giác Hải Tịnh về trụ trì.
- 1856Phật Thầy Tây An viên tịchĐoàn Minh Huyên, đạo hiệu Pháp Tạng, người khai sáng Bửu Sơn Kỳ Hương, mất ngày mười hai tháng Tám âm lịch. Mộ đặt phía sau chùa.
- 1861Đại trùng tu chánh điện và hậu tổĐợt sửa lớn đầu tiên. Tài liệu Phật học ghi việc này thuộc Hòa thượng Minh Khiêm, một nguồn khác ghi thuộc Hòa thượng Nhất Thừa.
- 1958Dựng ba ngôi cổ lầuHòa thượng Thích Bửu Thọ vận động đại trùng tu, dựng ba ngôi cổ lầu mái vòm tròn và làm lại mặt tiền cùng chánh điện. Diện mạo hôm nay bắt đầu từ lần này.
- 1980Di tích quốc giaNgày 10 tháng 7, Bộ Văn hóa xếp hạng chùa là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, trong cùng đợt với cụm di tích núi Sam.
- Từ 1993Các đợt tu bổ tiếp nốiNhiều hạng mục trong khuôn viên được tu bổ dần, gồm khu mộ tháp, nhà tăng và các lối đi trong vườn chùa.
Cần phân biệt hai lớp niên đại khi đọc về chùa này. Lớp thứ nhất là niên đại lập chùa, thuộc nửa đầu thế kỷ 19, và ở lớp ấy tư liệu văn bản mỏng, nguồn ghi vênh nhau như đã nói. Lớp thứ hai là niên đại của khối kiến trúc đang đứng trên mặt đất, và lớp này thì rõ: ba ngôi cổ lầu cùng mặt tiền mà ai đến cũng chụp ảnh đều thuộc đợt trùng tu năm 1958. Cái nhìn có vẻ xưa nhất ở đây lại là phần mới nhất; phần xưa thật nằm trong các pho tượng gỗ và các tấm hoành phi câu đối.
參Ba Ngôi Cổ Lầu Và Hệ Tượng Gỗ
Chùa dàn theo lối chữ tam, tức ba khối nhà xếp song song, chánh điện ở giữa, khu mộ tháp và các dãy nhà tăng ở hai bên. Khuôn viên rộng trên 15.000 mét vuông, thoải theo chân núi.
Ba khối tháp quét vàng, đỉnh thu tròn thành hình củ hành, khối giữa cao hơn hai khối bên. Đây là phần mang dáng kiến trúc Ấn Độ rõ nhất, dựng năm 1958; hai khối bên làm gác chuông và gác trống.
Mặt tiền mở ba cửa uốn thành vòm cung thay cho hệ cửa gỗ chấn song quen thấy ở chùa Việt. Chính ba vòm cửa này khiến người đứng ngoài nhận ra ngay lối pha trộn của ngôi chùa.
Khối giữa, mái cong hai lớp lợp ngói đại ống, loại ngói nửa ống dùng nhiều ở Nam Bộ, chứ không lợp ngói mũi hài. Bên trong bày theo lối nhà thiền Bắc Tông, trung tâm là Phật A Di Đà.
Tài liệu Phật học ghi khoảng 150 pho tượng, đa số bằng danh mộc, thuộc lớp nghệ thuật tạc tượng Nam Bộ thế kỷ 19. Báo An Giang ghi khoảng 200 pho; một số trang du lịch ghi trên 11.270, lệch rất xa các nguồn còn lại.
Nhiều tấm hoành phi và nhiều đôi câu đối chữ Hán chạm trổ tinh vi treo trong chánh điện và hậu tổ, giữ được chữ nghĩa của các đời trụ trì.
Hai con voi đắp trước bậc lên, một trắng một đen, theo nguồn là voi trắng sáu ngà và voi đen hai ngà. Phía sau chùa là khu mộ tháp các đời trụ trì, cùng mộ Phật Thầy Tây An.
