VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Sắc tứ Khải Đoan

敕賜啟端 · Chùa Lớn, Khải Đoan Tự

Ngôi chùa cuối cùng được triều Nguyễn ban biển sắc tứ, dựng bằng tay thợ Huế trên đất bazan Buôn Ma Thuột.

Khởi công
1951
do Đoan Huy hoàng thái hậu và Phật tử hiến cúng
Ban biển sắc tứ
1953
tấm biển sắc tứ cuối cùng triều Nguyễn ban cho một ngôi chùa
Chính điện
320 m²
tầng dưới xây gạch đá, tầng trên bằng gỗ

Đứng ở sân trước, quý vị nhìn lên và thấy một mái chùa không giống mái chùa quen mắt. Nó dài, nó thấp, nó xoải ra hai bên như mái một ngôi nhà ở chứ không vươn lên với đầu đao cong vút. Nhưng bước lại gần, nhìn vào hệ cột kèo đỡ cái mái ấy, quý vị lại gặp đúng bộ khung nhà rường của thợ kinh đô Huế, từng con rường, từng cái trính, từng mảng chạm đều theo lối cũ.

Chỗ gặp nhau ấy là điều đáng xem nhất ở đây. Ngôi chùa mang tên Khải Đoan, hai chữ ghép từ tên của vua Khải Định và của Đoan Huy hoàng thái hậu. Trên cửa chính treo tấm biển bốn chữ sắc tứ, nghĩa là biển do nhà vua ban, và theo các tư liệu thì đây là tấm biển sắc tứ cuối cùng mà triều Nguyễn ban cho một ngôi chùa ở nước ta.

Chùa Sắc tứ Khải Đoan
Chùa Sắc tứ Khải Đoan. Ảnh: DXLINH, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tên Gọi Và Lệ Sắc Tứ

Tên chùa là một chữ ghép. Khải lấy từ hiệu vua Khải Định, Đoan lấy từ hiệu Đoan Huy hoàng thái hậu, tức bà Hoàng Thị Cúc, người đứng ra hiến cúng để dựng chùa. Người trong vùng còn gọi gọn là chùa Lớn, gọi theo quy mô so với các chùa quanh đó. Tên chữ đầy đủ ghi trên biển là Sắc tứ Khải Đoan tự.

Bốn chữ Hán 敕賜啟端 ghi ở đầu bài là do thư viện dựng lại từ âm Hán Việt, không phải bản chép lại từ tấm biển mà chúng tôi đã tận mắt đối chiếu. Quý vị nên coi đó là cách viết phục dựng.

Theo sử liệu

Sắc tứ là một lệ có từ lâu trong lịch sử chùa chiền nước ta. Chữ sắc là mệnh lệnh của nhà vua, chữ tứ là ban cho; hợp lại nghĩa là tấm biển do nhà vua ban. Một ngôi chùa được sắc tứ tức là được triều đình chính thức nhìn nhận, và tấm biển ấy treo ở gian giữa như một chứng thư. Trong các đời Lê và Nguyễn, việc này thường đi kèm với chỗ đứng cao hơn trong hệ thống chùa của một vùng, đôi khi kèm cả ruộng hương hỏa để nuôi chùa.

Điều làm nên chỗ riêng của Khải Đoan là niên đại. Chùa nhận biển sắc tứ năm 1953, đời Bảo Đại, và các tư liệu đều ghi đây là lần cuối cùng lệ ấy được thực hiện. Sau mốc đó không còn ngôi chùa nào ở nước ta được ban biển sắc tứ nữa, nên tấm biển ở Buôn Ma Thuột khép lại một tập tục kéo dài nhiều thế kỷ.

Theo giáo nghĩa

Về tông phái, đây là chùa Phật Giáo Bắc Tông của người Kinh, thuộc dòng thiền Lâm Tế theo mạch sơn môn Huế, nay thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Cách bài trí ban thờ và nghi thức hành lễ vì thế theo đúng lối chùa Huế: chính điện thờ Phật Thích Ca làm trung tâm, hai bên có ban thờ Bồ Tát, phía sau là nhà thờ Tổ. Đây cũng là ngôi chùa đầu tiên của một tổ chức Phật giáo có mặt tại Đắk Lắk, và từ đó lan ra thành mạng lưới chùa của cả vùng.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay hiểu lệch, xin nói bằng giọng sử liệu, không phê phán ai.

