Đi trên đường Hải Thượng Lãn Ông giữa dãy hàng thuốc bắc, quý vị gặp một khoảng lùi bất ngờ: một khoảnh sân rộng, một cổng tam quan thấp, và phía sau là bộ mái ngói ống lợp nhiều lớp, hai đầu bờ nóc cong vút lên như hai mũi thuyền. Trong sân, cặp kỳ lân đá đứng canh đã mòn nét. Bước qua ngưỡng cửa, ánh sáng đổ xuống từ một khoảng trời để hở giữa nhà, soi vào hàng cột gỗ sơn son cao gần bảy mét.
Người quanh vùng gọi đây là chùa Ông Bổn. Nhưng tên khắc trên biển là Nhị Phủ Hội Quán, và hai chữ nhị phủ mới nói ra điều quan trọng nhất: nơi này do người Hoa gốc Phúc Kiến thuộc hai phủ Chương Châu và Tuyền Châu cùng nhau dựng lên, dù mỗi phủ về sau đều có hội quán riêng. Một ngôi miếu chung của hai nhóm là chuyện không thường gặp, và nó là chìa khóa để đọc cả công trình.
壹Tên Gọi Và Vị Thần Được Thờ
Nơi này có ba tên cùng lưu hành, mỗi tên nói một mặt của nó. Nhị Phủ Hội Quán là tên tổ chức, cho biết đây là nhà chung của hai phủ. Miếu Nhị Phủ là tên chỉ công trình. Còn chùa Ông Bổn là tên dân gian, gọi theo vị thần ngồi giữa chính điện.
Chữ phủ ở đây là đơn vị hành chính cũ của Trung Hoa, trên cấp huyện. Chương Châu và Tuyền Châu là hai phủ ven biển của tỉnh Phúc Kiến, nơi xuất phát của phần lớn người Hoa Phúc Kiến đã xuống Nam Bộ. Cần nói rõ rằng đây là cộng đồng người Hoa Phúc Kiến, nói tiếng Mân Nam, khác với người Hoa Quảng Đông lập hội quán Tuệ Thành hay người Hoa Triều Châu lập hội quán Nghĩa An, dù các nhóm ấy cùng sống trong một khu phố. Bốn chữ Hán của tên hội quán chúng tôi ghi theo dạng chuẩn của tên gọi ấy chứ không chép lại từ ảnh chụp một tấm hoành cụ thể.
Bổn Đầu Công, dân gian gọi gọn là Ông Bổn, là vị thần coi giữ đất đai và trông nom người trong vùng theo lối thờ của người Hoa Phúc Kiến. Chữ bổn nghĩa là gốc, là cái vốn có của một nơi; một vị thần mang chữ ấy là vị thần của chính mảnh đất mình đang đứng, chứ không phải vị thần chung của cả thiên hạ.
Với một cộng đồng vừa rời quê tới ở nhờ trên đất lạ, lập một vị thần coi đất là việc phải làm trước hết: nó trả lời câu hỏi thiết thân nhất của người mới tới, là ai giữ chỗ đất này. Vì vậy trong các miếu người Hoa Phúc Kiến, Ông Bổn thường ngồi ở ban chính, còn các vị khác như Quan Thánh Đế Quân hay Thần Tài thì phối thờ hai bên.
Lai lịch cụ thể của Ông Bổn là chỗ các nguồn ghi khác nhau và chúng tôi xin nói thẳng. Nhà nghiên cứu Lý Văn Hùng cho rằng vị được thờ ở đây là Châu Đạt Quan, một viên quan triều Nguyên, người soạn sách Chân Lạp phong thổ ký chép về vùng cực nam bán đảo Đông Dương hồi thế kỷ 13. Luồng khác lại coi Ông Bổn không phải nhân vật lịch sử mà là danh xưng chung cho vị Thổ Công, tức thần đất, đôi khi được đồng nhất với Phúc Đức Chính Thần.
Điều đáng lưu ý là các cách hiểu ấy cùng tồn tại trong chính cộng đồng thờ tự, không cách nào lấn hẳn được cách nào. Đó là đặc điểm thường thấy của tín ngưỡng dân gian: danh hiệu ổn định trước, còn lai lịch thì được bồi đắp về sau. Chúng tôi ghi cả các cách hiểu chứ không chọn bừa một bản.
Chỗ hay hiểu lầm ở đây là chữ chùa trong tên gọi chùa Ông Bổn. Trong tiếng Việt, chùa vốn chỉ cơ sở thờ Phật; người Việt Nam Bộ từ lâu đã dùng chữ ấy rộng ra cho cả miếu thờ thần của người Hoa. Bên trong thì không có tam bảo, không có tăng chúng trụ trì, ban chính đặt khám thờ Ông Bổn chứ không đặt tượng Phật. Gọi cho đúng thì đây là một hội quán có miếu thờ thần, thuộc tín ngưỡng dân gian Hoa pha Đạo Giáo, chứ không phải chùa Phật Giáo Bắc Tông.