Về cách gọi lối kiến trúc này, các nguồn không dùng chung một chữ. Tài liệu Phật học ghi chùa kết hợp phong cách Ấn Độ, Khmer và Việt; báo An Giang ghi là kết hợp Ấn Độ, Hồi Giáo và lối Nam Bộ truyền thống; Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập chùa là ngôi chùa đầu tiên ở nước ta kết hợp nghệ thuật Ấn Độ với kiến trúc cổ của dân tộc. Ba cách gọi ấy cùng chỉ một sự việc: mái vòm tròn và cửa vòm cung là vốn của vùng Nam Á, còn bộ khung gỗ, hệ mái cong và cách bày ban thờ là vốn của chùa Việt.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đầu tiên đáng nói là núi. Cả vùng Châu Đốc là đồng bằng phù sa thấp và phẳng, ruộng nối ruộng tới tận chân trời, thế mà giữa đồng lại nhô lên một khối núi đơn độc là núi Sam. Trong phép xem đất, một khối núi nổi lên giữa đồng bằng được đọc là độc sơn, và một thế đất như thế lập tức trở thành tâm của cả vùng. Việc cả một cụm thờ tự tụ lại dưới chân núi này, gồm ngôi chùa, ngôi miếu và ngôi lăng, không phải chuyện tình cờ.
Chùa nằm ở chân núi, chỗ ngã ba đường, tức không ở trên đỉnh và cũng không ở ngoài đồng. Đọc theo lối cũ, đây là chỗ tọa sơn, lưng tựa khối núi làm hậu chẩm, mặt mở ra đồng ruộng làm minh đường. Vùng châu thổ hiếm khi có được thế này, vì phần lớn chùa miền Tây không có núi nào để tựa. Xét theo ngũ hành, thế đất ở đây là Thổ tựa và Thủy bao: khối núi đá là Thổ, chung quanh là nước ruộng, nước rạch và dòng kênh Vĩnh Tế chạy phía bắc. Thổ được Thủy bao thì khí không tán ra bốn phía mà tụ quanh chân núi. Người xưa chọn chân núi chứ không chọn đỉnh cũng theo lẽ ấy.
Về hướng, mặt chùa mở ra phía đường và phía đồng, lưng dựa núi. Một ngôi chùa mở mặt ra ngã ba đường đọc được theo hai chiều: chiều đón, vì ngã ba là chỗ người qua lại tụ về, và chiều trấn, vì ngã ba cũng là chỗ khí đi thẳng và đi gấp nên phải có công trình đủ nặng đứng chắn. Ba khối tháp tròn xây đặc ở mặt tiền làm đúng việc của một bức bình phong dựng đứng.
Cuối cùng là vai trò trong cụm núi Sam. Chùa Tây An thờ Phật, miếu Bà thờ vị nữ thần làm chủ đất, lăng Thoại Ngọc Hầu thờ người có công mở đất. Đọc cả ba cùng lúc theo lối cổ truyền thì thấy đủ ba tầng mà người Việt vẫn quen dựng khi tới một vùng đất mới: một tầng cho đạo, một tầng cho thần đất, một tầng cho người khai khẩn.