Thứ nhất, sắc tứ không có nghĩa là chùa do triều đình xây. Ngôi chùa được dựng bằng tiền hiến cúng của Đoan Huy hoàng thái hậu cùng Phật tử, và do Tổng hội Phật giáo Trung phần đứng ra coi sóc. Tấm biển sắc tứ đến sau, là sự nhìn nhận của triều đình đối với một ngôi chùa đã dựng xong, chứ không phải giấy phép để dựng.

Thứ hai, đây không phải chùa của người Ê Đê. Cách nói ấy hay gặp vì mái chính điện mang dáng nhà dài. Cần phân biệt cho rõ: nhà dài Ê Đê là nhà ở của một đại gia đình theo chế độ mẫu hệ, một công trình dân dụng chứ không phải nơi thờ tự; còn tín ngưỡng cổ truyền của người Ê Đê là hệ thờ các Yang, tức các thần, với nghi lễ và không gian riêng, không liên quan tới Phật Giáo Bắc Tông. Ở Khải Đoan, cái được mượn là hình dáng kiến trúc, do thợ Huế thực hiện trên một ngôi chùa của người Kinh. Đó là một cuộc mượn hình, không phải một cuộc hòa trộn tín ngưỡng, và ghi đúng như vậy là cách tôn trọng cả hai bên.

Bảy Mươi Năm Của Một Ngôi Chùa Cao Nguyên

Lịch sử ở đây gọn và dễ theo dõi, vì ngôi chùa mới hơn phần lớn các nơi khác trong mục Địa Điểm. Bài chỉ ghi các mốc thuộc về xây dựng, trùng tu, hiện vật và tổ chức Phật giáo.

  • 1951Khởi công
    Chùa bắt đầu được dựng trên khu đất ở trung tâm Buôn Ma Thuột, do Đoan Huy hoàng thái hậu hiến cúng cho Tổng hội Phật giáo Trung phần, thợ từ Huế vào làm. Trong năm này nhà hậu tổ và giảng đường được dựng trước.
  • 1953Dựng chính điện và hoàn thành
    Chính điện được dựng, khép lại đợt xây dựng đầu tiên. Tư liệu địa phương ghi lễ an vị và cung nghinh xá lợi Phật diễn ra ngày 29 tháng 6 năm 1953.
  • 1953Ban biển sắc tứ
    Chùa được ban biển Sắc tứ Khải Đoan, đời Bảo Đại. Các tư liệu đều ghi đây là tấm biển sắc tứ cuối cùng triều Nguyễn ban cho một ngôi chùa ở nước ta.
  • 1954Đúc đại hồng chung
    Quả chuông lớn được nghệ nhân Huế đúc vào tháng Giêng năm 1954, nặng 380 kg, cao 1,15 mét, chu vi đáy 2,7 mét, do các vị hoàng thân cúng dường.
  • 1962Cây bồ đề
    Cây bồ đề trong khuôn viên do Hòa thượng Narada, một vị tăng người Sri Lanka, tặng và trồng. Đây là hiện vật sống lâu năm nhất của chùa ngoài phần kiến trúc.
  • 1986Trụ sở Phật giáo tỉnh
    Văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh được đặt tại chùa, và từ đó Khải Đoan giữ vai trò đầu mối sinh hoạt Phật giáo của cả địa bàn.
  • 2012 tới 2016Đại trùng tu
    Đợt trùng tu lớn kéo dài từ tháng Ba âm lịch năm 2012 tới tháng Mười năm 2016, giữ lại các cấu kiện gốc và làm mới các phần đã hỏng. Nhiều hạng mục phụ hoàn thiện trong đợt này.
  • Đã xếp hạngDi tích cấp tỉnh
    Chùa được xếp hạng di tích cấp tỉnh, đúng như ô xếp hạng ghi trong bảng dữ liệu của thư viện. Các nguồn tra được đều không ghi số và ngày của quyết định xếp hạng, nên bài không nêu niên đại.
Theo sử liệu

Về diện tích khuôn viên, thoạt nhìn các nguồn có vẻ vênh nhau: tư liệu Phật giáo ghi hơn 7 mẫu 8 sào, còn báo chí ghi gần 4 hecta. Thực ra hai con số này khớp nhau, chỉ khác đơn vị: một mẫu Trung Bộ vào khoảng gần năm nghìn mét vuông, nên 7 mẫu 8 sào quy ra đúng vào khoảng 3,9 hecta. Chúng tôi nêu ra đây để quý vị khỏi tưởng là hai số liệu chọi nhau.