Chỗ thứ hai là tưởng hội quán chỉ là nơi thờ cúng. Trên thực tế, hội quán của người Hoa là hình thức tự quản của một nhóm di cư: đón người mới sang, phân xử tranh chấp, giúp nhau khi ốm đau tang ma, lo trường lớp cho con em. Riêng nơi này còn đặc biệt ở chỗ là miếu chung của hai phủ chứ không của một phủ, nên vừa là chỗ thờ vừa là chỗ hai nhóm gặp nhau trên một nền chung.
貳Ngôi Miếu Hoa Sớm Nhất Còn Lại Ở Chợ Lớn
Không có văn bản nào ghi dứt điểm năm dựng miếu. Cái còn lại là một loạt hiện vật mang niên đại: chuông, kỳ lân đá, khám thờ, hoành phi, liễn đối. Đọc theo niên đại khắc trên chúng thì thấy công trình được bồi đắp liên tục suốt thế kỷ 19, và phần cổ nhất thì lùi sâu hơn nữa mà không xác định được.
- Đầu thế kỷ 18Khởi dựng miếuMốc bảng dữ liệu của thư viện dùng. Các nguồn khác ghi khoảng năm 1730 hoặc nửa cuối thế kỷ 18, chi tiết nêu ngay dưới đây.
- 1825Quả chuông đồngChuông đúc năm này, hiện vật có niên đại sớm vào loại nhất còn giữ tại chỗ.
- 1864Lớp hoành phi sớm nhấtCác bản khảo cứu đếm được từ hai mươi tám tới ba mươi bức hoành phi, niên đại trải từ năm này tới năm 1901.
- 1875Trùng tu và chuông gangMột đợt sửa lớn, trong đó có việc đúc thêm quả chuông bằng gang.
- 1878Cặp kỳ lân đáCặp tượng kỳ lân bằng đá đặt ở sân trước, mang niên đại năm này.
- 1894Khám thờ Ông BổnKhám gỗ sơn son thếp vàng, cao trên ba mét, đặt ở ban chính. Đây là hiện vật trung tâm của công trình.
- 1901Trùng tu lớnĐợt sửa kết thúc một chu kỳ bồi đắp kéo dài. Mười bốn cặp liễn đối chạm nổi trong miếu mang niên đại trải từ năm 1895 tới năm này.
- 1998Di tích quốc giaXếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Một đợt trùng tu lớn khác đã tiến hành trước đó, năm 1990.
Xin nói thẳng chỗ nguồn vênh nhau về niên đại khởi dựng. Bảng dữ liệu của thư viện ghi đầu thế kỷ 18. Một số bản kể nêu con số cụ thể là khoảng năm 1730. Trong khi đó, bài khảo cứu trên báo Thanh Niên thận trọng hơn, chỉ nói rằng hội quán hiện diện muộn nhất vào nửa cuối thế kỷ 18, căn cứ vào việc nó được nhắc tới trong các tác phẩm mô tả đất Gia Định. Ba cách ghi ấy chênh nhau tới nửa thế kỷ.
Điều các nguồn thống nhất là hai việc. Thứ nhất, đây là ngôi miếu của người Hoa Phúc Kiến thuộc loại sớm nhất còn lại ở khu Chợ Lớn. Thứ hai, mọi hiện vật mang niên đại xác định được đều thuộc thế kỷ 19, nghĩa là dáng vóc quý vị thấy hôm nay là kết quả của các đợt trùng tu thế kỷ ấy chứ không phải nguyên trạng lúc mới dựng.
參Bộ Khung Gỗ Và Mặt Bằng Chữ Khẩu
Khuôn viên rộng trên hai nghìn năm trăm mét vuông, dựng theo lối nhà khung gỗ, mái ngói, tường đá. Mặt bằng xếp thành hình chữ khẩu, tức bốn dãy nhà vuông góc quây lấy một khoảng sân trời ở giữa, gọi là thiên tỉnh. Trục chính từ ngoài vào là tiền điện, thiên tỉnh, chính điện, thêm một thiên tỉnh nữa rồi tới hậu điện. Lối quây kín ấy che được mưa nắng tạt ngang mà vẫn để hở đúng phần cần hở.
Điểm đáng nói nhất về nghề mộc ở đây. Công trình không dùng vì kèo như nhà gỗ Việt, mà dùng hệ đấu củng, tức các khối gỗ chồng lên nhau xòe dần ra để đỡ mái. Đây là kỹ thuật gốc của kiến trúc gỗ Trung Hoa, ở Nam Bộ không còn nhiều nơi giữ được rõ như vậy.