伍Lễ Và Ngày Lễ
Là một ngôi chùa Bắc Tông, chùa Tây An giữ lịch lễ của nhà chùa, tính theo âm lịch. Ngoài các ngày lễ chung ấy, chùa có một ngày riêng là ngày giỗ Phật Thầy Tây An.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng nguyên | Khóa lễ đầu năm của nhà chùa, tụng kinh cầu an; đông người nhất trong các ngày rằm. |
| Mùng 8 và rằm tháng Tư | Lễ Phật Đản | Lễ kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh, lễ trọng nhất trong năm theo lịch nhà Phật. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu Lan | Lễ cầu siêu và báo hiếu, kết thúc ba tháng an cư của tăng chúng. |
| Ngày 12 tháng Tám | Giỗ Phật Thầy Tây An | Ngày mất của Đoàn Minh Huyên, đạo hiệu Pháp Tạng. Lễ diễn ra tại khu mộ phía sau chùa. |
| Rằm tháng Mười | Lễ Hạ nguyên | Khóa lễ cuối trong ba lễ nguyên của năm, tụng kinh tạ ơn sau vụ mùa. |
Thêm một điều về nhịp người: chùa nằm trong cụm núi Sam, mà cụm ấy có mùa hành hương rất mạnh vào tháng Tư âm lịch, khi miếu Bà Chúa Xứ mở lễ Vía Bà. Muốn xem kỹ hệ tượng gỗ và các tấm hoành phi thì nên chọn ngày ngoài mùa ấy.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Chân núi Sam, phường Vĩnh Tế, An Giang
- Đường tới
- Chùa nằm ở ngã ba đường dưới chân núi Sam, phường Vĩnh Tế, An Giang, thuộc thành phố Châu Đốc cũ. Từ đây đi bộ được sang miếu Bà Chúa Xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu và chùa Hang trong cùng cụm di tích núi Sam.
- Toạ độ
- 10.6828, 105.0906
Đây là ngôi chùa đang có tăng chúng tu học, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và hậu tổ, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào các pho tượng gỗ và các tấm hoành phi câu đối, đặt tiền vào hòm công đức chứ không gài lên tượng. Khu mộ tháp phía sau và mộ Phật Thầy Tây An là chỗ thờ tự, xin đi vòng theo lối đã mở, không trèo lên bệ tháp. Việc chụp ảnh trong chánh điện tùy lệ từng lúc, hỏi trước là chắc.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Tây An thờ ai
Chánh điện thờ Phật, trung tâm là Phật A Di Đà, chung quanh có Bồ Tát, La Hán và Bát bộ Kim Cang, theo lối thờ tự của Phật Giáo Bắc Tông dòng thiền Lâm Tế. Phía sau chùa có mộ Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên, người khai sáng Bửu Sơn Kỳ Hương.
Chùa Tây An và miếu Bà Chúa Xứ có phải một nơi không
Không, đây là hai nơi khác nhau trong cùng khu núi Sam, cách nhau vài trăm mét. Chùa Tây An là chùa Phật Giáo Bắc Tông có tăng chúng và trụ trì. Miếu Bà Chúa Xứ là miếu thờ nữ thần đất đai thuộc tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, lễ lớn là lễ Vía Bà tháng Tư âm lịch.
Chùa Tây An xây năm nào
Nguồn vênh nhau. Tài liệu Phật học và báo An Giang ghi chùa do Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn lập năm 1847, đời Thiệu Trị. Nhiều trang phổ thông ghi chùa có từ năm 1820 đời Minh Mạng rồi tới 1847 mới xây kiên cố. Ba ngôi cổ lầu và mặt tiền hiện nay thuộc đợt trùng tu năm 1958.
Vì sao chùa Tây An có mái vòm kiểu Ấn Độ
Ba ngôi cổ lầu mái vòm tròn và ba vòm cửa mặt tiền là phần dựng trong đợt đại trùng tu năm 1958 do Hòa thượng Thích Bửu Thọ vận động. Các nguồn gọi lối này khác nhau, có nguồn ghi pha Ấn Độ và Khmer, có nguồn ghi pha Ấn Độ và Hồi Giáo.
Chùa Tây An có bao nhiêu pho tượng
Nguồn ghi khác nhau. Tài liệu Phật học ghi khoảng 150 pho, đa số bằng gỗ quý, thuộc nghệ thuật tạc tượng Nam Bộ thế kỷ 19. Báo An Giang ghi khoảng 200 pho. Một số trang du lịch ghi trên 11.270, lệch rất xa các nguồn còn lại, nên chúng tôi ghi lại cả.