Nhà Rường Huế Trong Dáng Nhà Dài

Điểm đáng xem nhất của chùa nằm ở chính điện, một toà rộng 320 mét vuông chia làm hai tầng: tầng dưới xây gạch đá, tầng trên bằng gỗ và là nơi thờ tự. Nửa phía trước của toà nhà mang dáng nhà dài Tây Nguyên với mái hai tầng xoải dài, còn hệ cột kèo đỡ cả khối ấy lại theo lối nhà rường Huế. Nửa phía sau dựng theo lối xây dựng hiện đại, làm sau và không cùng lớp niên đại với phần trước.

Theo giáo nghĩa

Xin nói rõ hai lối kiến trúc được ghép ở đây, vì mỗi lối có logic riêng.

Nhà rường Huế là hệ khung gỗ chịu lực, gồm các con rường chồng lên nhau đỡ đòn tay, ăn mộng vào cột chứ không dùng đinh. Ưu điểm của nó là tháo lắp được, chịu ẩm tốt, và cho phép chạm khắc dày trên chính các cấu kiện chịu lực. Đây là lối làm nhà và làm chùa của vùng kinh đô cũ, và thợ Huế mang nguyên nó lên cao nguyên.

Nhà dài Ê Đê thì khác hẳn về mục đích: đó là ngôi nhà sàn dài của một đại gia đình mẫu hệ, cứ mỗi thế hệ con gái lập gia đình thì nhà được nối dài thêm một đoạn, cửa chính mở ở đầu hồi và lên bằng thang gỗ. Cái mà chùa Khải Đoan mượn là hình thức bên ngoài của kiểu nhà ấy: mái dài, xoải thấp, thân nhà kéo theo một trục.

Chính điện

Toà thờ chính rộng 320 mét vuông, hai tầng. Tầng dưới xây gạch đá, tầng trên bằng gỗ và là nơi thờ tự. Nửa trước mang dáng nhà dài với mái hai tầng, hệ cột kèo theo lối nhà rường Huế.

Bộ vòm tám mái

Phần mái mang dấu ấn kiến trúc cung đình Huế, tư liệu ghi là bộ vòm tám mái. Đây là chi tiết cho thấy tay thợ kinh đô rõ nhất trên phần nhìn từ xa.

Gỗ quý

Tư liệu ghi chùa dùng các loại gỗ căm xe, cà te và lim, đều là gỗ rừng nặng và bền, cùng với đá granite chạm khắc ở các phần chân tảng và bậc.

Tượng Phật Thích Ca bằng đồng

Pho tượng đặt ở giữa chính điện, cao 1,1 mét, ngồi trên toà sen bằng gỗ quý cao 0,35 mét. Đây là pho tượng trung tâm của toàn bộ khu thờ tự.

Đại hồng chung

Quả chuông do nghệ nhân Huế đúc tháng Giêng năm 1954, nặng 380 kg, cao 1,15 mét, chu vi đáy 2,7 mét, do các vị hoàng thân cúng dường.

Các hạng mục khác

Cổng tam quan, tháp Quan Âm, nhà hậu tổ, gác chuông, lầu trống và tàng kinh các, trong đó tàng kinh các là nơi giữ kinh sách của chùa.