Cột gỗ cao tới bảy mét, sơn son đỏ, đỡ toàn bộ hệ mái. Chiều cao cột làm nên cảm giác rộng của không gian bên trong, dù mặt bằng không thật lớn.
Lợp ngói ống, diềm men xanh, bờ nóc uốn cong hai đầu theo dáng thường được ví với hình con thuyền. Trên nóc đắp mô típ lưỡng long tranh châu, cá hóa rồng cùng phù điêu nhiều màu, lối trang trí đặc trưng của miếu vũ Phúc Kiến.
Khám gỗ sơn son thếp vàng cao trên ba mét, niên đại 1894, đặt ở ban chính. Chạm nhiều lớp, là hiện vật tập trung nhất phần nghề chạm của công trình.
Hệ bao lam chạm gỗ và tấm bình phong niên đại thế kỷ 19, cùng cặp kỳ lân đá năm 1878 ở sân trước. Mô típ gồm dơi, hạc và hoa lá, đều là những hình mang nghĩa cầu phúc.
Từ hai mươi tám tới ba mươi bức hoành phi niên đại trải từ 1864 tới 1901, cùng mười bốn cặp liễn đối chạm nổi làm trong khoảng 1895 tới 1901. Chữ trên đó ghi tên người và hiệu buôn đã cúng dựng.
Sân thiên tỉnh và vai trò hội quán
Khoảng sân trời ở giữa không chỉ là giải pháp thông khí. Trong một hội quán, đây còn là chỗ cả nhóm tụ lại: chỗ bày mâm lễ vào ngày vía, chỗ người trong nhóm đứng bàn việc chung sau khi lễ xong. Mặt bằng chữ khẩu vì thế là hình thức kiến trúc hợp với một cộng đồng cần vừa thờ vừa họp.
Đây cũng là chỗ thấy rõ nhất đặc điểm của di tích này. Một ngôi miếu do một nhóm lập thì sân ấy là sân của nhóm ấy; một ngôi miếu do hai phủ cùng lập thì sân ấy là nền chung, và mọi việc bày biện trong đó đều phải cân giữa hai bên. Giới nghiên cứu coi miếu Nhị Phủ là di tích đánh dấu quá trình định cư và hội nhập của nhóm người Hoa Phúc Kiến trên đất này.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Điều đáng đọc trước nhất là mặt bằng chữ khẩu. Trong phép xem đất, một khuôn nhà quây kín bốn phía quanh một khoảng trống giữa là thế tàng phong tụ khí, tức chắn gió mà giữ khí, được coi là thế vững hơn cả cho nơi cần yên. Bốn dãy nhà làm thành bốn bức chắn, còn khoảng thiên tỉnh ở giữa là chỗ khí dồn về. Nếu công trình mở toang ra phố thì khí đi thẳng qua mà không dừng; quây lại thì khí có chỗ ở.
Thứ hai là hai khoảng thiên tỉnh trên một trục. Đọc theo hình thể, khí từ ngoài vào qua tiền điện, dừng ở sân thứ nhất, đi tiếp vào chính điện, dừng thêm một nhịp ở sân thứ hai, rồi mới lắng vào hậu điện. Mỗi khoảng sân trời làm đúng vai trò một minh đường nhỏ. Sách địa lý cổ đòi minh đường phải sáng và thoáng, mà trong khuôn đất chật giữa phố buôn bán thì thiên tỉnh là cách duy nhất làm được điều ấy.
Thứ ba là chỗ đặt miếu. Công trình nằm giữa một trục đường buôn bán lâu đời của khu Chợ Lớn, không lùi vào nơi khuất nẻo. Theo lối đọc cổ truyền, chợ là nơi tụ nhân, và chỗ người tụ thì khí cũng tụ theo; đặt miếu ngay giữa chỗ làm ăn của cộng đồng là đặt vào nơi khí và người cùng dồn về một điểm. Riêng với một vị thần coi đất như Ông Bổn thì lựa chọn ấy càng hợp, vì thần đất phải ngồi giữa đất mình coi chứ không ngồi ở rìa.
Cuối cùng là cái mái. Bờ nóc uốn cong hai đầu theo dáng thuyền là mô típ tạo hình của vùng ven biển Phúc Kiến; đọc theo phong thủy thì đường cong ấy còn một nghĩa nữa, là mái thẳng cắt gió thành luồng sắc, còn mái cong đưa gió trượt đi, mà nơi thờ tự cần khí chậm. Xin nhắc lại rằng những người dựng miếu làm việc theo truyền thống tạo hình của kiến trúc Phúc Kiến chứ không theo một cuốn sách địa lý cụ thể nào.