Một điều nữa về vật liệu. Hệ khung nhà rường vốn được tính cho khí hậu miền Trung, còn Buôn Ma Thuột có mùa mưa dài và độ ẩm cao. Việc chùa chọn gỗ rừng nặng như căm xe và cà te thay cho các loại gỗ quen dùng ở Huế là một điều chỉnh theo vật liệu sẵn có tại chỗ. Đó là chỗ một ngôi chùa Huế trở thành ngôi chùa cao nguyên, không phải ở hình dáng mà ở trong lòng cấu kiện.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay tư liệu nhà chùa. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là chất đất. Buôn Ma Thuột nằm trên cao nguyên bazan, ở độ cao chừng năm trăm mét, đất đỏ và dày, giữ nước tốt. Trong ngũ hành, đây là một vùng Thổ vượng theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa của phép xem đất: cả một cao nguyên là một khối đất nổi cao hơn chung quanh, chứ không phải một gò đất lẻ giữa đồng bằng. Chùa lại nằm trên chỗ cao trong lòng thành phố, tức là chỗ cao trong một vùng vốn đã cao.

Điều thứ hai là hình thế của chính công trình. Chính điện mang dáng nhà dài, tức một khối nằm ngang, trải rộng và thấp; trong phép nhận hình thì đó là Thổ hình, hình vuông vức bè ngang, chủ về sự vững và sự chứa. Bên cạnh đó, tháp Quan Âm dựng đứng là Mộc hình, hình thẳng và cao, chủ về sự vươn. Một khối nằm và một khối đứng đặt cạnh nhau trong cùng khuôn viên là bố cục mà sách xưa coi là đủ cả tĩnh lẫn động. Cần nói ngay rằng dáng nhà dài ở đây được chọn vì lý do kiến trúc và vì đất Tây Nguyên, không phải vì ngũ hành; chúng tôi chỉ đọc lại cái hình đã có.

Điều thứ ba là cây bồ đề. Trong cách nghĩ cổ truyền, một cây cổ thụ trong khuôn viên thờ tự không chỉ là cây: nó giữ chỗ, làm dịu khí và đánh dấu tâm khu đất. Cây bồ đề trồng năm 1962 ở đây nay đã thành cổ thụ và đứng đúng vào vai ấy. Với nhà Phật thì bồ đề còn là cây mà Đức Phật ngồi dưới gốc khi thành đạo; hai lớp nghĩa chồng lên nhau ở cùng một gốc cây.

Sau cùng là hướng. Cổng tam quan mở ra đường Phan Bội Châu, khu thờ chính lùi vào trong khuôn viên. Đáng chú ý là hai lối kiến trúc ghép ở đây vốn có hai cách định hướng khác nhau: chùa Huế chuộng hướng nam theo lối cổ truyền của người Kinh, còn nhà dài Ê Đê đặt cửa chính ở đầu hồi và chạy dài theo một trục do nếp làm nhà riêng quy định. Khi hai lối gặp nhau trên một công trình, thứ quyết định sau cùng thường là mặt đường và hình thửa đất chứ không phải la bàn.

Lễ Tiết Theo Âm Lịch

Chùa theo lịch lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông Việt Nam, tính theo âm lịch, và vì là nơi đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh nên nhiều kỳ lễ ở đây mang quy mô của cả địa bàn chứ không riêng một ngôi chùa. Bài chỉ ghi những ngày cố định theo lịch ấy, không ghi giờ giấc.

Lịch lễ theo âm lịch của chùa Bắc Tông Việt Nam, áp dụng tại chùa Khải Đoan. Bài không ghi giờ giấc vì giờ thay đổi theo từng năm. Nguồn: Lịch lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông và tư liệu giới thiệu về chùa Sắc tứ Khải Đoan..
Ngày âm lịchLễNội dung
Mùng 1 và ngày rằm hằng thángLễ sám hối và tụng kinhHai kỳ đều đặn nhất trong tháng của chùa Bắc Tông, Phật tử về tụng kinh, lễ Phật và làm lễ sám hối.
Rằm tháng GiêngLễ Thượng NguyênKỳ cầu an đầu năm, một trong ba kỳ rằm lớn của năm theo nếp chùa Bắc Tông.
Rằm tháng TưĐại lễ Phật ĐảnKỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh, lễ trọng nhất trong năm. Vì chùa là trụ sở Phật giáo tỉnh nên đây là điểm tổ chức chính của cả địa bàn.
Từ rằm tháng Tư tới rằm tháng BảyMùa An Cư Kiết HạBa tháng chư tăng ni tập trung tu học tại một trú xứ theo luật nhà Phật. Khải Đoan là một điểm an cư của tỉnh, nên trong quãng này sinh hoạt trong chùa khác hẳn ngày thường.
Rằm tháng BảyLễ Vu Lan và lễ Tự TứNgày kết thúc mùa an cư, đồng thời là lễ Vu Lan báo hiếu cha mẹ, gắn với tích Bồ Tát Mục Kiền Liên cứu mẹ.
19 tháng Hai, 19 tháng Sáu, 19 tháng ChínBa ngày vía Bồ Tát Quán Thế ÂmBa ngày vía đản sinh, thành đạo và xuất gia của Bồ Tát Quán Thế Âm, có khóa lễ tại tháp Quan Âm trong khuôn viên.
Mùng 8 tháng ChạpVía Phật Thích Ca thành đạoNgày kỷ niệm Đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề, thường có khóa lễ riêng.