伍Lễ Vía Ông Bổn
Miếu có hai kỳ vía lớn trong năm, cả hai đều rơi vào ngày rằm và cả hai đều gắn với thân thế của vị thần được thờ theo cách kể của cộng đồng: rằm tháng Giêng là ngày sinh, rằm tháng Tám là ngày mất.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Vía Ông Bổn, ngày sinh | Kỳ vía lớn nhất trong năm. Lễ vật theo lệ người Hoa Phúc Kiến gồm ngũ sanh và ngũ quả, do ban quản trị hội quán đảm nhiệm. Sân thiên tỉnh là chỗ bày lễ và diễn xướng. |
| Rằm tháng Tám | Vía Ông Bổn, ngày mất | Kỳ vía thứ hai, giữ đủ phần tế và dâng hương, quy mô gọn hơn kỳ tháng Giêng. |
| Từ mùng một Tết tới rằm tháng Giêng | Lễ đầu năm | Khoảng thời gian đông người nhất. Miếu treo đèn lồng, khách tới dâng hương và thỉnh lộc đầu năm. |
| Rằm và mùng một hằng tháng | Lễ thường kỳ | Lệ dâng hương định kỳ theo lịch âm, quy mô gọn, giữ đều quanh năm. |
| Quanh năm | Việc chung của hội quán | Ngoài phần thờ tự, hội quán còn tổ chức các việc thiện và các lớp dạy tiếng cho con em trong cộng đồng. |
Một điểm đáng để ý trong nếp lễ ở đây là lệ chung của hai phủ. Vì miếu do hai nhóm cùng lập, các kỳ vía là dịp người của cả Chương Châu lẫn Tuyền Châu cùng có mặt, và việc phân công trong lễ phải cân giữa hai bên. Về sau, khi mỗi phủ đã có hội quán riêng, miếu Nhị Phủ vẫn giữ vai trò nơi hai nhóm gặp nhau.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 264 đường Hải Thượng Lãn Ông, phường Chợ Lớn, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Nằm trên đường Hải Thượng Lãn Ông thuộc phường Chợ Lớn, giữa khu hàng thuốc bắc của Chợ Lớn. Đi bộ được từ chợ Kim Biên và từ các hội quán người Hoa khác trong vùng.
- Toạ độ
- 10.7508, 106.6564
Đây là miếu thờ đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào khám thờ, bao lam chạm gỗ, hai quả chuông và cặp kỳ lân đá ngoài sân. Lễ vật và nhang xin gửi đúng chỗ người trông coi chỉ. Hai kỳ vía rằm tháng Giêng và rằm tháng Tám, sân thiên tỉnh được dùng cho việc lễ, xin giữ khoảng trống cho phần nghi thức.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Miếu Nhị Phủ thờ ai
Thờ Bổn Đầu Công, dân gian gọi là Ông Bổn, vị thần coi giữ đất đai và trông nom người trong vùng theo lối thờ của người Hoa Phúc Kiến. Khám thờ Ông Bổn bằng gỗ sơn son thếp vàng cao trên ba mét đặt ở ban chính. Hai bên phối thờ Quan Thánh Đế Quân, Phúc Đức Chính Thần và các vị khác.
Vì sao gọi là Nhị Phủ
Vì miếu do người Hoa gốc Phúc Kiến thuộc hai phủ Chương Châu và Tuyền Châu cùng nhau dựng lên. Phủ là đơn vị hành chính cũ của Trung Hoa, trên cấp huyện. Về sau mỗi phủ đều có hội quán riêng, nhưng miếu Nhị Phủ vẫn giữ vai trò nơi hai nhóm gặp nhau trên một nền chung.
Chùa Ông Bổn có phải chùa Phật không
Không. Đây là hội quán có miếu thờ thần, thuộc tín ngưỡng dân gian Hoa pha Đạo Giáo. Người Việt Nam Bộ quen dùng chữ chùa rộng ra cho cả miếu thờ thần của người Hoa. Bên trong không có tam bảo, không có tăng chúng trụ trì, ban chính đặt khám thờ Ông Bổn chứ không đặt tượng Phật.
Miếu Nhị Phủ xây năm nào
Các nguồn ghi khác nhau. Bảng dữ liệu của thư viện ghi đầu thế kỷ 18, một số bản kể nêu khoảng năm 1730, còn một bài khảo cứu thận trọng hơn chỉ nói hội quán hiện diện muộn nhất vào nửa cuối thế kỷ 18. Mọi hiện vật xác định được niên đại đều thuộc thế kỷ 19.
Lễ vía Ông Bổn vào ngày nào
Hai kỳ trong năm, đều rơi vào ngày rằm. Rằm tháng Giêng là ngày sinh của Ông Bổn theo cách kể của cộng đồng, cũng là kỳ vía lớn nhất. Rằm tháng Tám là ngày mất, quy mô gọn hơn. Lễ vật theo lệ người Hoa Phúc Kiến gồm ngũ sanh và ngũ quả.