Ngoài các kỳ lễ trên, chùa đông người vào dịp đầu xuân, khi nhiều gia đình ở Buôn Ma Thuột và các vùng lân cận giữ lệ đi lễ chùa những ngày đầu năm.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 117 đường Phan Bội Châu, phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Đường tới
Chùa ở số 117 đường Phan Bội Châu, phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, nằm ngay trong khu trung tâm nên đi bộ tới được từ nhiều điểm quanh đó.
Toạ độ
12.6764, 108.0489
Khi tới nơi

Vài lệ của chính nơi này. Ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, giữ im lặng khi đang có thời kinh. Tầng trên của chính điện lát gỗ và là nơi thờ tự, xin quý vị bỏ giày dép theo chỉ dẫn tại chỗ, đi nhẹ vì sàn gỗ truyền tiếng. Không chạm tay vào đại hồng chung, các mảng chạm và bộ cột kèo. Không bẻ cành hay hái lá cây bồ đề. Trong ba tháng An Cư Kiết Hạ, khu tăng xá là chỗ riêng của chư tăng.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Khải Đoan tên có nghĩa là gì

Là một chữ ghép. Khải lấy từ hiệu vua Khải Định, Đoan lấy từ hiệu Đoan Huy hoàng thái hậu, tức bà Hoàng Thị Cúc, người hiến cúng để dựng chùa. Người trong vùng còn gọi gọn là chùa Lớn theo quy mô, còn tên chữ đầy đủ ghi trên biển là Sắc tứ Khải Đoan tự.

Sắc tứ nghĩa là gì

Chữ sắc là mệnh lệnh của nhà vua, chữ tứ là ban cho; sắc tứ nghĩa là tấm biển do nhà vua ban cho một ngôi chùa. Biển ấy treo ở gian giữa như một chứng thư nhìn nhận của triều đình, và trong các đời Lê, Nguyễn thường đi kèm chỗ đứng cao hơn trong hệ thống chùa của một vùng.

Vì sao nói Khải Đoan là ngôi chùa cuối cùng được sắc tứ

Vì chùa nhận biển sắc tứ năm 1953, đời Bảo Đại, và theo các tư liệu tra được thì sau mốc ấy không còn ngôi chùa nào ở nước ta được ban biển sắc tứ nữa. Tấm biển ở Buôn Ma Thuột vì thế khép lại một tập tục đã kéo dài nhiều thế kỷ.

Chùa Khải Đoan có phải chùa của người Ê Đê không

Không. Đây là chùa Phật Giáo Bắc Tông của người Kinh, theo mạch sơn môn Huế, do thợ Huế dựng. Mái chính điện chỉ mượn hình dáng nhà dài Ê Đê, vốn là nhà ở của một đại gia đình mẫu hệ chứ không phải nơi thờ tự; tín ngưỡng cổ truyền của người Ê Đê là hệ thờ các Yang, một hệ riêng biệt.

Chùa Khải Đoan xây năm nào và có gì đáng xem

Khởi công năm 1951 và hoàn thành năm 1953. Đáng xem nhất là chính điện rộng 320 mét vuông, nửa trước mang dáng nhà dài với mái hai tầng nhưng hệ cột kèo theo lối nhà rường Huế; ngoài ra có tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao 1,1 mét, đại hồng chung đúc năm 1954 nặng 380 kg và cây bồ đề trồng năm 1962.

Đọc Tiếp